tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19003153
Lý luận phê bình văn học
31.08.2009
Hoài Anh
Nguyễn Trí Huân - Một cách nhìn chiến tranh xác thiết

Gần ba mươi năm sau khi cuốn tiểu thuyết Năm 1975 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân ra đời, lần này tôi mới có dịp bình tĩnh đọc lại. Khoảng cách thời gian đủ cho tôi có thêm nhiều suy nghĩ mới, cũng như xác định lại những ý mà trước đây mình mường tượng cảm thấy nhưng chưa dám khẳng định vì chưa có chứng cứ cụ thể đủ sức thuyết phục. Đến nay chứng cứ đã có, nên tôi mới vững tâm phát biểu về một số vấn đề mà trước đây tôi còn ngần ngại nói ra, đó cũng là những điều mà Nguyễn Trí Huân tiên cảm sớm hơn so với đương thời.


Vấn đề đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ từ tính chất cách mạng dân tộc càng đến giai đoạn cuối cùng càng bộc lộ rõ tính chất đấu tranh giai cấp của nó. Kẻ địch như con thú điên cuồng trong cơn giẫy chết đã bộc lộ rõ bản chất giai cấp của chúng, nên chúng chống đối quyết liệt, gây cho ta nhiều thương vong tổn thất nặng nề. Về sức mạnh vật chất, có khi vũ khí hiện đại của đôi bên ngang nhau, trong một số trường hợp địch còn nhiều hơn ta, chỉ có sức mạnh tinh thần cộng với lòng nhân đạo mới giúp ta đè bẹp được bọn địch cuối cùng còn rất ngoan cố mang lại chiến thắng hoàn toàn mà đỡ tốn xương máu. Nguyễn Trí Huân đã giải thích lý do sự ngoan cố của địch qua lời nhân vật Thức nói với Phác:


“Cậu quên mất một điều cơ bản: hầu hết bọn sĩ quan cấp tá, cấp úy đều bị tư sản hóa – Thức ôn tồn ngắt lời Phác – Trong nhiều năm, bọn Mỹ đã đào tạo được một lớp sĩ quan đánh thuê khá trung thành bằng tiền bạc, gái, thuốc phiện và một hệ thống triết học phản động. Không hiếm những thằng trước đây chỉ là nông dân, học sinh, dân nghèo thành thị. Mình biết một thằng sống bằng nghề cúp tóc ở phố huyện. Cho đến năm sáu tư, nó vẫn sinh kế bằng cái cách vặt mũi đút miệng kiểu đó. Đùng một cái, bốn năm sau ngày Mỹ vào, nó trở thành một thằng tư sản bự – tại Đà Nẵng. Đấy, để có một thằng tư sản bự, tụi Mỹ chỉ mất bốn năm. Làng nhàng như thằng em cậu cũng có tiệm buôn ở Quy Nhơn, hùn vốn với một vài công ty bột giặt, sản xuất đồ nhựa tại Sài Gòn. Tất nhiên chúng nó muốn vơ vét, muốn giàu mãi, còn mình thủ tiêu cái giàu phi nghĩa ấy. Cậu tính làm sao chúng nó không chống đối đến cùng được.”


Điều đó giải thích tại sao Phán em Phác ở trong một gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng sau khi trở thành sĩ quan ngụy vẫn chống cách mạng, chống lại cha, anh mình. Trong cuộc gặp gỡ không mong muốn khi Phác về thăm mẹ, Phán đã nói với Phác: “Tôi cũng chán ngấy cuộc chiến tranh tương tàn này rồi – Nó nói giọng khinh bạc và kiểu cách – Tại sao các anh cố tình áp đặt một chế độ mà chúng tôi không lựa chọn. Thú thật gặp anh, tôi không còn một chút xúc động. Anh đã như một người lạ. Tôi không thù ghét anh, cũng không mong sum họp, đoàn tụ làm chi cho mệt...


... – Thế cậu quan niệm thế nào về cuộc chiến tranh này? – Phác hỏi. Anh thong thả rút bật lửa châm thuốc hút.


- Các anh cho nó là một cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng thực chất đó là một cuộc nội chiến – Nó đáp.


- Thế còn sự có mặt của năm mươi vạn lính viễn chinh Mỹ? Chẳng lẽ họ “nội chiến” chống một dân tộc khác? – Phác lại hỏi, giọng cố nén xuống. Anh chăm chú nhìn những bông hoa nhựa đặt trên mặt bàn.


- Họ là một lực lượng khách quan. Chúng tôi cũng không ưa gì họ.


Đến đây Phác không chịu được nữa. Anh không thể nhớ hết mình đã nói với nó những gì. Nhưng khi nó xô ghế đứng dậy, rút súng với một vẻ hăm dọa thì anh vẫn ngồi im, không ngạc nhiên mà chỉ thong thả vấn điếu khác – Nếu ông còn lăng nhục tôi, tôi không để ông ra khỏi căn nhà này – Mũi súng cũng không rời ngực Phác – Ông có đường của ông, tôi có đường của tôi. Mỗi người phải bảo vệ cái mà mình đã chọn. Ông đi ngay khỏi đây. Nếu không tôi sẽ kêu dân vệ tới”.


Không chỉ em mà cả mẹ Phác cũng đã thay đổi: “Điều khiến Phác đau đớn là anh đã mất luôn cả người mẹ. Phác nhìn mặt chiếc nhẫn to cộm trên ngón tay đầy đặn của mẹ, nhìn chiếc áo cánh mỏng bà đang mặc, lọn tóc giả xổ tung trên mặt nệm. Anh nhớ tới bàn tay gầy, tróc vảy vì công việc của cha. Làm sao bà ấy có thể bỏ cuộc sống này để đi với mình? Thiếu thốn, đói khát và còn cả chết chóc!”.


Mãi đến khi Phán đưa mẹ rút chạy về Nha Trang, bị bọn lính biệt động cướp hai chiếc va li đầy ắp của cải và cả chiếc khuyên nạm ngọc, bà mới chịu ở lại. Thoại nhận xét: “Sở dĩ bà cụ chịu chạy theo nó vì chưa thể dứt hẳn được với của cải, tiền bạc. Đến lúc bị cướp sạch trơn thì bà cụ cũng nhận ra chân tướng tụi nó”.


Còn Phán sau khi chạy về Vũng Tàu, đã lên tàu biển đi Mỹ nhưng khi con tàu rời khỏi bến vài chục mét, Phán đã nhảy xuống biển để bơi trở lại. Cuối cùng Phán đã ra trình diện ở Ủy ban quân quản. Khi Phán gặp nó trong đoàn lính tù, anh hỏi Phán: “Mày nghĩ thế nào mà lại nhảy xuống biển khi con tàu đã rời bến?” – Phán hỏi câu cuối cùng. “Tôi không thích đi Mỹ – nó đáp – tôi đã chán hết trơn trọi!”. Khi nói điều này Phác đọc thấy trong mắt nó một cái gì như một sự hối hận, nhưng cái ánh sáng ấy chỉ thoáng qua và cặp mắt nó lại u uất, chán chường như cũ. Phác lấy trong túi áo một gói thuốc đưa cho nó: “Cầm lấy!” – Anh nói. Nó nhìn gói thuốc một lát, lắc đầu rồi không nhìn Phác, lê bước theo đồng bọn lên cầu, lầm lũi và lạc lõng. Phác ngẩn người nhìn theo cái lưng áo nhàu nát của nó, lòng nhói lên một niềm thương hại không sao cắt nghĩa được. Phác nghĩ rằng nếu như sắp đến nó chịu cải tạo, chịu thay đổi thì đất nước, nhà cửa, anh em sẽ vẫn là của nó. Còn như nó lại trở mặt, phản bội cha anh mình một lần nữa, thì dù ở đâu, nó cũng không sao thoát khỏi cái chết...”.


Ở Phán, còn có thể có một sự chờ đợi, nhưng ở những tên địch ngoan cố như tên trung tá ngụy bị ta bao vây vẫn ra lệnh bắn bỏ những tên lính nào ra hàng, cuối cùng bắn chết cả vợ, con, em gái rồi tự sát. Tên đại tá Đức, sư trưởng sư 28 ngụy, tên trùm sỏ đảng Đại Việt ở Vũng Tàu, cũng ra lệnh bắn bỏ những tên lính nào ra hàng, cuối cùng bọn lính phải giết nó bằng tay không rồi xin ra hàng. Đối với những tên này, dù cho bị bắt được ta khoan hồng, nhưng không có gì đảm bảo sau đó chúng không tiếp tục chống lại ta, như năm bảy ba, nhiều tên bị bắt được ta phóng thích, sau đó ít ngày chiến sĩ ta lại giáp mặt chúng ở chốt của địch.


Một khi đã nhận thức được tính chất giai cấp trong cuộc chiến tranh thì người ta dễ hiểu tại sao đến những ngày cuối cùng của chiến tranh, trận tuyến giữa đôi bên càng co hẹp lại. Ở bên này, Phác, Duật và cả sư trưởng Khâm dù muốn hay không vẫn phải nhắm bắn thẳng về phía bên kia trong đó có em, anh và con mình (dù những người này có tự nguyện theo địch hay không). Chiến tranh có quy luật riêng của nó, len vào mỗi một gia đình.


Không gian ở đây bị thu hẹp lại đến cùng cực. Chỉ cần chiếm được cao điểm là có thể khống chế toàn bộ trận địa, tiêu diệt được địch nhiều hơn, bớt thương vong cho mình và nắm chắc thắng lợi. Pháo bắn thẳng có hiệu quả hơn bắn vồng cầu rất nhiều lần, lực uy hiếp lớn hơn mà còn đỡ tốn thời gian tính phần tử. Khoa học quân sự phát huy ưu thế rõ rệt, đòi hỏi mọi người phải ứng xử trên tinh thần khoa học, thực tiễn, chứ không phải chỉ là cảm tính...


Thời gian ở đây bị ép sát đến cùng cực. Có khi chỉ trong một tích tắc quyết định thắng hay bại, mà nếu bại thì tổn thất không sao lường nổi, không bao giờ lấy lại được. Nếu bắn gục được chiếc xe tăng địch, nếu chiếc thuyền không bị chết máy, thì Mạc và chiến sĩ ta không đến nỗi chết.


Cái chết ở đây cũng hết sức ngẫu nhiên, có thể xảy ra bất cứ lúc nào, không có triệu chứng, không có thời gian chuẩn bị. “Lúc này, mọi cái chết đều trở nên vô lý. Cùng lắm còn ngày mai, ngày mốt và dăm ba trận không đáng kể nữa...”.


Trong chiến tranh, có khi chỉ sai lầm nhỏ của một người cũng ảnh hưởng đến sự tồn vong của cả đất nước, nên con người phải đặt đời công lên trên đời tư, lợi ích cá nhân bắt buộc phải phục tùng cho lợi ích tập thể, lợi ích của dân tộc. Nhưng vì biết mình chiến đấu cho lý tưởng vì độc lập tự do cho Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân trong đó có cả gia đình mình, nên người chiến sĩ có niềm tự hào chính đáng. Các nhân vật Mạc, Phác, Duật, Thức, Thứ, Khâm... mỗi người đều có hoàn cảnh riêng của mình: Mạc có người vợ tên Nhuần lăng nhăng với một tay cửa hàng trưởng ở ngoài Bắc, đẻ một đứa con trai. Phác có em trai, Duật có anh ruột đi lính ngụy. Sư trưởng Khâm cũng có con trai bị bắt lính. Thứ cả nhà bị bom Mỹ giết chết, còn một đứa em trai công tác ở Tỉnh đội, cuối cùng cũng hy sinh. Chính ủy Trung đoàn Thức đã lớn tuổi vẫn chưa có điều kiện lập gia đình, hiện đang yêu Thư tha thiết nhưng vẫn chưa được sự nhận lời của Thư. Nhưng tất cả những người đó đều biết đặt nghĩa lớn lên trên tình riêng. Chính trị viên tiểu đoàn Mạc có lỗi đã để mất điểm cao 179, sau đó hối hận dày vò, tìm cách bù đắp lại lỗi lầm bằng việc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu với bất cứ giá nào, cuối cùng đã hy sinh anh dũng. Tiểu đoàn trưởng pháo binh Phác đề xuất biện pháp đưa pháo lên điểm cao bắn thẳng vào cứ điểm địch dù biết rằng mình có thể bắn vào em mình. Duật vẫn vững vàng chiến đấu, sau đó anh của Duật bị du kích bắn chết, trong số những người nổ súng có cả em gái Duật. Chính trị viên đội phẫu Thư đưa đội phẫu của mình lên sát gần trận địa. Thức rất yêu Thư nhưng không ngăn cản quyết định đó của Thư. Những nhân vật Mạc, Thức đều làm tròn nhiệm vụ của người chính trị viên trong quân đội, không những luôn giáo dục động viên chiến sĩ giữ vững tinh thần chiến đấu, giải quyết tư tưởng cho anh em mà còn góp phần vào hoạch định kế hoạch tác chiến và đích thân chỉ huy tác chiến và khắc phục hậu quả. Có thể nói người chính trị viên là linh hồn của quân đội. Một trong những điểm ưu việt của quân đội nhân dân là có vai trò của người chính trị viên.


Trong nhật ký của một sĩ quan ngụy chết trước tổng tiến công mùa xuân 1975 được coi là phụ trương đặt ở đầu tiểu thuyết, tên này cũng phải thừa nhận: “Chiến tranh bây giờ là sự đọ sức giữa sức mạnh quân sự vừa bao hàm vấn đề chính trị. Sự thiếu sót quan trọng của quân đội miền Nam là đặt sai tầm mức và cứu cánh của những thành phần chính trị. Có thể nói quân đội không có chính trị viên. Các cán bộ thụ huấn các khóa chiến tranh chính trị khi được gởi về đơn vị tác chiến đã làm gì? Họ sẽ trực thuộc vào cấp chỉ huy ở đơn vị đảm nhận và chỉ phụ trách những công việc thuộc về lễ nghi, thủ tục, văn nghệ vớ vẩn. Những khuyết điểm cố hữu đã tạo thành một định kiến và người ta không nghĩ rằng, sự phối hợp giữa quân sự và chính trị là cần thiết trên phương diện chiến thuật, chiến lược. Người ta không nghĩ rằng, sự phối hợp ở hạ tầng cũng quan trọng như ở cấp trung ương.


Có thể nói hiện giờ quân đội miền Nam chỉ dùng sức mạnh của vũ khí, quân số chống với một quân đội dùng sức mạnh của quân sự kết hợp với chính trị. Có dịp, ta phải sưu tầm tài liệu tìm hiểu xem vai trò người chính trị viên trong quân đội miền Bắc như thế nào trên phương diện quân sự. Hiện tại, nếu muốn có sự cải tạo, điều cần thiết là phải đặt lại vai trò người chính trị viên trong quân đội. Có thể, sự cải tạo đó sẽ phải làm đảo lộn mọi cơ cấu, hệ thống hiện hữu”.


Sự phối hợp chặt chẽ giữa quân sự và chính trị được thể hiện trong tiểu thuyết qua hai nhân vật Mạc và Nhã. Nhã là tiểu đoàn trưởng có nhiệm vụ chỉ huy tác chiến, nhưng lại đi sát với đơn vị, làm cả công việc của chiến sĩ bình thường, kể cả việc bò vào hàng rào, cõng thương binh về. Nhã lại luôn xông xáo đi đầu trong chiến đấu. “Trận đánh nào trở về, Nhã cũng mang theo một vết thương không nặng thì nhẹ”.


Khi bị thương phải đi bệnh xá điều trị, “Mạc vẫn không thật an tâm, anh biết tính của Nhã, Nhã chỉ huy tác chiến táo bạo và đang được sư đoàn chú ý nhưng nếu không có Mạc, Nhã dễ đơn giản và chủ quan”.


Bởi Nhã với Mạc như hình với bóng, nên khi Nhã hy sinh, Mạc vô cùng đau đớn: “Vắng ông tôi sẽ khó sẽ khổ, nhưng ông cứ yên tâm mà đi. Tôi và những đảng viên còn lại sẽ thực hiện bằng được nghị quyết của đảng ủy, xây dựng tiểu đoàn ta thành một tập thể anh hùng...”.


Nếu Nhã sống và chết đều rất thanh thản, thì cái chết của Mạc lại rất tức tưởi. Thuyền chết máy, lại bị đại bác của địch bắn, Mạc phải nhảy xuống nước, đạn nổ ngay bên cạnh, nước ộc vào miệng, vào mũi, vào tai Mạc. Mạc chết chìm, xác có thể giạt vào bờ sú hoặc trôi ra biển.... Những cái chết của Trung, Doanh, Phương... cái chết nào cũng giản dị mà hào hùng...


Nghĩ đến đây, chúng ta càng thương tiếc những đồng chí đã hy sinh cách giờ thắng lợi chỉ một quãng thời gian ngắn, trong khi trong lòng các anh còn ấp ủ biết bao dự tính sẽ làm gì khi hòa bình trở lại. Mạc vẫn có ý định tha thứ cho người vợ lỗi lầm, muốn cải tạo Nhuần bằng cách đưa Nhuần về làm việc ở nông trường trồng chè ở Tây Nguyên do Thức phụ trách. Sau chiến tranh, một bộ phận lớn quân đội sẽ chuyển sang làm kinh tế. Như lời Tư lệnh trưởng nói: “Những ai nghĩ sau chiến tranh bộ đội có quyền nghỉ ngơi là không đúng. Rằng quân số các lực lượng vũ trang sẽ không giảm đi mà còn tăng lên. Ông nói đến việc phân bố lại các vùng dân cư, đến các dự kiến xây dựng những thành phố công nghiệp, nông nghiệp... Ông cũng không e dè khi nói tới một cuộc chiến tranh có thể xảy ra trong tương lai... Mọi người hiểu cách mạng chuyển giai đoạn, nhiệm vụ của họ càng nặng nề hơn”.


Ý tưởng của tư lệnh trưởng được cập nhật hóa trong nhận xét của Thức: “Tình hình nơi sư đoàn Thức sắp xây dựng nông trường còn rất phức tạp. Bọn phỉ Phun rô đang hoạt động trở lại, chúng tập kích vào trụ sở chính quyền các buôn, xã, chặn xe cướp giật, bắt cóc cán bộ. Và điều kinh ngạc hơn, theo đồng chí tư lệnh quân sự cho biết, ngay cả các lực lượng nhỏ quân đội nước láng giềng cũng hoạt động quấy rối dọc biên giới. Ngày đó, Thức chưa đủ thực tế để cắt nghĩa được mầm mống của một cuộc chiến tranh trong tương lai. Anh chỉ nghĩ đấy là những sai lầm của một số đơn vị nhỏ. Chẳng lẽ họ lại khởi sự một cuộc khiêu khích lớn nhằm vào những người đồng chí đã tận tình, hết lòng giúp đỡ họ?”.


Dự báo của tư lệnh trưởng chỉ sau một thời gian ngắn đã thành sự thật, bác bỏ những ý nghĩ chủ quan của một số cán bộ, chiến sĩ lúc đó:


“- Các anh bảo liệu có thằng nào dám dòm ngó đất nước mình nữa không? – Một tiếng hỏi sau lưng Thức – Thằng Mỹ thì bố bảo cũng không dám quay lưng lại, ít nhất vài chục năm tới. Ngoài ra, không thằng nào đủ sức để chọi nhau với mình hết:


- Điều này chưa thể biết trước được. Thôi, ăn sắn đã, chính ủy! Thức quay lại, ánh lửa ùa vào khuôn mặt rạng rỡ của anh. Mùi sắn chín thơm phức.


- Theo mình, một cuộc chiến tranh quy mô như bọn Mỹ chưa thể xảy ra được – Anh nói – Nhưng phá hoại, gây rối, kiềm chế, áp đặt nhất định sẽ có!


- Mình dám thách thức tất tật chúng nó! – Một người có tuổi từ nãy ngồi im, giờ mới cất tiếng nói. Giọng ông ồm ồm và vang tưởng át cả tiếng con suối chảy ngoài đầu lán – Không thằng nào quân sự mạnh hơn thằng Mỹ. Đã thắng Mỹ, mình thừa sức thắng mọi thằng khác!


“Đêm nay, các anh lại bàn tới một cuộc chiến tranh tương lai – Thức quay vào bàn viết tiếp – Không người nào từ chối một cuộc chiến tranh giữ nước nếu nó lại xảy ra, Thư ạ! Chắc chắn cả anh và em, cả con cái chúng ta sau này cũng thế”.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những cuộc trở về của thơ Việt hải ngoại - Thanh Thảo 29.04.2017
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 26.04.2017
Nhân tính và nhân phẩm trong tập truyện Ký thác của Bình Nguyên Lộc - Vinh Lan 25.04.2017
Lời trong đời sống và trong thơ - Voloshinov 22.04.2017
Nỗi đau trong văn chương - Trần Đình Sử 22.04.2017
Hai cách đọc bài thơ Khiển hoài của Đỗ Mục - Hà Văn Thùy 21.04.2017
Đồng thuận xã hội - Một số vấn đề lý luận - Chu Văn Tuân 18.04.2017
Nguyễn Đăng Na và những thành tựu nghiên cứu văn học trung đại - Trần Đình Sử 05.04.2017
Những giới hạn của lý thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam - Trương Đăng Dung 31.03.2017
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
xem thêm »