tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19664797
Tiểu thuyết
05.09.2009
Hoài Anh
Mê Linh tụ nghĩa

Đại nguyên soái Hùng Chắc sai Phùng Thị Chính đi dò xét tình hình quân Tô Định. Chính cải trang làm người ăn mày đi vào đất giặc. Cô nắm biết mọi đồn sở, địa giới, đường đi lối lại, vẽ bản đồ mang về dâng nộp.


Nghe tin ở động Hoa Lư có ông Đinh Cống là người am hiểu binh thư đồ trận, Hùng Chắc sai Hùng Nhì đến mời Đinh Cống ra giúp nghĩa quân.


Nguyên Đinh Cống là con ông Hoàng Công Tạo và bà Đinh Thị Điền là người hiền mấy đời làm nghề thuốc. Họ sinh có một trai đặt tên là Cống. Năm Cống 22 tuổi thì bố mẹ kế tiếp qua đời. Cống đời Hoa Lư ra Bắc tìm đến ở với cậu ruột là Đinh Đàm làm trưởng bộ hộ Vũ Ninh. Nhưng chỉ ít lâu sau ông Đàm bị Tô Định giết hại. Đinh Cống trở về Hoa Lư dạy học. Là một người thầy có đức độ lại có tài giáo dưỡng nên môn sinh đến rất đông, tiếng tăm của thầy vang đi xa.


Khi được Hùng Nhì đến mời, Đinh Cống ra hành doanh được Nàng Chắc giao nhiệm vụ thao luyện binh mã, huấn diễn binh thư.


Được Hùng Chắc hỏi về kế hoạch xuất quân đầu tiên nên như thế nào, Đinh Cống nói:


- Hiện nay quân ta tuy đông nhưng còn là quân ô hợp, chưa được thao luyện kỹ càng, nếu xuất quân ngay thì khó chống lại với quân đã được huấn luyện của Tô Định. Như vậy trước hết ta phải làm kế nghi binh.


Hùng Chắc hỏi:


- Nghi binh như thếnào?


Đinh Cống nói:


- Binh pháp nói: “Điều cốt yếu để đánh được địch không phải chỉ dùng sức mạnh để chống, còn phải dùng thuật để lừa. Hoặc dùng cách lừa của ta mà lừa nó, hoặc nhân cách lừa của nó mà lừa nó, lừa bằng tình, lừa bằng lợi, lừa bằng vụng, lừa bằng khôn, cũng là lừa bằng sự lẫn lộn hư thực, lấy sự lừa của nó để cho nó bị lừa, nó lừa mà ta thì biết. Cho nên người giỏi việc binh lừa người mà không bị người lừa.


Theo tôi, giờ nên chọn địa thế đắp một cái đồn giả để lừa giặc, hút hết quân chủ lực của giặc tấn công vào cái đồn giả ấy, trong khi đó huy động toàn bộ lực lượng đánh thành của Tô Định. Quân chủ lực của giặc đã kéo ra ngoài thế đất giặc không chống nổi ta, phải lui vào thành cố thủ. Ta chia ra làm hai cánh, một cánh vây chặt thành, một cánh đến đánh đội quân tấn công đồn giả của ta. Giặc đánh nhằm phải đồn giả, đang hoang mang, nay thấy quân của ta kéo tới tất là vỡ chạy, ta cho quân truy kích đến cùng tiêu diệt chúng. Nếu quân chủ lực của giặc đã bị tiêu diệt, quân trong thành không được cứu viện, sớm muộn gì cũng sẽ ra hàng, hoặc tướng giặc sẽ phải mở một đường máu mà trốn ra khỏi thành, như vậy ta không cần đánh mà giặc phải tan.


Hùng Chắc khen phải, sai Khỏa Ba Sơn tới Hoa Động(1) lập đồn giả.


Khỏa Ba Sơn vốn người châu Ái, ra theo Hùng Chắc khởi nghĩa. Chàng đến Hoa Động, chọn địa điểm đắp lũy tạm. Bốn bề đều dùng gỗ to làm cột cắm ở bên ngoài, mỗi cột cao hơn 10 thước, cách nhau 1 thước, lại đặt cây ngang ở khoảng giữa cho chắc, rồi dùng cây chuối đặt bên ngoài, lớp lớp nối nhau, san sát liền nhau, cao hơn 10 thước, dày hơn 1 thước, như hình cái lũy. Lại lấy dây mây buộc lại cho chắc. Đó là lũy trong; lấy sọt tre dựng đất xếp liền nhau cao bằng cây chuối để làm lũy giữa. Lại lấy gỗ dài nhọn 10 cây xâu liền các cây chuối sít nhau như ngón tay, mỗi một cây chuối cao 11 thước 5 tấc, trừ 1 thước 5 tấc không kể, còn 10 thước thì mỗi thước xâu cây gỗ dài ấy làm hình như bức tường. Lại sai quân lính khai rãnh ở ngoài các sọt đất sâu 1 thước 5 tấc, rộng 1 thước, rồi đem những cây chuối ấy trồng xuống, như hình cái thành để làm lũy ngoài. Lại lấy đao gươm chông đanh cắm lên trên cây chuối, dùng súng gỗ, hỏa cầu, đặt liền ở trên lũy trong bằng sọt đất.


Làm như vậy chỉ trong một đêm đã xong. Chàng lại bên ngoài cắm cờ xí la liệt, ban đêm cho quân đến thắp đèn hiệu, đánh trống cầm canh để lừa địch, tảng sáng lại rút đi.


Khỏa Ba Sơn lại đến thuyết phục Diệu Tiên, nhờ bà đến báo với Tô Định nghĩa quân đã lập đồn ở Hoa Động. Bà Diệu Tiên liền đến thành Liêu Lâu xin vào yết kiến Tô Định. Tô Định biết bà là vợ của Đặng Hùng, và mẹ của Quảng Khánh, nên vội ra đón tiếp. Bà Diệu Tiên nói:


- Bẩm quan Thái thú, chồng tôi đã chết vì tay giặc, nay tôi được biết giặc mới lập đồn ở Hoa Động, vội đến báo cho quan Thái thú để ngài mang quân đến diệt giặc, trả thù cho chồng tôi.


Tô Định nghe lời, sai thám báo đến Hoa Động dò xét, thì thấy đồn trại ban ngày có cờ xí, ban đêm có đèn hiệu và trống cầm canh, lại thấy lố nhố bóng người gươm giáo giương lên tua tủa, cho rằng đó là đồn tiền tiêu của nghĩa quân, về báo lại với Tô Định.


Tô Định lại sai bà Diệu Tiên cùng đi với đội quân chủ lực kéo tới Hoa Động, đánh đồn nghĩa quân. Ban đầu chúng chưa dám mạo hiểm tấn công vì cho là trong đồn có lực lượng mạnh bảo vệ, chúng chỉ dám bao vây ở vòng ngoài. Qua mấy ngày, thấy trong đồn không có động tĩnh gì, liền mang tấn công vào đồn. Trong khi đó, bà Diệu Tiên nhân lúc chúng sơ hở trốn về báo cho Nàng Chắc biết quân số và vũ khí cũng như nội tình của giặc, để Nàng Chắc định phương án tấn công.


Khi quân địch xông vào đồn, tìm kiếm khắp chốn, chỉ thấy trong đồn có những bù nhìn rơm, trên mình cắm đầy gươm giáo, mới biết là một đồn giả. Đang hoang mang chưa biết tiến lui thế nào thì bị một đội nghĩa quân do Đề Nương chỉ huy ào tới tấn công ráo riết. Giặc hốt hoảng bỏ chạy, bị nghĩa quân đuổi theo chém giết, xác giặc phơi đầy đường, cuối cùng giặc bị tiêu diệt gọn không sót một tên về báo với Tô Định.


Trong khi đó đại quân của Nàng Chắc, Nàng Nhì dẫn đầu xuất kỳ bất ý đến đánh thành Liên Lâu của Tô Định.


Muốn đi được nhanh chóng không mất thì giờ dừng lại dọc đường nấu cơm ăn, nghĩa quân dùng cách nấu cơm ở đầu ngựa. Trước sai lính kỵ mà 800 người làm sẵn 300 đoạn ống tre tươi lớn. Mỗi đoạn dài từ 3 đốt, đốt thứ nhất làm có miệng, để hoàn toàn, đốt dưới đẽo nhỏ cho tiện cầm; lấy gạo nước do đốt trên đổ vào ống tre, lấy gỗ nút miệng lại. Dùng một bó đuốc, Các ống khác cũng làm như thế. Bấy giờ mới truyền lệnh cho 300 người lên ngựa, binh khí treo ở yên ngựa, mỗi người một tay cầm ống gạo, một tay cầm bó đuốc đốt vào ống gạo. Ống ấy cháy thì cơm chín, 300 kỵ binh đều no, hăng hái thêm lên, khi kéo tới thành thì ra sức tấn công, bao vây quân giặc. Do xuất quân thần tốc, như quân từ trên trời rơi xuống, nên Tô Định không kịp ứng phó, đâm ra lúng túng.


Trong khi Lê Chân, Phương Dung, Thục Nương, Thiều Hoa, Nàng Quỳnh, Nàng Quế… dẫn quân kỵ mã đến đánh thành, thì Thiên Thanh được cử cầm đầu đội quân vận tải cỏ nuôi voi ngựa.


Thiên Thanh gặp được Hương Thảo là một cô gái ở làng Bích Tràng(1) thạo việc đồng áng, đặc biệt có tài cắt cỏ, cắt nhanh tới mức châu chấu bay không kịp, chết hàng loạt. Khi đội quân Thiên Thanh đi qua, cô liền đón đường xin gia nhập nghĩa binh. Cô xin về quê dựng nhiều trại cỏ rủ các cô gái trong vùng đi cắt cỏ phục vụ đoàn voi chiến, ngựa chiến.


Hai con voi đầu đàn hung dữ mà Đề Nương và Thiều Hoa bắt về, đã được thuần phục và huấn luyện chu đáo. Hai cô dẫn chúng đến dâng cho Hùng Chắc và Hùng Nhì. Hùng Chắc và Hùng Nhì cưỡi voi đi đầu, tiếp đó là các tướng cưỡi voi theo sau. Khi đội tượng binh kéo tới thành Liên Lâu, nhiều tên giặc mới trông thấy hai con voi của Hai bà đã kinh hồn bạt vía vắt giò lên cổ mà chạy không kịp thở. Đoàn chiến xa sống này ập tới thầnh như một cơn bão rừng không gì ngăn cản nổi, giặc bị voi đuổi theo dùng vòi cuốn tung lên trời khi rơi xuống thì rơi đúng vào đầu cặp ngà nhọn hoắt đón lấy. Số còn lại giày xéo lên nhau mà chạy.


Giặc rút chạy vào trong thành, quân ta bao vây bên ngòai, do cỏ đủ nuôi voi chiến ngựa chiến, nên có thể bao vây được nhiều ngày, trong khi giặc thiếu lương thực nuôi người và cỏ cho ngựa ăn, ngày càng hoang mang, dao động.


Vĩnh Gia được cử đi trấn các lộ ở ven sông phía Tây Bắc. Nhân một lần trẩy quân qua trại Cống Áng(1) ở sát cạnh sông Cái, thấy có địa thế dồn binh liền dừng lại lập trại quân.


Vĩnh Hoa được cử đi lập đồn trại, nàng lấy trang Tiên Nha(2) làm “Chính đồn!” trang Trung Hà(3) bên kia sông là “thứ đồn”.


Khâu Ni, Sa Lương được giao chỉ huy thủy binh phối hợp với bộ binh đánh thành Liên Lâu. Khi thủy quân của Khâu Ni và Sa Lương trẩy quân, tàu thuyền tấp nập trên sông Nhuệ, voi ngựa rầm rập trên đường cái.


Nàng Nội được giao cho chỉ huy một cánh quân đánh các đồn trại địch ở vùng Bạch Hạc.


Đông Bảng được cử đi đánh thành ở Gia Lộc(1).


Đội quân cua Nái Sơn được lệnh hợp nhất với đội quân của Đinh Lực đến Liên Sơn(2) lập đồn. Thấy Hùng Chắc cử Nái Sơn làm chánh tướng, Đinh Lực làm phó tướng, Đinh Lực có ý không bằng lòng nhưng không dám nói ra.


Khi đoàn quân lên đường, thấy Đinh Lực cứ dẫn riêng đội quân của mình đi trước không đi chung với cả đoàn, Nái Sơn chạy lên lôi Đinh Lực lại, truyền lệnh:


- Phó Tướng quân hãy cho quân lui lại, đi hậu tập. Y lệnh!


Đinh Lực nói:


- Các cô đi chậm rề rề, chúng tôi theo sau nóng ruột không chịu nổi.


Nái Sơn nói:


- Ông bà ta chẳng nói: “Lệnh ông không bằng cồng bà” là gì! Nếu phó tướng quân không tuân lệnh, ta sẽ dùng quân pháp nghiêm trị!


Thấy nói đến quân pháp, Đinh Lực lè lưỡi:


- Thôi con chịu bà rồi! Nhất vợ nhì trời, đến trời còn phải chịu kém thì con đâu dám trêu vào tay các bà để hứng lấy cái dại…


- Chỉ được cái khôn nhà dại chợ… Thôi cho quân lui lại đi, không chúng tôi lên xách tai lôi xuống thì ê mặt…


Đinh Lực co rúm người lại, vội cho quân lui xuống. Cả đoàn nữ binh cười bò ra khi thấy đoàn nam binh ban nãy hùng hổ là thế mà giờ phải cúi đầu chịu lép.


Nàng Xuân được giao quyền chỉ huy các lực lượng nghĩa binh ở vùng Phú Thọ, đánh và giam chân các đồn trại của địch ở vùng này để chúng không thể trở về cứu ứng cho thành Liên Lâu.


Đội quân của Nàng Xuân phối hợp với đội quân của “Nàng” Cai, thấy đội quân của “Nàng” Cai lùi lại sau, không dám đi cùng hàng, đội nữ binh trêu chọc:


- Ê, ê! Xấu mặt chưa kìa! Bộ chúng tôi cùi hủi hay sao mà không dám đi cùng! Nữ gì mà có thứ nữ nhát như cáy, cứ ấp a ấp úng không dám ăn to nói lớn.


Đội quân của “Nàng” Cai thấy bị trêu chọc lại càng bối rối.


Một cô gái hát:


- Gái đâu có gái lạ đời,


Nhát như con cáy cũng đòi đi tòng quân…


Lại một cô gái hát:


- Liệu về nuôi lợn, hốt phân,


Băm bèo, nấu cám, đừng để vướng chân mọi người…


Thấy các cô gái cười chế nhạo, đôi quân của “Nàng” Cai càng luống cuống, bước đi nghiêng ngả, có người ngã chúi xuống ruộng. Các cô gái lại cười:


- Mới nói có thế mà đã vội xuống ruộng vớt bèo à?


“Nàng” Cai vội chạy tới ra lệnh cho quân sĩ phải đi ngay ngắn để khỏi bị các cô gái chế nhạo. Nhìn đôi mắt nàng Xuân long lanh như nước hớp hồn mình, “nàng” Cai lại đỏ bừng mặt.


Phó Nguyên soái Hùng Nhì cầm một lá cờ lệnh màu xanh trao cho Hùng Nguyên:


- Hùng tướng quân, hãy dẫn quân về lập trại ở An Duyên(1)! Y lệnh!


Giọng nàng trang nghiêm, nhưng đôi mắt lại xiết bao tình tứ.


Hùng Nguyên run tay cầm lá cờ lệnh, rồi dẫn quân đi không dám nhìn sâu vào đôi mắt của nàng. Trước phút chia tay thấy gan ruột nôn nao, Hùng Nguyên mới biết mình đã thầm yêu nàng từ buổi ban đầu kỳ ngộ.


Đề Nương, dẫn đầu một đội quân về lập trại ở trang Đông Cao, huyện Mê Linh quê cũ của nàng. Mới mấy năm xa cách mà quê hương đã đổi khác, điêu tàn xơ xác dưới gót giặc dày xéo. Đề Nương càng thêm căm hận…


Sau khi tiêu diệt đồn giặc ở vùng này, nam nữ trong vùng đều tấp nập đến theo nghĩa quân. Những người già mang trâu dê thóc gạo ra khao thưởng nghĩa quân. Các mẹ mang hồng Hạc Trì, bưởi Chí Đám, quýt Đan Hà dúi vào tay từng đứa con một. Rồi nào bánh tẻ, bánh hòn, bánh gai, bánh phùng phìu xanh đỏ, nào bánh trôi, chè lam, kẹo mạ, không thiếu thức gì… Cả đội quân tưởng chừng như mình bé lại, ra cửa ngóng mẹ về chợ như ngày trước. Những chị lớn tuổi hơn được tặng những miếng ngói ăn được chế biến từ đất sét xanh tinh khiết, đào sâu dưới đất được cắt thành lát mỏng đặt lên sàn thưa phơi khô rồi đem nung trên lò bằng cây tế khô, khói không độc và có mùi thơm. Ngói ăn giòn, bột khô quện nước bột dẻo như kẹo, có cảm giác bùi bùi ngầy ngậy vui mồm…. Ngỡ như nay là buổi tân hôn của đất và trời, đồng ruộng và sông biển trong những ngày đầu tự chủ…


(còn tiếp)


Nguồn: Mê Linh tụ nghĩa. Quyển 1 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) Nay thuộc làng Xuân Đỗ, xã Cự Khối, huyện Gia Lâm, Hà Nội.




(1) Nay thuộc xã Tiên Phong, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên.




(1) Sau đổi là Nại Tử Châu, nay là làng Nại Châu, xã Chu Phan, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc.




(2) Nay thuộc xã Nguyệt Đức, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.




(3) Nay thuộc xã Trung Châu, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.




(1) Nay thuộc xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, Hà Nội.




(2) Nay thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.




(1) Nay thuộc xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »