tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18518146
Lý luận phê bình văn học
02.09.2009
Hoài Anh
Nathalie Sarraute - Thời đại nghi ngờ (tiếp và hết)

Có câu chuyện hư cấu nào có thể sánh kịp Người con gái bị giam ở Poitiers ([1]), lời tường thuật về trại tập trung Đức quốc xã hoặc ký sự về chiến dịch Stalingrad. Cần có bao nhiêu bộ tiểu thuyết, bao nhiêu nhân vật lớp cảnh, tình tiết mới có thể giống như nội dung phong phú tỉ mỉ của một trứ tác chuyên đề đặc sắc khơi dậy lòng hiếu kỳ của độc giả và gợi ý cho họ suy nghĩ sâu xa?


Độc giả ngày nay đối với kể chuyện về từng trải đích thân (hoặc giả chí ít có vẻ ngoài khiến người tin là thật) cảm thấy hứng thú hơn so với tiểu thuyết, điều đó hoàn toàn có lý. Có người cho rằng, tiểu thuyết Mỹ gần đây nhất lưu hành ở Pháp, cái đó đủ để phủ nhận thứ tính khuynh hướng đó của độc giả. Sự thực ngược hẳn lại, sự lưu hành của tiểu thuyết Mỹ vừa khéo chứng minh sự thiên trọng đối với sự thực của độc giả Pháp. Thứ tiểu thuyết Mỹ lưu hành, căn cứ vào nguyên nhân giống như đã nhắc đến ở trên, ở độc giả Mỹ có tu dưỡng văn hóa xem ra là không đủ dựa vào, nhưng thứ tiểu thuyết đó lại có thể dẫn độc giả Pháp đến một xứ lạ, ở nơi đó, độc giả Pháp là bất lực, tính cảnh giác của họ cũng biến thành tê liệt, anh ta giống như đọc du ký mang một thứ lòng hiếu kỳ nhẹ dạ cả tin, cảm thấy nhẹ nhõm vui vẻ giống như trốn tránh trong một thế giới xa lạ. Nhưng, độc giả Pháp hiện giờ hoặc nhiều hoặc ít đã nếm qua thứ đồ ăn xứ lạ đó, đã không cảm thấy hứng thú đối với nó nữa, bởi vì, tuy bề ngoài xem ra màu sắc bộn bàng, rất nhiều sắc hoa, nhưng nó không giàu dinh dưỡng như mong đợi.


Những cách nhìn đó của độc giả đối với tiểu thuyết, không cần nói nhà văn cũng rõ, bởi vì bản thân ông ta cũng là độc giả của tiểu thuyết, mà còn thường thường là có thể hội sâu, cho nên đối với những cách nhìn đó tự nhiên sẽ có đồng cảm.


Bởi vậy, khi ông ta dự tính kể một câu chuyện, tuy ông ta nói với mình, thứ ánh mắt chế giễu của độc giả hiện giờ hãy cứ mặc nó, vẫn là phải quyết tâm viết theo kiểu như: “Bà hầu tước phu nhân ra đi lúc năm giờ chiều”([2]) vân vân, nhưng ông ta dứt khoát vẫn là trù trừ không tiến lên, thiếu dũng khí, không được, quả thực không thể lại viết như vậy.


Nếu nhà tiểu thuyết lấy hết dũng khí, quyết tâm không dựa theo yêu cầu của cách viết truyền thống tiểu thuyết, tốn lượng lớn bút mực đi tả hầu tước phu nhân, mà chỉ là bàn về việc hiện giờ mình cảm thấy hứng thú, thế thì ông ta sẽ phát hiện, thứ giọng “không có ngôi” hết sức thích hợp với nhu cầu của tiểu thuyết cũ, là không thể thích ứng với biểu đạt tình cảnh phức tạp vi diệu ông dốc sức vạch rõ. Những tình cảnh đó giống như thứ hiện tượng vật lý hiện đại nào đó, hết sức nhạy cảm tỉ mỉ, sự chiếu rọi của một tia ánh sáng đủ để quấy nhiễu hoặc dẫn tới biến hình. Bởi vậy, khi nhà tiểu thuyết có ý đồ dùng hình thức không lộ mặt của mình miêu tả những tình cảnh đó, ông ta cũng có thể nghe thấy độc giả giống như một đứa trẻ khi lần đầu nghe mẹ kể một câu chuyện vậy, vẫn muốn ngắt đoạn hỏi: “Đó là ai đang nói chuyện thế?”.


Dùng ngôi thứ nhất kể câu chuyện, không chỉ có thể thỏa mãn lòng hiếu kỳ lẽ đương nhiên của độc giả, mà còn có thể giải trừ lo ngại không sao tránh khỏi của tác giả. Ngoài cái đó ra, câu chuyện chí ít tỏ ra giống như từng trải đích thân, chân thực đáng tin cậy, vừa có sức thuyết phục đối với độc giả, đồng thời cũng có thể tiêu trừ nghi ngại của anh ta.


Ngày nay không người nào sẽ hoàn toàn bị mê hoặc bởi thủ pháp tiện lợi mà nhà tiểu thuyết lựa chọn. Thứ thủ pháp đó là do nhà tiểu thuyết tính toán kỹ càng đem một số bộ phận nào đó của mình, một phương diện gia công khiến chúng có cảm giác giống như thật, một phương diện khác đem chúng phân phối cho nhân vật khác nhau - chắc là có phần tùy ý phân phối (bởi vì, những bộ phận đó lấy từ mặt cắt từ chỗ tung thâm cắt ra, thế thì chúng trên tất cả mọi nhân vật đều là giống hệt như nhau). Còn như độc giả, anh ta khi đọc sau khi trải qua một công đoạn giống như bóc đi lớp vỏ ngoài, liền đem những bộ phận đó lấy ra, sau đó giống như trò chơi rút bài([3]) đem chúng đặt vào ô vuông tương ứng với bản thân anh ta.


Ngày nay, bất kỳ độc giả nào không cần cái người khác chỉ ra đối với anh ta, thì sẽ hết sức nghi ngờ câu nói “Bà Bovary - tức là tôi”([4]). Từ hiện tại nhìn ra, cái quan trọng không phải là tiếp tục không ngừng tăng thêm nhân vật điển hình của tác phẩm văn học, mà là biểu hiện sự đồng thời tồn tại của tình cảm mâu thuẫn, và còn cố hết sức khắc họa ra tính phong phú và tính phức tạp của hoạt động tâm lý. Nếu đã như vậy, cái nhà văn cần là viết về mình một cách trung thực triệt để.


Nhưng sự tình vẫn không chỉ là như vậy, nhà văn tuy cảm thấy bất an trước ánh mắt càng ngày càng sắc bén, thái độ nghi ngờ cảnh giác của độc giả hiện tại, nhưng ông ta lại cũng càng ngày càng mang ý thức cảnh giác đối với độc giả, dù cho cái đó xem ra kỳ quái bao nhiêu, sự thực là như vậy.


Còn như độc giả, dù là người sành sỏi nhất khi bị bỏ mặc một mình, cũng sẽ tìm cách tạo ra những mẫu người. Họ làm công việc này mà không ngờ tới – ngay cả nhà tiểu thyết không có nỗ lực cũng không tránh được việc này – do sự thích nghi trong cuộc sống hàng ngày qua những tập quen. Giống như con chó của Pavlov nghe tiếng chuông khua thì chảy nước dãi, chỉ có một dấu hiệu nhỏ cũng đủ khiến độc giả tạo ra moat số nhân vật. Nhân vật liền giống như đang chơi trò chơi “nặn tượng”([5]) bị tay độc giả đụng vào một cái liền sẽ cứng đơ. Những nhân vật ấy sẽ nhiều lên trong ký ức của độc giả nhưbộ sưu tập khổng lồ những tượng nhỏ bằng sáp ong. Trong suốt một thời gian dài từ khi bắt đầu biết đọc, độc giả thường bổ sung bộ sưu tập đó một cách vội vàng và không ngừng làm phong phú thêm bằng những tiểu thuyết không đếmxuể. 


Chúng ta đã biết, nhân vật mà tiểu thuyết cũ (và tất cả mọi thủ pháp cũ kỹ tạo dựng nhân vật) thiết kế cũng không thể dung nạp hiện thực tâm lý ngày nay được nữa. Những nhân vật đó không những không thể thể hiện ra thứ hiện thực tâm lý đó giống như trước đây, mà còn sẽ khiến độc giả nhìn không thấy sự tồn tại của nó.


Biến hóa của yếu tố tâm lý trong quá trình phát triển của tiểu thuyết và biến hóa của yếu tố hội họa trong quá trình phát triển của nghệ thuật hội họa, có chỗ tương tự, chúng đều từ từ tách rời khỏi vật thể mà chúng sống nhờ - nhưng biến hóa của tiểu thuyết không đến với sức xung phá mạnh, tốc độ nhanh như biến hóa của hội họa, mà giữa đường còn xảy ra ngừng lại thậm chí lùi lại. Yếu tố tâm lý hiện giờ nghiêng về độc lập tồn tại, cố hết sức thoát khỏi sự chống đỡ của nhân vật. Toàn bộ thăm dò của nhà tiểu thuyết đương đại là tập trung trên một điểm đó, đó cũng là chỗ độc giả nên tập trung toàn bộ tinh lực vào.


Độc giả đương đại cần tránh đồng thời theo đuổi hai mục tiêu. Khi nhân vật tỏ ra linh hoạt sinh động mà giống như thật, khắc họa tâm lý lấy nhân vật làm giá đỡ sẽ mất đi tính chân thực sâu sắc, bởi vậy phải tránh phân tán sức chú ý của độc giả, không để anh ta bị nhân vật hấp dẫn. Để đạt tới mục đích đó, nhà tiểu thuyết cần phải cố hết sức không cung cấp tiêu chí có liên quan đến nhân vật, bởi vì độc giả sẽ xuất từ khuynh hướng tự nhiên, không do tự chủ nắm lấy những tiêu chí đó để sáng tạo ra một số nhân vật giả tượng có cảm giác giống như thật.


Trong tiểu thuyết mới ngày nay, nhân vật tại sao chỉ còn lại một cái bóng, nguyên nhân là ở đó. Nhà tiểu thuyết hiện đại chỉ dưới tình huống bất đắc dĩ mới tả vẻ ngoài, cử chỉ, hành động, cảm giác, tình tự hàng ngày v.v... của nhân vật - tất cả cái đó, độc giả đã sớm quen thuộc và nghiên cứu; những miêu tả đó sẽ khiến nhân vật rất dễ bị nhận ra, mà còn không tốn nhiều công phu sẽ nhìn ra giống như sống thật, đồng thời cũng tiện cho độc giả nắm vững([6]). Thậm chí tên họ của nhân vật - đó là cái mà tả nhân vật tất không thể thiếu - đối với nhà tiểu thuyết hiện đại cũng thành một thứ trói buộc. Gide thích dùng những tên hiếm thấy, tránh khỏi nhân vật dùng tiếp tên họ của tổ tiên phụ hệ, e rằng như vậy sẽ khiến nhân vật cắm chân một cách vững chắc vào vũ trụ hoàn toàn giống với thế giới mà độc giả ở vào. Nhân vật chính tiểu thuyết của Kafka, chỉ dùng một chữ cái coi là tên họ (tức là K một chữ cái đầu tên họ của bản thân tác giả). Joyce đặt tên họ cho nhân vật chính bộ mặt thiên biến vạn hóa trong tiểu thuyết Finnegan thức dậy là H. C. E. Ba chữ cái này có thể có giải thích nhiều loại nhiều dạng.


Và nếu cho rằng cái phương thức đạt cùng một tên cho hai nhân vật khác nhau mà Faulkner([7]) đã dùng trong Âm thanh và cuồng nộ là do cái ý tai quái và có tính trẻ con muốn làm người đọc hoang mang hỗn loạn thì thực quả là bất công đối với một chủ ý táo bạo, rất đáng khen và nói lên một mối bạn tâm của các tiểu thuyết gia hiện đại. Cái tên mà ông chuyển từ nhân vật này sang nhân vật khác dưới con mắt hau háu của độc giả, như mẩu đường trước mũi con chó, phải luốn luốn tỉnh táo theo dõi.


Đối với nhà tiểu thuyết dựa theo thói quen sinh hoạt hàng ngày, chiều ý độc giả lười thăm dò và đời sống bận rộn mà cung cấp tiêu chí có liên quan đến nhân vật, độc giả hiện giờ sẽ không theo ông ta đi. Độc giả để có thể phân biệt nhân vật, cũng giống như tác giả tiểu thuyết, có thể căn cứ vào một số tiêu chí bên trong lập tức nhận ra chúng. Nhưng anh ta không thể nhìn thấy những tiêu chí đó, trừ phi anh ta đổi thói quen thoải mái xem tiểu thuyết, giống như tác giả, đi sâu vào nội tâm nhân vật, đem cảnh tượng trong tâm ý tác giả biến làm cái của mình.


Vấn đề chủ yếu của tiểu thuyết hiện nay ở từ chỗ độc giả thu hồi tồn trữ anh ta có trước đây, dồn hết mọi khả năng đem anh ta hấp dẫn đến thế giới của tác giả. Để đạt được mục đích đó, đem “tôi” của ngôi thứ nhất coi làm nhân vật chính của tiểu thuyết, là phương pháp vừa hữu hiệu vừa dễ dàng. Không nghi ngờ gì nữa, cũng là xuất từ nguyên nhân này, nhà tiểu thuyết thường xuyên sử dụng thứ phương pháp sáng tác đó.


Thông qua phương pháp đó, độc giả lập tức tiến vào nội tâm của nhân vật - hoàn toàn ở vào địa vị giống với tác giả, mà còn có thể đạt tới một độ sâu, ở đấy cũng không có những tiêu chí thuận tiện có thể khiến độc giả nhờ vào để cấu tạo nhân vật nữa. Cho đến khi tiểu thuyết kết thúc, độc giả ngâm chìm trong một thứ vật chất vô danh giống như huyết dịch, ở trong thứ dịch dính vừa không có tên gọi vừa không có hình dáng. Anh ta có thể tìm được con đường của mình, bởi vì đã có mốc chỉ đường tác giả đặt để tránh khỏi hỗn loạn. Anh ta không có ký ức đối với đời sống đã quen thuộc của mình hoặc thói quen yêu cầu nhân vật giống như thật, kết cấu chặt chẽ nữa, sức chú ý của anh ta không bị phân tán nữa, thăm dò của anh ta cũng không bị trở ngại nữa. Giống như tác giả, hạn chế duy nhất mà độc giả gặp phải, chỉ là thuộc loại hạn chế mà bản thân loại thăm dò này vốn có hoặc chỉ là thuộc về ý cảnh của sáng tạo chỉ riêng bản thân tác giả có.


Còn như nhân vật phụ, họ đã mất đi sự tồn tại độc lập, chỉ là những bướu thịt thừa, những mô thức, những trải nghiệp hoặc mộng mơ của nhân vật “tôi” này. Tác giả tự đồng nhất với nhân vật “tôi” và cùng lúc đó khi không phải là nhà viết tiểu thuyết nên không bận tâm đến việc tạo ra một thế giới quen thuộc dễ chịu cho độc giả, hay phú cho các nhân vật của mình những quy mô, kích thước, tầm vóc bắt buộc vốn so sánh họ với sự giống thực một cách tai hại. Con mắt đam mê đầy ám ảnh hay mang nặng ảo giác của anh ta có khi vồ lấy nhân vật, có khi buông thả, có khi lôi kéo họ đi, có khi thổi phòng bóp nghẹt họ, nghiền nát họ để làm cho nảy sinh một thực tại mới mẻ mà anh ta đang có gắng tìm tòi.


Hội họa hiện đại cũng giống như vậy - chúng ta có thể nói, từ khi xuất hiện phái ấn tượng đến nay, tất cả những bức tranh đều là từ góc độ “tôi” để hạ bút - từ trong thế giới mà người xem ở vào đem vật thể muốn vẽ tách rời ra, và khiến nó biến hình, mục đích là đột xuất yếu tố hội họa.


Do kiên trì một cách ngoan cố kỹ xảo lỗi thời, tiểu thuyết đã biến làm một thứ nghệ thuật thứ yếu. Hiện giờ nên lựa chọn hành động giống như hội họa hiện đại để tìm kiếm đường lối sáng tác độc đáo của tiểu thuyết và phương thức biểu hiện riêng có của tiểu thuyết, đem cái không thuộc về phạm vi của mình nhường cho nghệ thuật khác - đặc biệt là nghệ thuật điện ảnh. Chính như nhiếp ảnh hiện giờ đã chiếm hữu đất vườn mà hội họa bỏ mà có được thành quả dồi dào, điện ảnh cũng có thể đem cái mà tiểu thuyết bỏ, thu thập lại, và khiến nó càng hoàn mỹ.


Độc giả hiện giờ không thể tìm tiêu khiển nhẹ nhõm trong tiểu thuyết nữa - bất kỳ tiểu thuyết ưu tú nào cũng thường thường không thể thỏa mãn yêu cầu này. Độc giả có thể từ điện ảnh có được thứ tiêu khiển đó, vừa không cần tốn sức lại không đến nỗi lãng phí thời gian, mà còn sự yêu chuộng của họ đối với nhân vật “giống như sống thật” và tình tiết câu chuyện, từ điện ảnh có thể được thỏa mãn.


Nhưng, điện ảnh hiện nay tựa hồ cũng tồn tại nguy cơ, nó giống như tiểu thuyết, cũng bị “nghi ngờ”. Nếu không phải như vậy, chúng ta khó mà giải thích tình huống này: một số bạn diễn điện ảnh nào đó noi theo nhà tiểu thuyết, cũng cảm thấy lo lắng đối với nguy cơ của điện ảnh, họ hiện giờ cũng sử dụng từ góc độ “tôi” xuất phát, thông qua con mắt một người mục kích hoặc tiếng nói của người kể tình tiết câu chuyện quay phim.


Còn như tiểu thuyết hiện đại, tuy nó vẫn chưa lợi dụng đầy đủ tiện lợi của lấy “tôi” làm người kể câu chuyện, vẫn chưa đi đến ngõ cụt mà bất kỳ kỹ xảo nào tất nhiên cuối cùng sẽ gặp phải, nhưng nó hiện đã ở vào trong cảnh bồn chồn bất an, đang cố sức tìm kiếm đường ra khác, để thoát khỏi cảnh khốn hiện nay.


Tinh thần nghi ngờ tuy đang hủy diệt nhân vật tiểu thuyết và các thứ thủ pháp lỗi thời khiến nhân vật bị ảnh hưởng, nhưng thứ tinh thần nghi ngờ đó lại biểu hiện một thứ phản ứng lại bệnh thái của một thể hữu cơ, vừa đủ để bảo vệ sự sinh tồn của mình, có được một thứ cân bằng mới lành mạnh. Tinh thần nghi ngờ của thời đại khiến nhà tiểu thuyết không thể không làm trọn “trách nhiệm cao nhất của ông ta: không phát hiện lĩnh vực mới”, và phòng ngừa ông ta phạm sai lầm nghiêm trọng nhất: “Lặp lại cái người trước đã phát hiện”. Đó là lời Filippo Toynbee([8]) nói khi nhắc đến lời dạy của Flaubert.


(Dịch từ “Tuyển tập danh tác lý luận văn nghệ phương Tây)


 


Nathalie Sarraute (1900-1999), tên thật là Natacha Tchernisk, vốn sinh ra ở vùng Ivanova (Nga) trong một gia đình trí thức người Do Thái. Lớn lên ở Pháp, bà tốt nghiệp cử nhân tiếng Anh và luật, hành nghề luật sư ở Paris cho đến năm 1940. Tác phẩm: Hướng động (1939), Chân dung một người xa lạ (1948), Martereau (1953), Mô hình vũ trụ (1959), Những quả vàng (1963), Yên lặng (1967), Nói dối (1967), Giữa sự sống và cái chết (1968), Các bạn có nghe thấy họ không? (1972), Những kẻ ngốc nói (1976), Tuổi thơ (1983), Hãy mở cửa (1997). Ngoài tiểu thuyết, bà còn viết tiểu luận Thời đại nghi ngờ (1956), và trở thành một trong những đại diện của trào lưu “Tiểu thuyết Mới”.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info


 


 







([1]) Một tác phẩm của André Gide phê phán sự giả dối và tàn nhẫn của gia đình tư sản Pháp.




([2]) Đó là lời chế giễu của Paul Valéry, nhà thơ lớn Pháp nửa đầu thế kỷ 20 đối với tiểu thuyết truyền thống để đạt tới giống như thật mà lựa chọn thủ pháp thiên thiên nhất luật.




([3]) Đây là một thứ trò chơi thường chơi trong kỳ nghỉ lễ Nô-en ở nông thôn Pháp. Người tham gia mỗi người rút một lá bài, trong rất nhiều ô vuông nhỏ bên trên viết các thứ số, người chủ trì từ trong 90 số khác nhau để trong một cái túi rút ra một ít, người nào số trong toàn bộ ô vuông gặp đôi, người đó là người may mắn.




([4]) Đó là lời Flaubert tác giả tiểu thuyết Bà Bovary nói.




 ([5]) Đây là một thứ trò chơi trẻ em Pháp thường chơi, trẻ được chọn làm nhà nặn tượng khi đuổi theo đồng bạn, người bị ngón tay đụng tới phải lập tức dừng lại không động, giống như biến thành tượng, nếu không thì bị phạt.




([6]) Trong thư Marcel Proust gửi cho Robert Dreyfus nói: “Tôi xưa nay không tả nhân vật đóng cửa sổ, rửa tay, mặc áo khoác, nói lời khách sáo giới thiệu v.v... nếu bộ tiểu thuyết của tôi có chút chỗ mới mẻ, có thể là ở đó...” - Tác giả chú.




 ([7])  William Faulkner (1897-1962), nhà văn nổi tiếng người Mỹ, được giải Nobel Văn học năm 1950.




([8]) Filippo Toynbee (1916-), nhà tiểu thuyết kiêm nhà bình luận văn học Anh.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »