tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20030214
Lý luận phê bình văn học
03.09.2009
Hoài Anh
Vũ Cao - Tóc bạc thương từng mỗi gốc cau

Thôn Lương Kiệt (làng Tám) xã Liên Minh, huyện Vụ Bản là một làng văn vật của tỉnh Nam Định. Chỉ một làng mà đã có ba anh em cùng là nhà văn: Vũ Cao, Vũ Ngọc Bình, Vũ Tú Nam, ngoài ra còn có nhạc sĩ nhà thơ Văn Cao. Mới nghe nhiều người tưởng rằng Vũ Cao và Văn Cao là hai cái tên tương ứng với nhau, nhưng kỳ thực không phải thế. Anh Vũ Cao tên thật là Vũ Hữu Chỉnh vì người cao nên lấy bút danh Vũ Cao, còn anh Văn Cao người thấp nhưng tên cha sinh mẹ đẻ là Nguyễn Văn Cao. Anh Văn Cao từ nhỏ đã rời làng theo gia đình ra Hải Phòng lập nghiệp, anh ruột anh là Nguyễn Văn Tú làm thợ điện, do đó thơ anh Văn Cao có cái chất của vùng biển, vùng công nghiệp, còn thơ của “ba anh em họ Vũ” vẫn gần gũi với chất nông thôn của vùng quê Nam Định, tuy sau đó các anh lần lượt rời làng đi nơi khác chiến đấu và công tác, nhưng trước sau vẫn gắn bó với quê hương.


Thơ của vùng đất Nam Định Hà Nam có một giọng riêng không lẫn với nơi khác, giọng thơ có truyền thống từ Trần Quang Khải, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, cho đến Trần Bích San, Phạm Văn Nghị, Bùi Dị, Lã Xuân Oai, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương... đó là giọng thơ chân chất mà sâu đậm. Phải chăng đó là do ảnh hưởng của môi trường địa lý đối với nhà văn. Hippolyte Taine đã nhận ra điều đó khi viết: “Những điều kiện vật lý và xã hội trong khi tác động lên cơ sở đầu tiên của chủng tộc đồng thời cũng thay đổi hay là làm cho chủng tộc thêm phức tạp. Đôi khi khí hậu cũng có ảnh hưởng. Mặc dù chúng ta chỉ có thể theo dõi lờ mờ được lịch sử di cư của các dân tộc Aryens từ tổ quốc chung của họ đến các vùng mà ở đó họ tìm được nơi cư trú cuối cùng, song chúng ta cũng có thể khẳng định rằng sự khác biệt sâu sắc một mặt, giữa các chủng tộc Đức và mặt khác với các chủng tộc Hy Lạp và La tinh trước hết được đặt cơ sở trên sự khác biệt của các địa phương mà họ định cư: Một số thì định cư ở những vùng lạnh lẽo và ẩm ướt, trong những cánh rừng rậm rạp và lầy lội hay dọc các bờ đại dương hoang dã không biết cảm xúc gì khác ngoài sự u sầu hay là hung hăng, ham nhậu nhẹt và thích thức ăn thô và cuộc sống là các cuộc chiến tranh hay chạy trốn. Những người khác, ngược lại, định cư giữa thiên nhiên hùng tráng, bên bờ biển dịu dàng đầy nắng, sống bằng nghề buôn bán và do thoát ra khỏi những đòi hỏi của dạ dày nên ngay từ đầu đã thiên về cuộc sống xã hội và tổ chức chính trị, về những tình cảm và đặc điểm tâm hồn phát triển làm mỹ từ, cách hưởng thụ cuộc sống và thúc đẩy phát minh khoa học nghệ thuật và ngôn từ. Do Vũ Cao sinh ra ở vùng quê Nam Định, nơi con người sống bằng nghề làm ruộng, nên thơ của các anh cũng khác với thơ của Hoàng Cầm sinh ra ở Bắc Ninh, nơi con người “sống bằng nghề buôn bán” và thủ công là chính, cũng khác với thơ của Huy Cận sinh ra ở Nghệ Tĩnh, nơi con người sống “giữa thiên nhiên hùng tráng”, thơ của Tế Hanh sinh ra ở Quảng Ngãi, nơi con người sống về nghề chài lưới, và thơ của các nhà thơ trường thơ Bình Định như Hàn Mạc Tử, Yến Lan, Quách Tấn, Chế Lan Viên, nơi con người sống “bên bờ biển dịu dàng đầy nắng”.


Cũng may mà Vũ Cao có một người cha đỗ tú tài Nho học, hay làm thơ, thường bắt anh họa thơ nên anh đã được tiếp xúc với văn học từ khi còn nhỏ.


Cũng may mà làng Tám lại ở cạnh đường ô tô và xe lửa, nên con người ở đây đã có sự giao lưu văn hóa với các miền quê khác của đất nước. Vừa đến tuổi trưởng thành, các anh Vũ Cao, Vũ Tú Nam đã cầm súng lên đường đánh Pháp rồi công tác ở các cơ quan báo chí quân đội, anh Vũ Ngọc Bình vào dạy học ở Thanh Hóa, nên đã học hỏi được nhiều cái hay ở khắp mọi nơi, bồi đắp cho vốn sống và vốn sáng tác của các anh.


Do cùng chung môi trường địa lý, nên thơ anh Vũ Cao ban đầu gần với thơ Nguyễn Bính. Như bài Núi Đôi, giọng thơ chân thành mà đằm thắm:


Bảy năm về trước, em mười bảy


Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng


Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa


Bữa thì em tới, bữa anh sang.


Lối ta đi giữa hai sườn núi


Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi


Em vẫn đùa anh: Sao khéo thế


Núi chồng núi vợ đứng song đôi!


Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới


Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau.


Mới ngỏ lời thôi, đành lỗi hẹn


Đâu ngờ từ đó bặt tin nhau!


Anh lên đường vào bộ đội, lên đông bắc, chiến đấu năm này qua năm khác, khi lệnh trên ngừng bắn, anh về xuôi, tiện đường hành quân, ghé thăm nhà thì:


Mới đến đầu ao tin sét đánh


Giặc giết em rồi, dưới gốc thông


Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa


Em sống trung thành, chết thủy chung!


Anh ngước nhìn lên hai dốc núi


Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen.


Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói


Núi vẫn đôi mà anh mất em!


Bài thơ kết bằng hình ảnh khỏe, đẹp:


Anh đi bộ đội, sao trên mũ


Mãi mãi là sao sáng dẫn đường


Em sẽ là hoa trên đỉnh núi


Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm


Tuy bài thơ hơi bị dàn trải, nhưng do anh đã khéo chọn được nhan đề thơ Núi Đôi, đó cũng là cái tứ của cả bài thơ, từ đó anh đã tạo nên những ý thơ tương đồng hay đối lập như: Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi, Núi chồng núi vợ đứng song đôi, Núi vẫn đôi mà anh mất em, Nhưng núi còn kia, anh vẫn nhớ... những câu đó đặt rải ra trong toàn bộ bài thơ, nên đã tạo được sự liền chuỗi, hình thành thể dệt (texture) của bài thơ.


Bên trên tôi có nói giọng thơ của Vũ Cao thời kỳ đầu gần với thơ Nguyễn Bính. Như đoạn mở đầu bài Núi Đôi phảng phất hơi thơ Nguyễn Bính trong bài Bươm bướm:


Học trò trường Huyện ngày năm ấy,


Anh tuổi bằng em, lớp tuổi thơ.


Những buổi học về không có nón,


Đội đầu chung một lá sen tơ.


Nhưng đọc kỹ cả bài ta thấy Vũ Cao vẫn có những cái khác với Nguyễn Bính, nếu thơ Nguyễn Bính đôi khi còn có cái sướt mướt (Từ đấy buồng tôi không có hoa, Khóc lên nhật ký, khóc cho nhòa. Giời còn bắt sống còn mang hận, Chả chết cho thành một đám ma) hay còn có giọng tráng sĩ (Giày cỏ gươm cùn ta đi đây), thì thơ Vũ Cao chắc khỏe, trong trẻo hơn. Đó là bởi anh là nhà thơ trưởng thành trong cách mạng và kháng chiến, học tập được lời ăn tiếng nói của người ở mọi vùng quê đất nước, nên thơ anh đi sâu vào lòng quần chúng, được quần chúng hồ hởi đón nhận, hầu như bất kỳ người mẹ nào mất con, anh bộ đội nào mất người yêu, cũng cảm thấy nhà thơ đã nói giùm tâm tình của mình. Thơ mình được coi là của chung của mọi người, đó cũng là niền hạnh phúc và vinh dự của một nhà thơ chiến sĩ.


Đến bài thơ Chuyện dân gian, Vũ Cao có một giọng riêng tươi tắn, hóm hỉnh mà tế nhị, điểm một nụ cười nhân hậu:


Giữa trưa trời đổ mưa rào


Không quen bỗng gặp cùng vào trú mưa


Bốn bề gió dập phên thưa


Mái nghiêng lại dột không chừa áo em


Nhẹ nhàng tôi nép sang bên


Nhường nơi khuất gió cuối thềm cho nhau


Em cười: mưa vậy mà lâu


Anh xem, lại một chuyến tàu nữa qua!


Nhưng rồi mây tản đi xa


Màu mưa bỗng tạnh, nắng nhòa bóng cây.


Tôi chìa tay để bắt tay


Hỏi han nơi ở mai này lại thăm.


Gặp nhau từ đó đôi lần


Cũng dăm câu chuyện xa gần vậy thôi


Thế rồi người ấy yêu tôi


Tôi yêu người ấy thành đôi vợ chồng


Cái duyên nghĩ cũng lạ lùng


Trú mưa một lát, cảm thông một đời


Đến nay người ấy vẫn cười:


Giá như buổi đó ông trời chẳng mưa!


Nhưng Vũ Cao không dừng lại ở những bài thơ duyên dáng như thế này, anh còn muốn thể hiện tình cảm của mình một cách sâu kín, lắng đọng hơn. Trong bài Ngang dốc núi, anh đổi sang thể thơ bốn chữ, chắc nịch, dồn nén:


Tôi đi bữa ấy


Suốt nửa ngày đường


Chiều hôm mới thấy


Nhà dân giữa rừng


Chào cô con gái


Cô rót liền tay


Đưa tôi sóng sánh


Một lon rượu đầy


Cô nhìn đăm đăm


Uống đi, bộ đội


Uống mừng đầu xuân


Đường xa đỡ mỏi


Tôi trông màu rượu


Màu tím hoa cà


Lại nhìn đôi mắt


Sáng tròn như hoa


Uống vừa một ngụm


Tôi chào xin đi


Vội không kịp hỏi


Cô tên là gì


Lên ngang dốc núi


Chợt thấy mình say


Người ơi hoa tím


Đầy rừng hoa bay.


Tác giả đã gây được ấn tượng tưởng nhẹ nhàng mà sâu, từ màu tím hoa cà của rượu, màu mắt cô gái đến màu tím hoa rừng, như mới đầu uống tưởng rượu nhẹ ai ngờ say lúc nào không biết, say chếnh choáng nên chỉ thấy đầy trời hoa bay. Không chỉ tác giả say mà người đọc cũng say theo!


Đến bài Con đường nhỏ này tác giả lại đi sâu vào tâm lý, thể hiện cái rụt rè lo ngại của người không dám tin vào hạnh phúc đến với mình:


Con đường nhỏ này dẫn tới nhà em


Nhiều bận anh chỉ đi một nửa


Còn nửa ấy, anh dành cho nỗi nhớ


Buổi ấy đến thăm em


Hai hàng cây gió quá


Ôi được thấy em


mà vui từ ngọn lá


Một ánh mắt thân tình


đâu đó


tự ngày thơ


Sao bỗng dưng anh gặp lại bây giờ?


Anh ghé đứng bên em


Nhìn tóc em gió thổi


Anh bỗng sợ


điều gì


không cưỡng nổi


Như đất trời


phút chốc


chẳng bình yên


Từ đó con đường dẫn tới nhà em


Nhiều bận anh chỉ đi một nửa


Còn nửa ấy anh dành cho nỗi nhớ


Chế Lan Viên có câu thơ: Không em anh chẳng qua vườn, Sợ mùi hương sợ mùi hương nhắc mình. Bài thơ của Vũ Cao cũng có cái u uẩn ấy, nhưng thành thật và mới mẻ, chữ một nửa ở đây mang hàm nghĩa song trùng: một nửa con đường, một nửa trái tim, do đó cũng mang ý vị tượng trưng.


Do có vốn sống đầy ắp về nông thôn, hình ảnh Vũ Cao đưa ra là những hình ảnh thân thuộc có sự nung nấu trong lòng, nên anh vận dụng rất thanh thoát, tự nhiên, hầu như không cần dùng đến biện pháp tỉ dụ. Nhà thơ Đức Gotterfield Benn trong bài “Vấn đề thơ trữ tình” nêu lên bốn chứng trạng của thơ trữ tình, trong đó chứng trạng thứ hai là tỉ dụ: Xin các vị lưu tâm xem xem, “giống như” luôn luôn xuất hiện trong một bài thơ như thế nào. Giống như, dường như, hoặc hình như, những cái đó đều là kết cấu mang tính phụ trợ, phần lớn không có hiệu quả gì, chẳng hạn “bài ca của tôi uyển chuyển du dương giống như ánh vàng của mặt trời” - “mặt trời lặn trên nóc nhà bằng đồng giống như đồ trang sức bằng đồng thau” - “bài ca của tôi run rẩy giống như hồng thủy bị cản trở” - “giống như một bông hoa nở trong đêm hiu quạnh” – “trắng bệch đến hệt như lụa trắng” - “tình yêu nở rộ giống như hoa bách hợp”... vân vân và vân vân. Cái “giống như” vẫn cứ là cắt đứt ý tượng, tìm những cái để so sánh, không phải là sự sắp đặt đúng mực. Ở đây tôi cũng cần thanh minh, rất nhiều thơ vận dụng “giống như” cũng có thể xuất thần nhập hóa, Rilke có bản lĩnh dùng “giống như” cao siêu... Nhưng coi là một nguyên tắc, các vị có thể tin chắc, dùng “giống như”, thành phần của văn thể kể chuyện hoặc văn học giải trí sẽ lọt vào thơ trữ tình, lực độ của thơ trữ tình sẽ yếu đi, nhiệt tình mang tính sáng tạo cũng sẽ yếu đi”.


Ngay cả khi miêu tả thực tế, Vũ Cao vận dụng tỉ dụ cũng rất nhuần nhuyễn: Bóng con đê về xa mãi đồng xuôi, Như những sợi mây chăng nối những chân trời (Quê tôi); Khẩu pháo rẽ nghiêng, nòng còn ngoảnh lại, Như cánh tay chào tạm biệt sông trôi (Người gác cầu).


Hans George Gadamer, một trong những đại biểu của giải thích học hiện đại trong cuốn Chân lý và phương pháp đã phân biệt tượng trưng (Symbol) và tỉ dụ (Allegorie). Theo Gadamer, nhìn từ từ nguyên, hai từ tượng trưng và tỉ dụ đúng là có một thứ ý nghĩa chung, tức trong hai từ đó biểu hiện: hàm nghĩa (Sinn) của cái này không tồn tại ở trong hiện tượng, ngoại quan hoặc từ văn của nó, mà tồn tại ở trong cái biểu đạt (Badentung) nào đó ở ngoài nó. Một cái nào đó vì một cái khác nào đó mà tồn tại. Chính là thông qua thứ liên quan đó, cái phi cảm giác thành cái có thể cảm giác, cái thần thánh thành cái thế tục có thể hiểu được. Nhưng tỉ dụ và tượng trưng dù cho điểm chung đó, giữa chúng lại tồn tại sự đối lập về nghệ thuật.


Từ sử dụng cổ đại về hai từ này có thể nhìn ra, tỉ dụ vốn là thuộc vào lĩnh vực tường thuật, tức Logos (nói chuyện) bởi vật tỉ dụ gây một thứ tác dụng vào tính tu từ hoặc giải thích học, nó lấy một cái khác nào để thay thế cái ban đầu chứa đựng ý nghĩa, hoặc giả nói, cái khác đó khiến cái ban đầu chứa đựng ý nghĩa được lý giải. Ngược lại, tượng trưng không hạn chế ở lĩnh vực Logos tức nói chuyện, bởi vì tượng trưng không phải thông qua liên quan của một ý nghĩa khác nào đó mà có ý nghĩa của nó, mà là tồn tại rõ ràng dễ thấy của tự thân nó có ý nghĩa. Tượng trưng coi là cái biểu hiện rõ, là cái người ta ở trong đó nhận thức vật khác nào đó. Do đó có thể thấy, tượng trưng không phải là đơn thuần thông qua nội dung của nó, mà là thông qua tính biểu hiện rõ (Vorzeigbarheit) gây tác dụng. Dưới bất kỳ tình huống nào, ý nghĩa của tượng trưng đều dựa vào sự có mặt tại chỗ của nó, mà còn thông qua cái biểu hiện rõ hoặc biểu đạt có mặt tại chỗ của nó mà có được công năng mang tính tái hiện của nó. Trong hai cái tượng trưng và tỉ dụ, tuy đều có kết cấu chung thông qua vật này tái hiện vật kia, và còn đều có thể từ sự vật cảm tính hữu hạn quá độ sang sự vật siêu cảm tính vô hạn, nhưng tỉ dụ là thông qua cái nào đó được tường thuật, như chúng ta thông qua nói bông hoa, ngựa, trâu để trình bày rõ ý nghĩa của một cái khác; ngược lại, tượng trưng lại là thông qua cái nào đó được biểu hiện rõ, mà quan hệ của cái đó và cái muốn trình bày rõ là một thứ quan hệ của bản chất và hiện tượng, như quan hệ của ánh sáng và ngọn lửa, bệnh lao phổi và chứng trạng của nó. Tỉ dụ bao hàm quan hệ giữa ý nghĩa và ý nghĩa, mà tượng trưng bao hàm quan hệ giữa tồn tại và ý nghĩa. Tỉ dụ cần phải thông qua tường thuật cái khác, tức thông qua ngôn ngữ để tiến hành; ngược lại, tượng trưng lại không cần thông qua tường thuật hoặc ngôn ngữ, nó có thể vòng qua con đường trực tiếp của ngôn ngữ mà từ tồn tại đến ý nghĩa.


Tính đặc thù của tượng trưng là tính trực tiếp và tính rõ rệt của nó, cùng tính vô hạn của ý nghĩa nó chứa đựng, nó biểu hiện sự thống nhất của tượng trưng hữu hạn và ý nghĩa vô hạn mà nó đại biểu ngược lại, tính chất đặc thù của tỉ dụ lại là tính gián tiếp và tính tường thuật của nó, cùng tính hữu hạn của ý nghĩa nó chứa đựng, nó biểu hiện sự thống nhất của tỉ dụ có tính hình tượng và cái vô hình tượng mà nó biểu thị. Tượng trưng coi là cái vô hạn (bởi vì nó là cái có thể giải thích bất định) là một cách tuyệt đối đối lập với tỉ dụ ở trong quan hệ ý nghĩa tinh xác hơn và chỉ hạn chế ở thứ quan hệ ý nghĩa đó.


Ý kiến của Gadamer đã làm chúng ta hiểu thêm về thủ pháp tượng trưng trong bài thơ Tiếng chuông của Vũ Cao:


Tôi thích nghe tiếng chuông chùa


Sa vào hoang vắng


Khi mặt trời đang lặn


Ngân trong tiếng chuông


Có hương của ngâu và mộc


Ngọc lan hoàng lan...


Cây hải đường trầm ngâm


Cánh con chim cuối cùng


lách vào giậu ruối


Ý nghĩa khái quát và sâu của hình tượng tiếng chuông là do tượng trưng mang lại. Tiếng chuông “không phải là thông qua liên quan của một ý nghĩa khác nào đó mà có ý nghĩa của nó, mà là cái biểu hiện rõ, là cái người ta ở trong đó nhận thức vật khác nào đó”, có thể là “sự vật cảm tính hữu hạn” như hương của ngâu và mộc, ngọc lan hoàng lan, cây hải đường trầm ngâm, cánh con chim cuối cùng cùng lách vào giậu ruối, cũng có thể là “sự vật siêu cảm tính vô hạn” như:


Tiếng chuông ấy


đã thấm vào tôi từ ngày nhỏ tuổi


Như đã thấm hương mộc hương lan


hương hồng hướng ổi


Cùng sắc tía của trà


và thắm mẫu đơn.


Tiếng chuông còn gợi lên liên tưởng vô cùng tận, “nó dựa vào tồn tại tự thân của nó mà có ý nghĩa”, nên cùng “biểu hiện sự thống nhất của tượng trưng hữu hạn và ý nghĩa vô hạn mà nó đại biểu”.


Tiếng ở đây gợi lên tự tương giao (correspondance) với hương thơm và sắc màu như trong thơ Baudelaire. Nếu tiếng chuông trong thơ xưa Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền (Trương Kế), Ba hồi triêu mộ chuông gầm sóng, Một vũng tang thương nước lộn trời (Hồ Xuân Hương) gợi lên cảnh biển dâu của cõi trần xui người có ý nghĩ thoát tục; nếu tiếng chuông trong thơ Edgar Po, tiếng chuông bạc gợi niềm vui trong suốt pha lê, tiếng chuông vàng rung ngân niềm hân hoan thích thú, đến tiếng chuông đồng thau sự khủng khiếp chúng trút vào vòm trời phập phồng rung lên sao mà rùng rợn, cuối cùng tiếng chuông sắt trước nỗi sầu muộn rập rình trong giọng chuông vang vang, mỗi âm thanh trôi nổi là tiếng rền rĩ từ trong những cổ họng hoen rỉ; thì tiếng chuông trong thơ Vũ Cao lại khiến người ta nghĩ về sự sống với sự nâng niu trân trọng những cái đẹp, cái tốt lành của nó.


Tiếng chuông


lan xa


thong thả


từng hồi


Tiễn mỗi ngày đi


như nỗi bâng khuâng


cõi sống


con người.


Tiếng chuông như sợi dây vô hình quấn quít mọi vật, có sự thanh thản của một tâm hồn coi nhẹ hư vinh, nhưng không lánh đời mà yêu cuộc đời với cả những thiếu sót lầm lạc của nó để cất lời cảnh tỉnh người đời.


Trong tiếng chuông có một thoáng bâng khuâng, một thoáng buồn nhưng như lời tự bạch của tác giả trong trang thơ tự chọn Phụ trương Thơ Tuần báo Văn nghệ số 13 (tháng 7-2004): “Nỗi buồn tự nó không có hại gì, đôi khi nó còn giúp ta hiểu ta hơn, thông cảm hơn với mỗi số phận, mỗi cuộc đời. Nhưng buồn đến mức xám ngắt, bế tắc thì buồn ấy không có ích lợi gì cho thơ ca chúng ta, bởi vì thơ bao giờ cũng là sự sống, là yêu thương là hy vọng. Đổi mới thơ ca cũng không ngoài ý nghĩa ấy”.


Ở đây, Vũ Cao đã hiểu được bản chất của sự cách tân. Nhà lý luận văn nghệ Mỹ Rene Wellek cho rằng quá nhấn mạnh sáng tân (novelty) không phải là một phương pháp tốt, nên đi xây dựng một loạt phát triển lấy thứ khuynh hướng giá trị nào đó làm căn cứ, mới có thể thể hiện được chỗ sáng tân ấy.


Chính vì đã lấy khuynh hướng giá trị thể hiện những cái đẹp, cái tốt lành trong đời sống làm căn cứ, nên Vũ Cao đã phát triển một loạt bài thơ mang chủ đề tư tưởng đó. Như bài Hoa, hoa đã gợi lên:


Những tiếng gọi sáng trưng, những lời êm ả


Ân cần tay đón tay trao


Những nét miệng vừa quen


Đã trân trọng câu chào


Những mong nhớ thoáng qua vài giọng nói


Những hò hẹn giục bàn chân bước vội,


Từ đó đã dẫn dắt tới tư tưởng trung tâm của bài thơ:


Tôi thấy thêm yêu mảnh đất tôi sinh


khoảng trời tôi ở


Cứ mỗi mùa xuân đến với mỗi con người


Lại sương nắng chắt chiu một vầng hoa rạng rỡ


Đưa đón những hạnh phúc đi về


và cũng đón đưa tôi.


Trong bài thơ Thiên nhiên, tác giả đã nói về Lép Tôn-xtôi, con người luôn sống với thiên nhiên, nghệ thuật và tâm hồn của ông bao la như thiên nhiên nhưng cũng giản dị như thiên nhiên. Bút pháp của ông cũng giản dị gọn gàng, ông từng nói với Gorki: “Nên viết được giản dị gọn gàng. Dân chúng nói rất giản dị gọn gàng, thậm chí dường như không liền chuỗi, nhưng nói rất hay”.


Tô Đông Pha trong bức “thư gửi cháu Nhị lang”, cũng viết: “Phàm văn tự, hồi ít tuổi nên khiến khí tượng cao ngất, màu sắc rực rỡ, dần già dần chín, mới tạo bình đạm. Kỳ thực không phải là bình đạm mà là rực rỡ đến cực độ”. Vũ Cao không cố tìm câu chữ đẹp, lạ, mà chú trọng đến cái thần của bài thơ, “thiên pháp” của toàn bài. Bình đạm mà ý sâu là phong cách thơ của Vũ Cao, đó cũng là tiêu chí của sự càng già càng chín trong thơ anh. Đến nay anh vẫn giữ được cái đôn hậu trong câu thơ anh viết từ hồi trẻ: Tóc bạc thương từng mỗi gốc cau. Gốc cau đó là quê hương làng Tám của anh cũng là quê chung của mỗi người Việt Nam chúng ta.


 


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
Đôi lời về Vecte và nỗi đau của chàng - Quang Chiến 07.07.2017
Huyền thoại Faust - Triệu Thanh Đàm 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (3) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (2) - Phan Quang 07.07.2017
xem thêm »