tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18982823
Lý luận phê bình văn học
26.08.2009
Hoài Anh
Nguyễn Minh Châu - Cuộc đối chứng giữa người và vật (3)

Trong bài tựa cuốn Pierreet Jean (Albin Michel, 1807), Guy De Maupssant đã viết: “Mục đích của ông (nhà tiểu thuyết -H.A) không phải là kể cho chúng ta một câu chuyện, không phải là mua vui cho chúng ta hay là làm cho chúng ta phải bùi ngùi cảm xúc, mà là bắt chúng ta phải suy nghĩ, phải tìm hiểu ý nghĩa sâu xa và bí ẩn của các biến cố, vì đã quan sát và suy ngẫm nhiều, ông ta nhìn vũ trụ sự vật, các việc và các con người theo một cái kiểu riêng biệt của ông, nó là kết tinh của toàn thể các điều quan sát, nghiền ngẫm của ông. Chính cái nhìn đặc biệt về thế giới này là điều mà ông ta muốn truyền thông cho chúng ta, trong khi cố thể hiện nó trong sáng”.


Tôi nghĩ đến những lời nói trên khi đọc truyện Cỏ lau của Nguyễn Minh Châu, trong đó tình tiết người chồng cũ - mà người vợ tưởng là đã chết- gặp lại vợ và người chồng mới của vợ giống như một truyện ngắn của Maupssant nhưng bối cảnh của sự kiện, tính cách và hành động của các nhân vật... khác với truyện ngắn của Maupusant, chứng minh Nguyễn Minh Châu không kể cho chúng ta một câu chuyện éo le mà nhìn vũ trụ, sự vật, các việc và các con người theo một cái nhìn riêng biệt của Nguyễn Minh Châu. Ở đây đã diễn ra đối chứng giữa người sống và người chết:


- Tôi tự hào ngắm những lối đi, những bức tượng, bia ghi công và đài tưởng niệm, tất cả đều dở dang bề bộn và thoáng một chút so sánh với các anh em được về nằm ở đây với ngôi mộ của mình giữa bãi tha ma ngoài thị trấn. Tôi cầm tay Tha dắt đi quay trở lại, tôi nhìn đăm đăm một ngọn đèn của gia đình ai vừa thắp trong một ngôi nhà đất của những người đi khai hoang. Tôi đã sáp vào Tha tìm lại hơi thở cũ, lại tìm một chỗ trú nấp cho linh hồn mình, vẫn biết một cách đau đớn rằng cuộc sống đã an bài. Tha chẳng dễ thay đổi được hoàn cảnh. Và rồi cuối cùng giữa những người đàn bà bằng đá đầy cô đơn giữa trời xanh đứng nhìn xuống một vùng thung lũng đất đai được tưới bón đã trở nên phì nhiêu, có một người lính già sống một đời ở đấy cùng với một ông bố, trồng sắn, và lúa trên một vạt đất có một ngôi mộ, thỉnh thoảng một mình chèo một chiếc thuyền gỗ xuôi sông Đồng Vôi về làng chơi.


Đối chứng giữa người sống và nắm xương:


- Tôi giả lại cái vinh dự, vinh quang với lại những cái gì cho các ông, tôi chỉ thiết có một chút nắm xương của người tình của tôi đang bị lẫn lộn với đất ở đây.


- Tôi nhẩm đếm số bao nylông, không khỏi lắc đầu ghê sợ trước những cánh rừng cỏ lau. Đang nằm ngủ yên sau lưng tôi là những đồng chí mình mà chúng tôi đã mở không biết bao nhiêu chiến dịch vật lộn với cỏ lau trong vùng núi Đọi mới giành lại được. Tôi có dịp hiểu rằng chung quanh một nắm xương của người chết trong chiến tranh có bao nhiêu chuyện. Vì thế mà kinh nghiệm dạy cho chúng tôi cần phải bao phủ lên nó thật nhiều làn hương khói của thiêng liêng.


- Việc xây dựng khu nghĩa trang gặp bao nhiêu khó khăn vượt ra ngoài sức chúng tôi một đoàn chính sách. Với bao nhiêu nỗi lo toan tính tóan hối hả trong thời bình, mỗi con người chúng ta có lẽ đôi khi cũng là một cánh rừng cỏ lau giàu sức sống rất chóng lãng quên những người lính đã ngã xuống.


- Vị tư lệnh nào cũng hứa, ông cục trưởng, anh trưởng phòng nào cũng hứa. Hứa xong rồi bỏ đấy hoặc quên ngay. Còn bận xây nhà, còn bận lo cho con trai, con gái leo vào đại học, đi học nước ngoài. Mà các anh dân sự nhà nước này cũng ăn ở tệ bạc. Vứt hàng tỉ xuống sông xuống biển không tiếc nhưng tiếc cái thằng lính đã hy sinh cho họ ở biệt thự từng thước vải để lót tiểu.


Đối chứng giữa con người với hòn Vọng Phu:


Từ những vạt sắn tăng gia nhìn lên khắp bốn phía trời hòn Vọng Phu đứng nhan nhản. Tôi lấy làm lạ lùng quá, thật là đủ hình dáng, đủ tư thế, cả một thế giới đàn bà đã sống trải bao thời gian qua, chiến binh dường như đang tụ hội về đây, mỗi người một ngọn núi, đang đứng một mình vò võ, chon von trên các chóp núi đá cao ngất, người ôm con bên nách, người bế con trước ngực, người cõng con sau lưng. Người hai tay buông thẳng xuống, mặt quay về đủ các hướng, các ngả chân trời có súng nổ, có lửa cháy (Cỏ lau).


Đối chứng giữa con người với con người thứ hai của mình:


Phải, giả thử lần thứ nhất tôi đến, hoặc lần thứ hai trở lại, và các lần sau nữa, mà người thợ ấy nổi giận đuổi tôi ra khỏi ngôi quán, thì chắc chắn tôi không đủ thì giờ nhìn kĩ cái mặt mình đến như thế. Gần nửa năm tôi đã để vào bức tranh sơn dầu tất cả công sức và sự suy nghĩ, trong suốt thời gian ấy một đôi lần tôi cũng gợi lại chuyện cũ. Nhưng người thợ vẫn một mực cố tỏ ra chưa bao giờ quen biết tôi. Trở về làm một anh thợ cắt tóc cũng như lúc ở bộ đội, anh vẫn lẳng lặng sống như vậy, để cho người chung quanh tự phán xét lấy những công việc đã làm. Lời đề nghị rụt rè của anh: xin mọi người hãy tạm ngừng một chút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn để tự suy nghĩ về chính mình.


Bây giờ thì cái tác phẩm của tôi đã hoàn thành. Tôi đang đối mặt với chính mình để viết những dòng này, như những lời chú giải cho một tác phẩm hội họa thể hiện một cái mặt người rất lớn: những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và trên đầu chiếu thẳng xuống một nửa mái tóc đã bị cắt, thoạt trông như một phần bộ óc màu xám vừa bị mổ phanh ra. Phần bên dưới khuôn mặt nạ, dưới cằm và hai bên mép phủ kín bọt xà phòng. Không trông rõ miệng, chỉ thấy một vệt màu đen lờ mờ nổi bồng bềnh trên những đám bọt xà phòng và nổi bật trên cái khuôn mặt là đôi mắt mở to khắc khoải, bồn chồn, đầy nghiêm khắc, đang nhìn vào nội tâm” (Bức tranh).


Trên thế giới đã có những tác phẩm kiệt xuất, lấy hội họa làm đề tài như Kiệt tác chưa được biết đến của Balzac, Bức chân dung của Gogol... nhưng ở Việt Nam tác phẩm vừa giàu chất hiện thực, đậm màu sắc dân tộc mà đọc lên cứ phảng phất như huyền thoại và mang nét phổ quát nhân loại như Bức tranh vẫn còn là của hiếm.


Đối chứng giữa con người và ngôi sao:


- Trong thế giới bao la giữa đêm tối sâu thẳm và tĩnh mịch. Chỉ những ngôi sao xanh ngời ngời và ẩm ướt, đen nhấp nháy tận đỉnh trời là có thể nhìn thấy hai giọt nước mắt đặc quánh như một thứ chất dầu đang dâng lên tận trong khóe mắt lão Khúng (Phiên chợ Giát).


- Ngôi sao vừa sa xuống đó chắc hẳn không phải là điềm trời báo hiệu rằng con khoang đen nhà lão Khúng sắp tử. Lão tin chắc chắn như thế. Bởi lẽ Nam Tào, Bắc Đẩu họa là có rảnh rỗi lắm lắm mới làm cái việc ấy. Mà cũng không bao giờ người ta ban đặc ân cho con khoang đen cả một ngôi sao chiếu mệnh. Mặc dầu nó đang có công cày vỡ bao nhiêu là đất cát. Điều ấy chỉ có lão Khúng mới biết.


Hay ngôi sao sa vừa rồi là ngôi sao của con lão, đấy là vệt đường đi về cõi trời của một người anh hùng cứu quốc, của chính thằng Dũng cầm súng chiến đấu ở bên chiến trường Campuchia? Cũng chắc không phải, lão nghĩ tiếp, trên thực tế thằng Dũng đã chết một năm nay rồi cơ mà? Hay là điềm trời báo trước cho lão biết, lão sắp chết?


Nhưng nghĩ đi rồi nghĩ lại, lão Khúng thấy bình tâm hơn, bởi một anh nông dân suốt đời đi sau mông con bò như lão thì là cái thá gì mà cũng đòi có một ngôi sao ứng mệnh ở tận chân trời? có mà đến Tết! Ngồi thèo đảnh trên cái càng xe bò, tự nhiên lão Khúng tự thấy ngượng nghịu, tõn tẽn vì đã đề cao cá nhân mình lên quá mức, y như cái lần ông Bời cử bắt buộc mình leo lên ghế Chủ tịch Đoàn trong Đại hội Nông dân xã. Rồi lão chậc lưỡi một cái thật kêu. Cái lão Khúng này thiết đếch gì. Sao với lại chả trăng! Cho cái mặt trời, ông cũng đếch thiết nữa là! Lão chỉ thiết cái mặt đất ở dưới chân với mấy mảnh ruộng vỡ hoang được thuộc sở hữu gia đình lão.


Tuy thế lão Khúng vẫn ngửa mặt lên trời, rọi mắt lục tìm thấy khắp bốn phía chân trời với một sự tò mò vừa kính cẩn vừa có ý khinh suất. Lão ngắm kỹ lưỡng một vài đốm sao sáng xanh, những vì sao to nhất, sáng nhất, và lão đinh ninh đây là những ngôi sao định mệnh của các vị vua chúa hoặc lãnh tụ.


Chao ôi, cả một trời sao trên đầu lão, càng nhìn càng thấy lắm, trong khi ấy thì ở dưới mặt đất vào lúc này dường như chỉ có một mình lão và con bò đang thập thõm, mò mẫm đi giữa mặt đất bao la và tối tăm.


Bất trắc, trong khi vẫn ngửa mặt lên trời, hướng bóng tối dày đặc và một làn gió đêm lạnh buốt, bỗng lão không kìm được, tự nhiên bật lên một tràng tiếng cười khùng khục từ trong cổ họng, khiến cho con bò đang đi phải dừng lại. Lão không dùng roi mà đưa tay đét một cái vào trước cái chỗ uốn vồng lên của cuống đuôi con vật.


- Đi đi! Không có việc gì cả đâu. - Lão vẫn tiếp tục cười khùng khục và đàm đạo với con vật bạn đường. - Đi đi, không phải tao cười mày. Hì...hì tao đâu dám cười mày? Đấy là tao đang cười những ông sao trên trời! Vua chúa hoặc đại thần danh tiếng của thời nay cả đấy! Họ đang sống cả đấy. Ngôi sao nào cũng cứ ngỡ mình đang soi sáng mặt đất, không có mình thì mặt đất biến thành hũ nút, hàng nghìn hàng triệu người mở mắt cũng không nhìn thấy lối mà đi. Vậy mà khổ chưa kìa, không biết cơ man nào là sao. Có ít ỏi đâu, các chư vị đang thi nhau nhấp nháy, đang toát mồ hôi hột ra để rặn ra ánh sáng như đàn bà rặn đẻ, không phải một ông mà nhiều ông. Cả một trời sao đang chiếu sáng thế mà mặt đất thì vẫn tối thui, tối mò như thế này. Con đường chúng mình đi xuống chợ Giát vẫn tối như hũ nút thế này?


Ấy thế mới tài tình chứ, lão đã nghiệm thấy lão và con bò đi đêm nhiều nhưng chưa bao giờ lạc. Không phải chỉ trên mặt đất mà lão Khúng cảm thấy trong cái đầu ngổn ngang đầy ý nghĩa của lão cũng tối mò mò, chỉ được một cái, có thể đi trong tối. Lão, một anh nông dân suốt đời đi sau con bò vạch những luống cày trong đêm tối (Phiên chợ Giát).


Đọc đoạn này, tôi gai người lên nhớ lại lúc tôi đọc trong Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoi, cái cảnh Andrei Bonconski nằm trên chiến trường nhìn lên bầu trời sao mênh mông thấy Napoléon trở nên nhỏ bé thảm hại làm sao so với trời sao trên kia. Văng vẳng đâu đây tiếng ngâm thơ của bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương người đồng hương Quỳnh Lưu vĩ đại của Nguyễn Minh Châu: Ví đây đổi phận làm trai được. Thì sự anh hùng há bấy nhiêu. Từ sau khi Hồ Xuân Hương dang tay với thử trời cao thấp, xoạc cẳng đo xem đất vắn dài, đem thân phận con người đối chứng với con ốc nhồi, quả mít, quả cau, miếng trầu, bánh trôi nước, cái quạt, trống thủng, giếng nước... đến nay mới có một nhà văn tiến hành một cuộc tổng đối chứng khắp trên trời dưới đất, con người so sánh con mèo, con bò, con kiến, con dã tràng, con chó. Với hòn Vọng Phu, với cỏ lau, với túi ni lông hài cốt, với bia mộ, với ngọn gió, với cái cây, với mảnh trăng cuối rừng, với ngôi sao, với mẹ Đất, với pho tượng gỗ, với con người thứ hai trong con người... vẽ lại bản đồ mê cung của cuộc đời và đồ thị hóa chúng bằng ngôn ngữ văn chương.


Viết đến đây tôi không khỏi bật cười khi nhớ đến vị giáo sư khả kính, chủ biên công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX đã trích đoạn văn về trời sao nói trên để kết luận Nguyễn Minh Châu đã viết tiểu thuyết luận đề!!! Trong khi đoạn viết về lão Khúng hóa thân thành con bò gắn với huyền thoại hiện đại của Kafka. Thế mới biết tài tiên tri của Maupssant khi trong loại văn đã dẫn của ông, có đoạn viết: Làm cho thật thực, như vậy, cốt là ở chỗ cống hiến cho người ta cái ảo tưởng trọn vẹn về sự thực tùy theo cái lý sự thông thường của các sự kiện, chứ không phải là mô tả các sự kiện một cách nô lệ trong cái hỗn độn liên tiếp của chúng. Phải chăng trong nghiên cứu phê bình nước ta cũng đang âm thầm diễn ra cuộc đối chứng giữa...


Giữa lúc Marguerite Yourcenar trong Hồi ký của Hadrien chế nhạo con người khi so sánh giữa con người với động vật và cây cỏ: Còn về những cẩn trọng mang tính chất tôn giáo của các triết gia khổ hạnh về sự kinh tởm của họ trước các thứ thịt dính máu đỏ lòm. Ta sẽ xúc động hơn nếu như bản thân từng tự hỏi xem nỗi đau của cỏ cây bị phạt đi chủ yếu có gì khác so với nỗi đau của những con cừu bị cắt tiết và nếu sự ghê tởm của chúng ta trước những con vật bị giết chủ yếu chẳng phải là vì sự nhạy cảm của chúng ta xuất phát từ chỗ chúng ta cùng giới với những con vật; giữa lúc Alain Robbe - Grillet trong Ghen tuông, Georges Perec trong Các sự vật… khước từ mô tả con người mà chỉ viết về các đồ vật và sự vật thì việc Nguyễn Minh Châu bình tĩnh tiến hành cuộc đối chứng giữa con người với các vật và sự vật là một thái độ sáng suốt và dũng cảm, trong khi anh đang giành giật từng giây phút với cái chết. Tôi nhớ đến câu thơ của Bernard Noèl: Đi trước cái chết. Viết để làm gì, nếu không tìm được trong việc viết sự đi trước ngắn dài bao lăm! Với Phiên chợ Giát, Nguyễn Minh Châu đã đi trước cái chết một bước dài để tác phẩm trở thành một mũi xung kích tiến vào thời kỳ Đổi mới và bước đầu hội nhập vào dòng văn học thế giới.


 


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 26.04.2017
Nhân tính và nhân phẩm trong tập truyện Ký thác của Bình Nguyên Lộc - Vinh Lan 25.04.2017
Lời trong đời sống và trong thơ - Voloshinov 22.04.2017
Nỗi đau trong văn chương - Trần Đình Sử 22.04.2017
Hai cách đọc bài thơ Khiển hoài của Đỗ Mục - Hà Văn Thùy 21.04.2017
Đồng thuận xã hội - Một số vấn đề lý luận - Chu Văn Tuân 18.04.2017
Nguyễn Đăng Na và những thành tựu nghiên cứu văn học trung đại - Trần Đình Sử 05.04.2017
Những giới hạn của lý thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam - Trương Đăng Dung 31.03.2017
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
xem thêm »