tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20787155
Lý luận phê bình văn học
25.08.2009
Hoài Anh
Jean Paul Sartre: Văn chương là gì? (5)

Tôi lại phải ngờ vực nghệ sĩ là đã viết vì say mê và trong sự say mê, thì lòng tin của tôi hẳn mất ngay, vì có dùng trật tự cứu cánh để chống đỡ trật tự nguyên nhân cũng chẳng để làm gì; cái trật tự cứu cánh đến lượt nó lại được một tính nguyên nhân tâm linh nâng đỡ và, để chấm dứt, nghệ phẩm nắm vào cái chuỗi của tất định. Hẳn nhiên, khi tôi đọc, tôi không phủ nhận điều rằng tác giả lại không thể say mê, lại không thể quan niệm cái phác họa đầu tiên của cuốn sách của mình dưới mãnh lực của say mê. Nhưng cái quyết định viết của họ giả thiết rằng họ lùi lại so với các tình cảm của họ; nói tóm lại, họ đã biến đổi các cảm xúc của họ thành những cảm xúc tự do, như tôi thay đổi cảm xúc của tôi khi đọc họ, nghĩa là họ ở vào cái thái độ quảng đại. Do đó sự đọc là một minh ước quảng đại giữa tác giả và độc giả; hai người tin ở lẫn nhau, hai người trông cậy ở nhau; đòi hỏi ở nhau cũng như đòi hỏi ở chính mình. Vì lòng tin ấy, chính nó là lòng quảng đại: không ai có thể buộc tác giả phải tin rằng độc giả sẽ dùng đến tự do của họ: không ai có thể bắt độc giả phải tin rằng tác giả đã dùng đến tự do của họ. Đây là một quyết định tự do giữa họ với nhau. Do đó có một sự đi lại biện chứng; khi tôi đọc, tôi đòi hỏi; cái gì mà tôi đọc lúc ấy, nếu các sự đòi hỏi của tôi được thỏa mãn, xúi giục tôi đòi hỏi thêm nữa ở tác giả, như thế có nghĩa là: đòi hỏi tác giả phải đòi hỏi ở chính tôi hơn nữa. Và ngược lại, sự đòi hỏi của tác giả là đòi tôi nâng các sự đòi hỏi của tôi lên tột độ. Vì thế mà khi biểu thị, tự do của tôi bộc lộ tự do của kẻ kia.


Rằng đối tượng thẩm mỹ phải là sản phẩm của một nghệ thuật “duy thực” (hay tự cho là thế) hoặc là của một nghệ thuật “hình thức” là điều không quan trọng. Dù sao chăng nữa, các tương quan thiên nhiên bị đảo ngược: cái cây kia, ở ngay hàng đầu của bức tranh của Cézanne([1]), thoạt đầu có vẻ như là sản phẩm của một tràng nguyên nhân. Nhưng tính nguyên nhân là một ảo tưởng; hẳn nhiên nó vẫn như là một đề nghị chừng nào mà ta còn nhìn bức tranh, nhưng nó sẽ được một tính cứu cánh sâu xa nâng đỡ: nếu cái cây được dài như thế, chính là vì phần còn lại của bức tranh đòi người ta phải đặt vào hàng đầu cái hình ấy và các màu sắc ấy. Vì thế mà xuyên qua tính nguyên nhân hiện tượng, cái nhìn của ta đạt đến tính cứu cánh, như là cơ cấu sâu xa của đối tượng và, bên kia tính cứu cánh, nó đạt đến cái tự do con người như là nguồn gốc và nền tảng nguyên thủy của nó. Cái duy thực của Vermeer đi đến mức khiến ngươi ta có thể thoạt đầu tưởng rằng ông là nhà nhiếp ảnh. Nhưng nếu người ta nhận xét cái huy hoàng của chất liệu của ông, cái rực rỡ của màu hồng mịn màng của các bức tường gạch nhỏ của ông, cái dày xanh đậm của một cành kim ngân của ông, cái tối bóng bẩy của các tiền phòng của ông, cái thịt da cam của các khuôn mặt trơn tru như đá các bình nước thánh của ông, người ta bỗng liên tưởng đến cái thú vị mà người ta cảm thấy rằng tính cứu cánh không phải ở các hình thức hay các màu sắc mà ở trong cái tưởng tượng vật chất của ông; chính cái thực chất và cái bột của sự vật ở đây là cái lý do hiện hữu của các hình thức của chúng; với nhà duy thực này chúng ta có lẽ đi gần được nhất cái sáng tạo tuyệt đối vì chính trong tính thụ động của vật chất mà chúng ta gặp được cái tự do khôn lường của con người.


Nhưng tác phẩm không bao giờ giới hạn ở cái vật được vẽ, được điêu khắc hay được kể ra: cũng như người ta chỉ tri giác được sự vật trên cái phông thế giới, cũng như các vật được nghệ thuật biểu thị hiện trên cái nền của vũ trụ. Hậu cảnh của các cuộc phiêu lưu của Fabrice([2]) là nước Ý năm 1820, là nước Áo và nước Pháp và bầu trời với các tinh tú mà Cha Elanès([3]) chiêm vấn sau hết là cả mặt đất. Nếu họa sĩ lại vẽ một cánh đồng hay một bình hoa, các bức tranh của ông là lại vì đối tượng thẩm mỹ chính là cái thế giới nhìn qua các vật tưởng tượng, nên cái vui thẩm mỹ đi theo cái ý thức thể hiện cho rằng thế giới là một giá trị, nghĩa là một công tác đề ra cho tự do con người. Và đó là cái mà tôi xin mệnh danh là thay đổi thẩm mỹ của dự định con người, vì thường thì thế giới xuất hiện như là chân trời của hoàn cảnh của chúng ta, như là khoảng cách vô tận phân cách ta với chính ta, như là toàn thể tổng hợp của cái đề ra, như là toàn bộ dửng dưng của các chướng ngại vật và các công cụ - nhưng không khi nào như là một sự yêu sách đòi hỏi tự do ta. Do đó cái vui thẩm mỹ đến mức này phát xuất ở cái ý thức của tôi muốn phục hồi và đáo nội cái gì nhất thiết là cái không phải tôi, vì tôi biến đổi cái đề ra thành cái mệnh lệnh và sự việc thành giá trị: thế giới là phận sự của tôi, nghĩa là cái chức vụ thiết yếu và tự do chấp nhận của tự do của tôi chính là làm sao cho đối tượng độc nhất và tuyệt đối là vũ trụ đi đến với thực thể trong một sự vận động không có điều kiện chi phối. Và, ba là, các cơ cấu trước đây hàm chứa một giao ước giữa các tự do con người, vì một đằng sự đọc là sự thừa nhận tin tưởng và đòi hỏi của tự do của nhà văn, và đằng khác, cái thú thẩm mỹ như chính nó được cảm thấy dưới phương diện một giá trị, bao trùm một đòi hỏi tuyệt đối với kẻ khác; một sự đòi hỏi mà mọi người, với tư cách là tự do, đều cảm thấy cùng một cái thú khi đọc cùng một cuốn sách. Do đó toàn thể nhân loại có mặt trong cái tự do tột độ của mình, toàn thể nhân loại đều duy trì cho thực thể một cái thế giới vừa là thế giới của nó và là thế giới “bên ngoài”. Trong cái vui thẩm mỹ, ý thức thể hiện là ý thức tạo hình ảnh về thế giới trong tính toàn thể của nó như vừa hiện hữu và vừa phải hiện hữu, vừa như hoàn toàn là của chúng ta và vừa như hoàn toàn xa lạ, và càng là của chúng ta thì lại càng xa lạ. Ý thức không thể hiện bao trùm thực sự cái toàn thể hòa hợp của các tự do con người bởi chưng nó là đối tượng của một sự tín nhiệm và một sự đòi hỏi phổ quát.


Viết, do đó vừa là biểu lộ thế giới vừa là đề nó ra như một phận sự cho lòng quảng đại của người đọc. Là cầu viện đến ý thức của kẻ khác để được thừa nhận là thiết yếu cho toàn thể của thực thể; là muốn sống cái tính thiết yếu ấy bằng những nhân vật trung gian; nhưng vì vả lại thế giới thực chỉ tự tiết lộ khi hành động, vì người ta chỉ có thể tự cảm thấy mình trong cái thế giới ấy bằng cách vượt lên nó để thay đổi nó, nên vũ trụ của nhà tiểu thuyết sẽ thiếu hẳn chiều dày nếu như người ta không khám phá nó trong một vận động nhắm siêu việt nó. Người ta thường nhận thấy điều này: một vật, trong một câu chuyện, không phải có mật độ hiện hữu nhiều ít do ở số hay ở chiều dài của các đoạn miêu tả mà người ta dành cho nó, nhưng do ở tính phức tạp của các sự liên hệ của nó với các nhân vật này khác; nó có vẻ càng thật khi nó càng hay được vận dụng đến, càng hay được lấy ra và để lại, nói tóm lại càng hay được các nhân vật vượt qua để tiến về các cứu cánh của họ. Thế giới tiểu thuyết là vậy, nghĩa là toàn thể sự vật và con người: muốn cho nó phơi bày cái mật độ tối đa của nó, sự biểu lộ sáng tác giúp cho người đọc khám phá ra nó cũng phải là dấn thân tưởng tượng vào hành động; nói theo cách khác là người ta càng thích thay đổi nó thì nó càng sống động. Sự nhầm lẫn của phái tả thực là tin rằng với chiêm ngưỡng thực tại sẽ tự tiết lộ và rằng, do đó, người ta có thể vẽ được thực tại một cách vô tư. Làm sao lại có những cửa sổ mở trên toàn thể thế giới; con đường đỏ kia nó đâm sâu vào giữa các cây lúa, chúng ta theo dõi nó xa hơn là Van Gogh đã họa nó, giữa các đồng lúa khác, dưới các đám mây khác, đến tận một con sông đổ ra biển; và chúng ta kéo dài đến vô cùng tận, đến tận đầu kia thế giới cái đất sâu nó nâng đỡ sự hiện hữu của các cánh đồng và của tính cứu cánh. Đến nỗi rằng, xuyên qua vài vật nó làm ra hay tạo lại, cái mà hành động sáng tạo nhằm chính là một sự làm lại hoàn toàn của thế giới. Mỗi bức tranh, mỗi cuốn sách là một sự phục hồi của toàn thể thực thể; mỗi cái đều trình bày cái toàn thể ấy cho sự tự do của khán giả. Vì chính đó là mục đích cuối cùng của các nghệ thuật: hồi phục cái thế giới này đây bằng cách cho thấy nó là thế đó; nhưng như thể nó bắt nguồn trong tự do con người vậy. Nhưng, vì cái gì mà tác giả sáng tạo chỉ thành thực trạng khách quan ở dưới mắt khán giả mà thôi, nên chính bằng cái nghi lễ trình diện - và đặc biệt là nghi lễ đọc - mà sự phục hồi ấy được công nhận. Chúng ta đã vững lý hơn để trả lời câu hỏi mà chúng ta đặt ra vừa rồi: nhà văn lựa chọn kêu gọi đến tự do của các người khác để cho họ thích nghi lại toàn thể thực thể con người và khép nhân loại lại lên trên vũ trụ bằng các liên đới hỗ tương của các đòi hỏi của họ.


Nếu muốn đi xa hơn nữa, ta nên nhớ rằng nhà văn, cũng như mọi nghệ sĩ khác, nhắm đưa lại cho các độc giả của mình một thứ cảm xúc mà người ta quen gọi là cái thú thẩm mỹ và về phần tôi, tôi còn sẵn sàng hơn để gọi là cái vui thẩm mỹ; và rằng cái cảm xúc ấy, khi nó phát hiện, là dấu hiệu cho biết rằng tác phẩm đã hoàn tất. Vì vậy nên cứu xét nó qua ánh sáng của các nhận xét trên kia. Cái vui này, thật vậy, mà người sáng tạo không được hưởng với tư cách sáng tạo, chỉ là một với cái ý thức thẩm mỹ của khán giả, nghĩa là, trong trường hợp này đây, của độc giả. Đó là một tình cảm phức tạp nhưng mà các cơ cấu đều quy định lẫn nhau và không thể phân tách. Nó chỉ là một, trước hết với sự thừa nhận một cứu cánh siêu việt và tuyệt đối nó làm ngưng lại trong một lúc cái thác cứu-cánh-phương-tiện và phương-tiện-cứu-cánh thực dụng([4]), nghĩa là thừa nhận một sự kêu gọi hay nói khác ra là một giá trị. Và cái ý thức thái độ mà tôi có đối với giá trị này nhất thiết có cái ý thức không có thái độ của tự do của tôi đi kèm, vì chính nhờ một sự đòi hỏi siêu việt mà cái tự do mới tự biểu thị cho chính nó. Sự tự do tự mình nhận ra mình là sự vui, nhưng cái cơ cấu này của cái ý thức không luận đề hàm súc một cơ cấu khác; vì nếu sự đọc quả thật là một sáng tạo; thì tự do của tôi không những chỉ tự xuất hiện như tự trị thuần túy mà còn như hoạt động sáng tạo, nghĩa là nó không phải chỉ có tự ấn định luật lệ cho mình mà còn tự nhận thấy phải cấu tạo ra đối tượng nữa. Đến mức độ này thì hiện tượng chính danh thẩm mỹ, nghĩa là một sự sáng tác trong đó tác phẩm được tác chủ coi như là đối tượng, đây là trường hợp độc nhất mà tác chủ được thưởng thức cái vật mình tạo ra. Và danh từ thưởng thức áp dụng cho cái ý thức thể hiện (hiện hữu cụ thể, conscience positionnelle) của tác phẩm được đọc đủ cho thấy rằng chúng ta đứng trước một cơ cấu thiết yếu của cái vui thẩm mỹ. Đi kèm sự thưởng thức thể hiện này là cái ý thức không thể hiện là thiết yếu đối với một đối tượng được nhận là thiết yếu: tôi xin mệnh danh cái phương diện này của cái ý thức thẩm mỹ là cảm thức an toàn; chính cái cảm thức này đóng lên các cảm xúc thẩm mỹ mãnh liệt nhất một vẻ bình thản uy nghi; nó phát nguồn ở sự nhận định ra một sự hòa hợp triệt để giữa tính chủ quan và tính khách quan. Và sao thế được, khi mà tri giác chính nó là thiên vị, khi mà, chỉ một mình nó, sự gọi tên cũng đã là thay đổi vật ấy rồi? Và làm sao nhà văn, vốn dĩ muốn mình là thiết yếu đối với vũ trụ lại có thể muốn mình thiết yếu đối với các bất công mà cái vũ trụ ấy gồm chứa? Đã thiết yếu thì phải đâu đâu cũng thiết yếu: nhưng nếu nhà văn lại chấp thuận là kẻ sáng tạo bất công thì chính là chấp thuận trong một sự vận động vượt lên các bất công ấy để mong tiêu diệt chúng. Còn như tôi là người đọc, nếu tôi sáng tạo và duy trì sự hiện hữu của một thế giới bất công thì tôi không thể không tự mình gánh chịu lấy trách nhiệm. Và tất cả nghệ thuật của tác giả là nhắm buộc tôi phải sáng tác những gì họ biểu lộ, tức là làm tôi liên lụy. Như thế là hai chúng tôi cùng chịu trách nhiệm về vũ trụ. Và, chính vì cái vũ trụ này được hai cái tự do của chúng tôi cùng góp sức chống đỡ, và vì tác giả với sự trung gian của tôi từng mưu sáp nhập nó vào nhân tính, nên nó cần phải phát hiệu đích thực ở chính nó, trong cái chất bột sâu kín nhất của nó, như bị xuyên qua và được duy trì do một tự do một tự do nó lấy tự do con người làm cứu cánh, và, nếu nó không đích thực là cái trú khu của các cứu cánh mà nó phải là, thì ít ra nó cũng phải là một đoạn đường đi đến trú khu ấy, nói tóm lại, nó phải là một sự trở thành và người ta phải coi nó và luôn luôn trình bày nó, không như một khối đồ sộ nó đè nặng trên chúng ta, nhưng theo quan điểm của sự nó vượt lên để tiến về các trú khu cứu cánh kia; tác phẩm, dù cho cái nhân loại mà nó mô tả có xấu xa và tuyệt vọng đến thế nào chăng nữa, cũng phải có một vẻ quảng đại. Hẳn nhiên không phải là sự quảng đại ấy phải tự diễn tả bằng những lời khuyên răn hay bằng những nhân vật đức độ: nó cũng không được ngay cả dụng tâm và quả thật là không phải với những cảm thức đẹp mà người ta viết sách hay. Nhưng nó phải là đường canh của cuốn sách, phải là tấm vải để may cho người cho vật: đề tài dù ra sao đi nữa thì khắp cuốn sách cũng cứ phải có một vẻ gì nhẹ nhàng để nhắc nhở rằng tác phẩm chẳng phải là một dữ kiện tự nhiên, mà là một sự đòi hỏi và một tặng phẩm. Và nếu người ta cho tôi cái thế giới ấy với mọi sự bất công của nó, chẳng phải là để cho tôi ngắm nhìn các bất công ấy một cách lạnh lùng, mà để cho tôi làm sống động chúng bằng sự phẫn nộ của tôi và để cho tôi biểu lộ chúng và sáng tạo chúng với cái bản chất của chúng là những bất công, nghĩa là những tệ đoan phải được diệt trừ. Do đó mà vũ trụ của nhà văn chỉ tự biểu lộ tận cái sâu kín nhất của nó trước sự tra xét, thán phục, công phẫn của người đọc; và tình yêu quảng đại là lời thề duy trì, và công phẫn quảng đại là lời thề thay đổi, và thán phục là lời thề bắt chước; đành rằng văn chương là một chuyện khác hẳn, ở tận cùng các mệnh lệnh thẩm mỹ chúng ta nhận ra cái mệnh lệnh luân lý. Vì một khi người viết thừa nhận, bằng ngay sự kiện là mình đã mất công viết, cái tự do của các độc giả của mình, và một khi người đọc, chỉ một việc giở sách ra đọc, đã thừa nhận cái tự do của nhà văn, thì nghệ phẩm, dù người ta có nhận xét nó về khía cạnh nào chăng nữa, vẫn là một hành động tin tưởng ở tự do của các con người. Và một khi các độc giả cũng như tác giả chỉ thừa nhân sự tự do ấy là để đòi hỏi nó phải biểu thị thì tác phẩm có thể được định nghĩa như là một sự trình bày tưởng tượng về thế giới vì thế giới đòi hỏi tự do con người. Do đó kết quả trước hết là không có văn chương đen tối, vì dù cho người ta có mô tả thế giới bằng những màu sắc ảm đạm đến mấy đi nữa, chẳng qua cũng là để cho các con người tự do cảm thấy tự do của mình trước nó. Vì thế chỉ có tiểu thuyết hay, hay tiểu thuyết dở mà thôi. Và tiểu thuyết dở là tiểu thuyết nhắm làm vừa lòng bằng cách dua nịnh còn như tiểu thuyết hay là một sự đòi hỏi và một hành vi tin tưởng. Nhưng trước hết phương diện độc nhất mà dưới đó nghệ sĩ có thể trình bày thế giới với các tự do mà họ muốn tìm sự tán đồng chính là phương diện của một thế giới khi nào cũng cần được thấm nhuần thêm tự do. Người ta không thể quan niệm được rằng sự phóng túng quảng đại mà nhà văn gây ra như thế lại được dùng để công nhận một bất công và rằng người đọc lại thưởng thức được tự do của mình khi đọc một tác phẩm chuẩn nhận hay chấp nhận hay dù chỉ có nhịn không lên án việc con người áp chế con người. Người ta có thể tưởng tượng rằng một cuốn tiểu thuyết hay lại do một người da đen Mỹ viết dù trong đó có tràn đầy sự hận thù đối với các người da trắng chăng nữa, vì lẽ, trong cái mối hận thù ấy là cả cái tự do của chủng tộc họ mà họ đòi hỏi. Và vì họ yêu cầu tôi giữ thái độ quảng đại, tôi không thể, trong khi mình tự cảm thấy như tự do thuần túy, lại hòa mình với một chủng tộc áp bức. Do đó chính để chống lại chủng tộc trắng mà tôi đòi hỏi tất cả các tự do phải đòi hỏi giải phóng cho các người da màu. Nhưng không một ai dù chỉ trong khoảng khắc lại giả tỉ rằng người ta có thể viết một cuốn tiểu thuyết hay để ca tụng chủ nghĩa bài Do Thái([5]). Vì người ta không thể đòi hỏi ở tôi, trong lúc tôi cảm thấy rằng tự do của tôi là nhất thiết ràng buộc với tự do của tất cả con người khác, phải dùng cái tự do ấy để tán thành sự áp bức một số người nào đó. Vì thế cho nên dù là nhà tiểu luận, nhà phúng thích, nhà trào phúng, hay nhà tiểu thuyết dù là chỉ có nói đến những tình dục cá nhân hay đả kích chế độ xã hội, nhà văn, vốn là một con người tự do ngỏ lời với các con người tự do, chỉ có độc một đề tài: đó là tự do (...).


Người ta không viết cho những kẻ nô lệ. Nghệ thuật văn xuôi liên đới với cái chế độ độc nhất mà trong đó văn xuôi còn có một ý nghĩa: là dân chủ. Khi cái này bị đe dọa thì cái kia cũng bị. Và bênh vực cả hai bằng ngòi bút chưa đủ. Sẽ có một ngày mà ngòi bút bị buộc phải ngưng viết và ngày đó nhà văn phải cầm lấy vũ khí. Cho nên dù ta đến với nó cách nào, dù ta chủ trương những tư tưởng gì chăng nữa, văn chương cũng ném ta vào chiến trận; viết chính là muốn tự do theo một cách nào đó; một khi đã bắt đầu thì dù muốn dù không ta cũng là dấn thân.


Dấn thân vào cái gì? Người ta hẳn hỏi. Bênh vực tự do, người ta hẳn nói. Phải chăng là đứng lên bảo vệ các giá trị lý tưởng, như anh chàng thư ký của Benda([6]) trước khi phản bội hay là phải bảo vệ cái tự do cụ thể hằng ngày, bằng cách tham gia các tranh chấp chính trị và xã hội? Vấn đề được ràng buộc với một vấn đề khác, có vẻ rất giản dị, nhưng người ta không bao giờ tự hỏi, là “Người ta viết cho ai?”.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info








([1]) Họa sĩ Pháp.




([2]) Họa sĩ Bỉ.




([3]) Nhân vật trong tiểu thuyết Tu viện thành Parme của Stendhal - (Người dịch chú).




([4]) Trong đời sống thực tế, mỗi phương tiện đều có thể bị ngộ nhận là cứu cánh, ngay khi người ta tìm tòi nó, và mỗi cứu cánh lại tự tiết lộ là phương tiện để đạt đến một cứu cánh khác.




([5]) Người ta đã xúc động vì lời nhận xét cuối cùng này. Cho nên tôi yêu cầu người ta hãy để cho tôi biết chỉ một cuốn tiểu thuyết nào thôi mà lại có dụng tâm phục vụ cho áp bức, mà lại viết chống lại người Do Thái, chống lại người Da Đen, chống lại thợ thuyền, chống lại các dân tộc thuộc địa. “Nếu chưa có, người ta hẳn nói, thì đó cũng không phải là một lý do để rồi một ngày nào đó người ta lại không viết”. Nhưng nói như vậy tức là mình tự nhận mình là một lý thuyết gia trừu tượng. Đó là bạn, không phải tôi. vì chính nhân danh các quan niệm trừu tượng của bạn về nghệ thuật mà bạn khẳng định cái khả năng của một sự kiện chưa từng bao giờ xảy ra, còn như tôi, tôi chỉ có đề ra một giải thích cho một sự kiện đã được công nhận.




([6]) Julien Benda (1867-1956), nhà văn Pháp - (Người dịch chú).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »