tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18451623
Lý luận phê bình văn học
27.08.2009
Hoài Anh
Nguyễn Phan Hách, từ phong tục cổ truyền đến phong khí thời đại

Nối tiếp thế hệ của Kim Lân, thế hệ giữa các nhà văn Bắc Ninh vẫn tiếp tục đi vào đề tài phong tục nông thôn Bắc Ninh. Nguyễn Phan Hách đã có những trang miêu tả phong tục đặc sắc với sự quan sát điều tra chính xác, tỉ mỉ của một nhà phong tục học, cái nhìn hiện thực nghiêm ngặt và ngòi bút linh hoạt, biến hóa của một nhà tiểu thuyết. Như Mê cung (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1990), có cảnh Hội chen kết hợp cái nhìn của tác giả với cái nhìn của nhân vật: “Từng bọn “bạn chen” trôi qua bên đường như những đợt sóng. Giờ này trong đình làng đang có cuộc tế thần. Hết canh ba mới “lễ tất”. Suốt thời gian tế con trai con gái cứ tha hồ chen nhau sờ soạng nhau. Có thế mới mưa thuận gió hòa, lúa má chẳng sâu sia, người không dịch bệnh, quan ôn chẳng đến làng...


Tiếng trống thu không canh ba trên vọng lâu đã thong thả điểm những tiếng đầu. Dứt nhịp trống này “lễ tất” hội chen chấm dứt.


Ngoài nhà “giải vũ” bọn trương tuần quản xã đã dốc ngược các chai rượu tu giọt cuối cùng, xé lá chuối gói lấy phần thịt mỡ xương xẩu ăn thừa. Mỗi đứa một chiếc roi song lăm lăm, chúng có nhiệm vụ, khi tiếng trống thu không cuối cùng vừa dứt, là xông ra đường. Thời hạn cho trai gái nô đùa nhau đã hết. Lúc ấy mà còn sờ vú sờ lườn nhau sẽ làm hỏng hết các phép nhiệm màu của lễ hội chen. Hơn thế nữa, như thuốc dùng quá liều công phạt, cả làng sẽ bị chết oan. Sẽ bị vỡ làng, chồng nào vợ nấy bị gậy mà đi ăn mày. Hoặc khủng khiếp hơn, Quan ôn sẽ về bắt từ đứa bé lên ba đến ông già đầu bạc.


Cho nên sứ mệnh của bọn quản xã trong tuần cực kỳ quan trọng. Cứ là quất sướng tay, đuổi như đuổi vịt. Đứa nào còn nấn ná, chưa chạy kịp, vỡ đầu xẻ tai mặc kệ. Vỡ đầu xẻ tai mình mày còn hơn chết cả làng”.


Trong Khốp ngựa ô, có cảnh hát cung văn ở điện thờ thánh mẫu, có cảnh đứa trẻ múa điệu phi ngựa hát bài Khốp ngựa ô, với ngôi thứ ba kể chuyện.


Trong Tình đùa, có cảnh hát quan họ với góc nhìn của một nhân vật trong truyện: “Cái Can bắt đầu diễn xuất, chớp chớp đôi mắt, mắt thì tất nhiên vẫn “khô rang” thôi; nhưng với nghệ thuật biểu hiện thế nào mà trông như thành đang đẫm lệ, đang mờ đi vì chua xót đau khổ. Tay nó đưa lên chỉ chỉ, như chỉ vào chiếc chén son làm nhân chứng còn rành rành ra đó, như chỉ mặt kẻ bạc tình; giọng nó chói lên cao vót, rồi như rót từ trên xuống một dòng xối xả tối tăm mặt mũi cho kẻ bạc tình ngập ngụa chết sặc. Cũng một nội dung lời hát, mà tôi chỉ lo biểu hiện cái ý buồn bã oán trách yếu đuối; còn nó thì lại biểu hiện cái ý tấn công vạch mặt “lành làm gáo vỡ làm muôi” “bà” cũng chẳng cần, mặc dù “bà” đang đau khổ muốn chết được đây (A, bọn con gái gớm thật). Trời, tôi đang được cái Can oán hận, đau khổ muốn chết vì yêu tôi... Ôi, thích quá. Nó diễn tả như thật, mà là “thật” không biết chừng ấy chứ lị. Nghệ thuật là thế mà, giả mà thật; thật mà giả khôn lường...”.


Nguyễn Phan Hách miêu tả phong tục không phải chỉ để khảo sát hay điểm xuyết cho câu chuyện, mà phong tục ở đây gắn liền với cốt truyện, tính cách, tâm lý nhân vật. Không những thế phong tục còn góp phần tạo nên mâu thuẫn, xung đột, nhiều khi dẫn những bi kịch, những thảm cảnh xã hội. Nếu không có hội chen, thì chưa chắc Thản đã có mang với anh con trai, bị đuổi ra khỏi làng, sinh ra đứa con hoang là thằng Hảo, để sau này Hảo dựa vào chức vụ gây ra những hành động không quân tử. Nếu không có chuyện mê tiếng hát của người cung văn thì bà Nụ đã không có mang với hắn, sinh đứa con là thằng Bút, để sau này Bút phụ rẫy vợ con. Nếu không có cái luật lệ tàn nhẫn cấm trai gái Quan họ yêu nhau, thì đã không có chuyện Miên tự tử và Viên đi tu.


Nguyễn Phan Hách không dừng lại ở việc miêu tả phong tục đơn thuần, hay gắn phong tục với từng giai đoạn lịch sử cụ thể, mà còn tiến lên miêu tả phong khí của từng thời đại một. Như nhân vật bà Đức Hạnh, một nữ cán bộ khi đang hoạt động cách mạng, đau đẻ, bị gia đình ông Thổ khênh ra, từng: “Họ đã xúm vào cầm chân. Bà Đức Hạnh đang mê man, vụt tỉnh lại, rút phắt khẩu súng giắt bên cạp sườn:


- Ai động đến, tôi bắn. Tôi vì nước, vì dân. Ai hại tôi kẻ đó là phản động, là tay sai của Pháp.


Chỉ kịp nói thế, bà lại giẫy lên. Cùng lúc vỡ ối, bà thét một tiếng xé ruột, chân tay co giật, làm cướp cò khẩu súng lục. Không trúng ai, nhưng đã làm cả nhà ông Thổ kinh hoàng bỏ chạy.


Sau khi cái thai ra rồi, bà nằm lịm. Nhưng tay vẫn lăm lăm súng lục”.


Đến thời kỳ kháng chiến thì bà Đức Hạnh: “Con người dè bửu các thứ nữ trang, coi son phấn là biểu tượng đĩ điếm, mốt thời trang là sự suy đồi. Đó là người đàn bà không biết đến các trạng thái bâng khuâng thổn thức là gì; chỉ có sự hăm hở sục sôi, sắt đá không lùi bước, và quyết chiến thắng.


Một chiếc lược gỗ, chiếc áo lõi bông, vỏ ngoài chéo xanh, đôi dép cao su đủ quai, một chiếc khăn len vuông, những chồng cặp ba dây đầy tài liệu chính trị, một sổ tiết kiệm gửi tiền mặt đều đặn, dù tiền mất giá hàng tuần cũng mặc. Đó là tất cả những gì bà ngã xuống ngoài mặt trận, không về nữa, để lại cho ông trong chiếc táp đờ nuy gỗ bao bì kê ngay đầu giường: “Tuy bàn tay thép như vậy, bà vẫn không uốn nổi con trai, con gái, con dâu vào cái khuôn công thức giáo điều, mặc dù đã dùng đủ biện pháp từ bắt tự kiểm điểm, đến sử dụng áp lực chính trị để răn đe, ngăn chặn mẫu người của một thời đại này khác hẳn với các nhân vật “tiếp” đợt sóng mới thích “các đĩa nhạc rốc với hình cô ca sĩ tóc “Xì tôn” xù ra như tổ quạ”.


Hầu hết các truyện dài truyện vừa của Nguyễn Phan Hách, câu chuyện đều diễn tiến trong vài chục năm. Do đó thời gian cùng với không gian đóng vai trò “tọa tiêu” quan trọng trong Nguyễn Phan Hách. Đọc Nguyễn Phan Hách, tôi bỗng liên tưởng đến quan niệm về thời gian trong tồn tại luận của Heidegger, được trình bày trong tác phẩm triết học Tồn tại và thời gian một trứ tác kinh điển mang tính chất vạch thời đại, gây nên một cuộc cách mạng thực sự trong triết học phương Tây thế kỷ 20.


Theo Heidegger, tuy con người cũng giống như các sự vật khác, đều tồn tại, nhưng tồn tại của y không giống với tồn tại của các sự vật khác, y có thể lĩnh ngộ tồn tại. Bởi vậy, Heidegger đem tồn tại của con người gọi là sinh tồn, chỉ con người và tồn tại có một thứ quan hệ đặc thù. Lại bởi muốn làm nổi bật quy định đặc thù của ông đối với con người, khu biệt với nghiên cứu về con người trước đây, Heidegger gọi con người là “ở đây lúc này”. “Ở đây lúc này trong Đức văn là Dasein, từ này do hai bộ phận tiền tố da và từ căn sein tổ chức thành, da ý tứ là nơi đây và lúc này, mà ý tứ của sein là tồn tại. Heidegger dùng từ Dasein để nói lên đặc trưng tồn tại và phương thức tồn tại của con người, tức y vẫn cứ bị quẳng vào một địa phương nào đó, vào một thời gian nào đó, mà sự cởi mở đối với tồn tại của y hoặc mối quan hệ của y với tồn tại cũng xảy ra trong thời gian và không gian đó.


“Ở đây lúc này” là cái mà trước đó Heidegger gọi là “đời sống thực sự” tức kinh nghiệm tiền lý luận của con người, hoặc phương thức tồn tại của y. Như trên đã nói, phương thức tồn tại của con người không giống với phương thức tồn tại của các sự vật khác, ở chỗ y với tồn tại có một thứ quan hệ cởi mở đối với tồn tại, là sự cởi mở đối với tính khả năng. Bản chất của “ở đây lúc này” là ở chỗ có thể tồn tại và thực tồn tại. Cũng tức là nói, khác với mọi sự vật khác, “ở đây lúc này” là trước tồn tại, mà sau mới có bản chất, mà các sự vật khác thì trái ngược lại. Nói cách khác, “ở đây lúc này” là tồn tại ở trước bản chất, mà những cái tồn tại khác thì bản chất ở trước tồn tại. Một cái bàn vĩnh viễn chỉ có thể là một cái bàn, mà con người vĩnh viễn có tính khả năng của y. Cái đó là căn cứ đích thực của tự do, cũng là phương thức tồn tại bản thân của con người.


Nhưng, giống như nhà triết học sẽ quên tồn tại vậy, con người cũng sẽ quên phương thức tồn tại bản chân của y mà hãm vào phương thức tồn tại phi bản chân của y, bản chân và phi bản chân ở đây không có hàm nghĩa đạo đức. Tồn tại bản chân ý tứ là có được mình; mà tồn tại phi bản chân lại là đánh mất mình, cũng giống như “tha hóa” mà Mác nói. Người ta ở trên thế giới này bận rộn ở các thứ sự vật, hoặc khôn khéo tính toán, hoặc chém giết liều mạng, hoặc lừa lọc cướp đoạt, hoặc đầu cơ kiếm chác, tóm lại là chìm đắm vào các thứ sự vật hàng ngày, mà hoàn toàn quên tính khả năng của mình, quên tự do của mình. Đó là phương thức tồn tại phi bản chân.


Nhưng, phương thức tồn tại bản chân cũng không có định nghĩa là chúng ta có tính khả năng và tự do vô hạn; trái lại tính khả năng hoặc tự do mà chúng ta có vẫn cứ là hữu hạn, giới định. Bởi vì chúng ta là tồn tại ở trên thế giới, thế giới này không vì ý chí của chúng ta mà chuyển dời. Nói cách khác, chúng ta là bị quẳng vào thế giới này. Người sống ở đời đầu tiên không phải là tiến hành sự nhận thức thuần túy đối với vạn sự vạn vật trên đời, mà là có giao thiệp thực dụng các loại các dạng. Ăn mặc ở đi, tức là loại đó. Cái đó có nghĩa, các thứ sự vật trên thế giới đối với chúng ta, đầu tiên là khí cụ dùng để làm việc. Những khí cụ đó đều có mục đích thực dụng, như bát dùng để đựng cơm, chậu dùng để rửa rau, ấm dùng để nấu nước v.v... Hơn nữa, những khí cụ đó đều không cô lập, mà liên hệ với nhau, như muốn may quần áo thì phải có kim chỉ, muốn có kim chỉ cần phải có mỏ sắt và bông, vân vân và vân vân, dĩ chí vô cùng, hình thành một chỉnh thể quan hệ, cũng tức là thế giới. Thế giới đó, chúng ta trước nay rất quen thuộc, không cần chuyên nhận thức học tập, chúng ta biết gì là gì. Mọi cái chúng ta hàng ngày gặp phải và xử lý, ý nghĩa của nó sớm đã quy định xong. Chúng ta và tổng thể quan hệ đó, hoặc thế giới, có một thứ quan hệ thiêng liêng. Hoặc giả nói, chúng ta đối với mọi cái của thế giới đó có một thứ lĩnh ngộ tiền lý luận. Thế giới đó cũng tức là tồn tại.


Con người bị quẳng vào thế giới này, hàng ngày không những phải giao thiệp với sự vật các loại các dạng, cũng phải giao thiệp với người các loại các dạng. Người chìm đắm trong sự vụ hàng ngày, hoàn toàn quên mất mình, nói một cách sát đúng, quên mất tính khả năng của mình. Người ta không phải sống từ tính khả năng của mình, mà là sống đời sống “thường nhân”. Nhưng người người đều là thường nhân, lại đều không có mình. Thường nhân đó, kỳ thực là không có “cái người đó”. Thứ trạng thái đó không phải là trạng thái đặc biệt, mà chính là trạng thái đời sống hàng ngày. Đó tức là nói, cái chúng ta sống hàng ngày là một thứ đời sống vô ngã. Mà đó lại là trạng thái bình thường của đời sống.


Chính bởi vì như vậy, tuy người ta hàng ngày bận rộn, mưu toan tựa hồ vui sướng vô cùng, nhưng thời gian lâu dần, một thứ cảm giác trống rỗng, một thứ cảm giác không có gốc rễ, hoặc cảm giác không nơi nương tựa, sẽ ngấm ngầm sinh ra. Thứ cảm giác như cá gặp nước trong đời sống hàng ngày bình thời, đột nhiên biến mất, người ta không thể không đối mặt với vấn đề tồn tại của mình. Lúc đó mới phát hiện, người ta chỉ có thể đối mặt với mình, không thể dựa vào cái gì. Tạm thời thoát ra khỏi chạy vạy theo đuổi mọi cái hàng ngày, người ta lúc đó đối mặt với tự do, nhưng lại là tự do khiến người phát sợ. Tự do đó không phải là tùy theo lòng mong muốn, mà là đối mặt với tính khả năng của mình. Không có ai sẽ nói với anh nên làm thế nào, anh cần phải tự nhọc lòng lo nghĩ về nó. Nhọc lòng lo nghĩ là quan tâm và lo lắng, do ở thứ nhọc lòng lo nghĩ đó, người ta cảm thấy y cần thành tồn tại của mình, mà không phải là chìm đắm trong thứ tồn tại phi bản chân của sự vụ hàng ngày. Người sở dĩ có thể khôi phục hoặc trở về phương thức tồn tại bản chân của mình, hoặc ý thức được mình là cái tự do, không phải là ở lương tri hoặc ý chí của y, cũng không phải ở sự tự ý thức của y, mà là ở thứ nhọc lòng lo nghĩ của y. Thứ nhọc lòng lo nghĩ đó thể hiện đặc trưng có thể tồn tại của tồn tại luận của y, tức y có thể quy hoạch tính khả năng của mình, xu hướng tới tính bản chân của mình.


Quy hoạch tính khả năng của mình là ở trước tồn tại của mình, bị quẳng vào thế giới là đã tồn tại ở thế giới, mà chìm đắm trong sự vật thế gian là cùng tồn tại với mọi cái trên đời. Lấy cái đó làm cơ sở, Heidegger triển khai quan niệm về thời gian độc đáo của ông. Trong đời sống, thời gian là khái niệm phổ thông nhất. Chúng ta cần ở trong thời gian làm mọi chuyện, trong thời gian gặp gỡ mọi cái, trong thời gian sống trọn một đời chúng ta. Nhưng trong triết học, thời gian lại là khái niệm phức tạp; mà khái niệm thời gian của Heidegger càng phức tạp hơn, bởi nó khác với những cái khác. Heidegger cho rằng, khái niệm thời gian trước đây chỉ có thể dùng trong sự vật của tự nhiên, hoặc cái hàng ngày, nhưng không thể dùng trong lĩnh vực tồn tại luận. Thời gian là cảnh vực tồn tại và “ở đây lúc này” gặp nhau, cũng là trường sở tồn tại mở rộng tự thân ra. Nhưng đó không phải là thời gian trên ý nghĩa truyền thống, mà là thời gian trên ý nghĩa tồn tại luận. Thời gian trên ý nghĩa truyền thống là một loạt tuyến tính quá khứ, hiện tại và vị lai liên tục, lấy hiện tại làm trung tâm, quá khứ là hiện tại đã qua, vị lai là hiện tại sắp đến. Trong khái niệm thời gian truyền thống, hiện tại có tính ưu tiên. Khái niệm thời gian của Heidegger cũng do ba bộ phận tổ chức thành, nhưng cái có địa vị ưu tiên không phải là hiện tại mà là vị lai. Đó là do mô thức tồn tại và “ở đây lúc này” quyết định.


Như trên đã nói, đặc trưng tồn tại luận của “ở đây lúc này” là ở chỗ y có thể quy hoạch tính khả năng của mình, hướng tới tính bản chân của mình. Quy hoạch tính khả năng của mình là quy hoạch tồn tại của mình. Quy hoạch mình là sự hướng tới thực hiện mình. Cũng tức là nói, khi quy hoạch mình, “ở đây lúc này” trên thực tế là ở trước tồn tại của mình, hoặc ở trước mặt mình mà tồn tại. Đó là vị lai mà Heidegger nói. Tồn tại ở trước mặt mình là có một thứ chờ đợi, chờ đợi đã là cái ở đấy (trước mặt), hoặc giả nói phục hồi cái mình đã có. Thứ phục hồi đó, là quá khứ trên ý nghĩa của Heidegger. Mà hiện tại ông nói, chỉ là tiếp cận với cái tồn tại khác. Vị lai, quá khứ và hiện tại cấu thành một thể thống nhất. Trong thể thống nhất này, vị lai có tính ưu tiên. Vị lai sở dĩ có tính ưu tiên, là bởi vì ý vị vươn dài và cởi mở của nó mạnh nhất. Thời gian hoặc tính thời gian cấu thành một cảnh vực cởi mở, tồn tại là mở rộng mình ra trong cảnh vực đó. Thời gian trên ý nghĩa truyền thống, hoặc thời gian thông thường, là một loại vô hạn, mà tính thời gian “ở đây lúc này” là hữu hạn, bởi vì “ở đây lúc này” là một tồn tại hữu hạn. Bởi vậy, cái mở rộng ra trong tính thời gian chỉ là một mô thức tồn tại hữu hạn nội tại, mà không phải là mô thức tồn tại vô hạn.


Triết học phương Tây truyền thống vẫn cứ theo đuổi bản chất vĩnh hằng bất biến, nhân đó mà vẫn cứ quy kết thời gian làm hiện tượng, hoặc điều kiện của cái phi bản chất, không có địa vị quan trọng trong lĩnh vực bản thể. Hơn nữa, do chỗ nó đặt hiện tại ở địa vị ưu tiên, trên thực tế cuối cùng khiến thời gian phi thời gian hóa. Học thuyết thời gian của Heidegger triệt để lật đổ truyền thống này. Theo ông nhìn, thời gian là điều kiện cơ bản của tồn tại, bản thân tồn tại là cái không có thời gian. Dựa theo khái niệm thời gian truyền thống, dường như thời gian chỉ là một dòng chảy độc lập, trừu tượng, ở bên ngoài tồn tại của chúng ta, chúng ta không sống trong thời gian. Mà khái niệm thời gian của Heidegger lại không thể phân cắt với khái niệm đời sống, cùng tồn tại là quan hệ một mà hai, hai mà một. Chúng ta không phải là sống ở ngoài thời gian, mà là sống với thời gian, hoặc giả nói, thời gian là tồn tại của chúng ta, đời sống của chúng ta. Như vậy, tồn tại đầu tiên không phải là một cách khách quan ở đấy, mà là điều kiện đời sống triển khai trong đời sống chúng ta. Nói tồn tại duy chỉ có con người có thể lĩnh ngộ, hoặc tồn tại phải triển khai trong tính thời gian của (con người) “ở đây lúc này”, điều nói kỳ thực là một ý tứ, tức con người là một trường sở lộ rõ tồn tại, tồn tại là điều kiện của con người.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »