tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20030218
Lý luận phê bình văn học
25.08.2009
Hoài Anh
Nguyễn Minh Châu - Cuộc đối chứng giữa người và vật (2)

Nhưng bên cạnh tài năng đó, còn là một tấm lòng. Tấm lòng trung thực. Bạn đọc yêu anh, không chỉ vì anh viết hay, mà vì anh viết thật, viết với cả tấm lòng của anh. Nguyễn Minh Châu không bao giờ viết những điều gì mà anh không có, không nghĩ đến. Chỉ điều đó đã tạo ra một Nguyễn Minh Châu có bản sắc riêng, có những suy nghĩ riêng. Đọc Nguyễn Minh Châu, bên cạnh sự bay bướm, sự tinh tế, sự trăn trở trước hiện thực, người ta còn thấy cái tình của người viết. Nhưng trên tất cả, điều mà chúng ta ai cũng thấy thương tiếc, cũng thấy thực sự mất mát, vì giống như anh chưa đáng chết. Anh đang độ sung sức, đang viết khỏe, đang đầy ắp những dự định. Điều này biểu hiện trên việc làm, trên lời nói và cả trên những tác phẩm cuối cùng của anh.


Gia đình anh kể rằng: Tháng 10 năm 1987, tỉnh Nghệ Tĩnh có tổ chức cho anh đi một vòng chung quanh những nơi dự định. Theo như anh Trân, anh của anh nói chuyện, thì bắt đầu từ tháng 10 năm 1987 anh bắt đầu viết một cuốn tiểu thuyết mới, được vài tháng sau anh lâm bệnh. Anh biết sức khỏe mình không còn đủ để viết tiếp cuốn sách, nên anh cố rút ngắn nó lại. Nay là bản thảo cuối cùng của anh, dài 200 trang (sau khi đã rút ngắn). Tên bản thảo đó, nghe nói được ghi là Phiên chợ Giát. Bản thảo ấy đang ở một nhà xuất bản. Có lẽ những điều anh viết trong sách chưa nói trọn những suy nghĩ của mình.


Cũng xin nói thêm: Trước đó, trong một cuộc họp với nhà xuất bản Nghệ Tĩnh do anh Điệp chủ trì ở Hà nội, anh Điệp có mời anh viết về Nghệ Tĩnh. Anh không hứa gì. Có lẽ tính anh vậy, khi nào có thì đưa ra, chứ không bao giờ nói trước. Lúc đó, tôi cũng nghĩ rằng, từ trong cuộc họp ấy, anh đã có ý định viết về quê hương.


Anh đang muốn viết, đang có những cái để viết, mà anh lại mất, thật là một thiệt thòi chung cho chúng ta. Riêng về anh, ở góc độ người viết mà nói, thì đó là một sự làm việc hết mình, cho đến phút cuối cùng, cũng có thể nói là cho đến hơi thở cuối cùng. Cho đến những ngày gần mất, chúng tôi vào thăm anh, anh vẫn nói về tình hình văn nghệ, hỏi chúng tôi về những việc xảy ra chung quanh Hội Nhà văn. Có hôm, anh còn cầm bút viết, còn nói về những dự định của mình. Hồi ở Sài Gòn ra, anh còn nói rằng: nếu trời cho sống, thì mình sẽ viết về cái chùa này vào khoảng tháng ba năm 1988, cơ quan theo sự đồng ý và đề nghị của gia đình, có tổ chức cho anh vào điều trị ở chùa Pháp Hoa một thời gian, ở đó, anh đã nghe, đã thấy nhiều chuyện và muốn viết.


Một chi tiết cuối cùng, mà như tôi nghĩ, là sự làm việc của anh. Chiều 3-1-1989, sau một cơn đau dữ dội, anh gọi chị Doanh (vợ anh) đến, bảo day trán cho anh và kêu lên: Chết mất thôi! - Điều này chưa bao giờ anh nói, như vậy là anh biết mình sắp mất. Sau đó, anh bảo chị Doanh đưa cho anh một tờ giấy, anh vê vê trên không rồi lịm đi, tắt thở.


Tôi nghĩ rằng: cho đến lúc sắp mất, anh vẫn còn muốn viết, muốn nói… (tháng 11-1989, Nguyễn Trọng Oánh).


Đến hôm nay thì tất cả các anh Hoàng Văn Bổn, Thu Bồn, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Đức Thọ… đều đã qua đời. Ở thế giới bên kia chắc các anh đều gặp lại anh Nguyễn Minh Châu chuyện trò rôm rả lắm thì phải? Tôi đành gom lại tất cả những bài các anh viết về anh Nguyễn Minh Châu tổng hợp trong bài này cũng như đốt vàng mộ cho anh Nguyễn Minh Châu và tất cả các anh, cầu nguyện cho các “vong nhân” siêu sinh tịnh độ.


Tôi viết bài này sau khi vừa ra Hà Nội thắp hương cho Phạm Tiến Duật. Tôi nhớ trong bài Nguồn nước của Nguyễn Minh Châu (Văn nghệ Công an số 11-2003), Duật đã từng viết về anh:


“… Bạn tôi, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn, nói rằng Nguyễn Minh Châu viết nhật ký hay lắm mà tôi chưa được đọc. Nhàn kể trong nhật ký, khi vào thăm khu vườn ở Phủ Chủ Tịch, Nguyễn Minh Châu đã viết (tôi chép theo lời kể) rằng: “Trong vườn Bác cũng có rất nhiều cây xà cừ đang rụng lá. Những cái lá vàng, lá đen rơi sấp, rơi ngửa như những đồng tiền âm dương đang gieo quẻ cho thời đại”. Đúng là lời của Châu rồi. Nhìn cái gì cũng liên hệ đến số phận của cả cộng đồng. Anh sống cho người, cho đời bằng từng tế bào của anh.


Trong sự nghiệp văn chương, Nguyễn Minh Châu có một truyện ngắn, có người để ý, có người không để ý Con thuyền ngoài xa. Không gian câu chuyện là một vùng bờ biển hoang dã, như thể vùng biển Quỳnh Lưu quê anh. Câu chuyện có gì đâu: Một đôi vợ chồng làm nghề đánh bắt cá, sống trên thuyền lênh đênh trên biển. Trên thuyền thì không nói, chứ cứ vào bờ là thằng chồng lại đánh vợ. Nó đánh như đánh cái uất ức ở đâu đó dồn nén chứ không phải là đánh vào một thân xác mà lên thuyền nó lại ôm ấp. Con người! Lại con người! Yêu nhau và hành hạ nhau. Con thuyền ngoài xa kia là nỗi vui buồn nhân thế. Một giống đực và một giống cái với bao cái lo toan vất vả sinh nhai, với tất cả cái có thể biết và cái không thể biết chung đụng. Truyện ngắn ấy không thể nói ngày rằng là truyện hay nhất của Nguyễn Minh Châu, nhưng là truyện ngắn nói lên cái khắc khoải lớn nhất của đời văn anh: giải nghĩa số kiếp của con người thực sự là gì. Tất cả truyện trong tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành cũng là để tìm cách giải đáp câu hỏi đó.


Một lần, trên tầng hai của ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế, Nguyễn Minh Châu bảo:


- Nhà văn chúng ta là môt lũ “rôbinê” (vòi nước). Thằng to, thằng bé; thằng chảy tồ tồ, thằng chảy tè tè, thi nhau, nhưng kỳ thực vẫn là một thứ nước.


Anh nói vui, nhưng đúng. Đến như Eva cũng chỉ là cái xương sườn của Ađam nặn ra thôi mà. Ấy là nói đến lẽ cuối cùng, chứ văn Châu là một mạch riêng không lẫn được.


Trước khi mất không lâu, anh viết được một tác phẩm mà tôi nghĩ rằng đấy là một tác phẩm quan trọng trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam. Đó là tác phẩm Khách ở quê ra. Hình như đây là lần đầu, do ngẫu nhiên mà Nguyễn Minh Châu làm lịch sử. Vâng, Hăngri Tiuyts, nhà triết học duy vật Pháp thế kỷ XVIII, một người được Các Mác rất quý, đã viết: “Một khi nông thôn đang biến thành thành thị, thì từng bầy người bỏ ra thành phố. Và tương đồng với thời kỳ ấy là thời kỳ xã hội bị lưu manh hóa”. Mấy chục năm trước, Nguyễn Bính đã là người cất lên tiếng than khi chân quê bị phá vỡ. Lần này đến lượt nhà văn xuôi Nguyễn Minh Châu khắc họa một vùng phố thị và thôn làng đang trộn lẫn thế nào.


Nguyễn Minh Châu bảo tôi, khi một người đã ngửi thấy mùi nước máy thì khó mà tìm về lại cái giếng khơi nhà mình. Nhưng văn anh, anh Nguyễn Minh Châu, là nước giếng khơi đấy. Nước giếng khơi mà không có loại nước máy nào sánh được”.


Duật ơi, Duật có biết rằng khi viết bài này Duật đã nói gở đấy nhé: “Những cái lá vàng, lá đen rơi sấp ngửa như những đồng tiền âm dương đang gieo quẻ cho thời đại”. Các anh Hoàng Văn Bổn, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, Thu Bồn… còn có thể coi là lá vàng, còn Duật thì vẫn còn là lá đen đấy Duật ạ! Cái đau nhất vẫn là “Lá vàng còn ở trên cây, Lá xanh rụng xuống” Duật có biết thế không, Duật!.


Anh Châu ơi! Trong bài viết sau khi anh mất, tôi đã than phiền “ chưa có một bài nghiên cứu phê bình nào viết riêng về toàn bộ tác phẩm của anh, đánh giá đầy đủ về những đóng góp văn học của anh”. Đấy là tình hình 20 năm trước. Đến nay thì những bài viết và nghiên cứu phê bình về anh đã có rất nhiều, như những bài của anh Vũ Cao, Nguyễn Khải, Vũ Tú Nam, Dũng Hà, Nam Hà, Ngô Thảo, Lê Thanh Nghị, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Nhân, Nguyễn Trọng Hoàn, Võ Hồng Ngọc, Mai Thục, Võ Tấn Cường, Nguyễn Tri Nguyên, M. Ni-cu-lin,


Đặc biệt là các cây bút nghiên cứu phê bình nữ: Trịnh Thị Thu Tuyết, Dương Thị Thanh Hiên,Tôn Phương Lan… (xin lỗi nếu bộ sưu tập của tôi còn thiếu sót).


Anh Châu này! Khi còn sống anh nhát khi gặp phụ nữ, nhưng sau khi anh chết, văn anh lại có duyên với các cây bút nữ. Những bài của các cây bút nữ viết về văn anh có cái nhạy cảm bẩm sinh từ “thiên tính nữ”. Đọc xong những bài nghiên cứu thấu tình đạt lý đó, tôi bỗng đâm ra nghi ngờ khả năng thẩm định văn chương của tôi và thoáng nghĩ cho riêng tôi. “Thế là cánh già thua cánh trẻ rồi, cánh nam thua cánh nữ rồi! Tôi “ghen” thật sự với anh đấy, anh Châu ạ!”.


Dù thừa biết “thầy già thua con hát trẻ”, nhưng khi viết đến những trang cuối cùng của cuốn sách này, tôi thấy không viết về anh là cả một sự bội bạc, nên lại thu hết sức tàn, viết bài sau đây để tưởng niệm anh, trước ngày sẽ tái ngộ anh ở thế giới bên kia.


Trong cuốn Orion mù lòa (Skira,1970), Claude Simon viết:


“Nếu không giọt máu nào rỏ xuống từ vết rách của một trang trên đó miêu tả cơ thể của một nhân vật, nếu trên trang đó miêu tả một vụ cháy không bao giờ đốt cháy ai, nếu từ máu không phải từ máu, nếu từ lửa không phải tử lửa, nếu sự miêu tả bất lực trong việc sản sinh các vật và sự vật và bao giờ cũng về những vật và sự vật khác chứ không phải vật và sự vật mà chúng ta cảm nhận xung quanh chúng ta, thì các từ, trái lại có sức mạnh phi thường là đưa lại gần nhau và đối chất với nhau những cái mà nếu không có cái từ ấy, cứ rải rác đó đây mãi”.


Đọc đoạn văn này, tôi bỗng liên tưởng đến truyện Một cuộc đối chứng của Nguyễn Minh Châu. Nhà văn không chỉ đối chất giữa các từ như Simon nói, mà còn đối chứng giữa con người với các vật và sự vật xung quanh chúng ta.


Tôi đem chúng đối chiếu với những lời phát biểu suy nghĩ về nghề văn của anh Nguyễn Minh Châu: Viết văn là đem đến cho tâm hồn người ta đồng thời sự yên ổn và không yên ổn, cùng một lúc vừa cởi giải vừa gây băn khoăn, thắc mắc. Những băn khoăn thắc mắc có khi trở thành một câu hỏi cụ thể, một vấn đề cụ thể và lớn lao, có khi chỉ nhằm gieo vào người đọc một ấn tượng, một tâm trạng.


Công việc sáng tạo bao giờ cũng diễn ra trong cô đơn, trong sự lắng sâu những kinh nghiệm sống, sau sự chiêm nghiệm về lẽ đời và lòng người.


Các nhà văn đều cố nắm bắt không những cái hiện thức mà cả cái hư ảo của đời sống, không những nắm bắt hiện thực mà còn nắm bắt cả cái bóng của hiện thực và cái đó mới là hiện thực đích thực.


Tác phẩm nghệ thuật sẽ trở thành chết nếu nó miêu tả cuộc sống, chỉ để miêu tả, nếu nó không có một sự thôi thúc chủ quan mạnh mẽ nào theo ưu thế chủ quan của thời đại, nếu nó không phải là tiếng thét gào thét của nỗi đau khổ hoặc lời ca của nỗi vui mừng, nếu nó không phải là một câu hỏi hoặc sự trả lời cho câu hỏi đó.


Câu cuối cùng mà tôi trích dẫn vừa khéo ứng họa lại câu nói của Claude Simon dẫn trên:


Sau đây là bản kiểm kê sơ bộ về một số đối chứng:


Đối chứng giữa loài người và loài mèo:


Nghề cầm bút đã tạo nên ở trong tôi thói quen nhập thân vào kẻ khác, sống cuộc sống bên trong của mọi người, nhưng lần này, trước đời sống nội tâm của một con mèo, tôi tự dặn mình không bao giờ được quên nó là loài vật. Tôi không muốn viết một câu chuyện mà lòai vật được nhân cách hóa, gán ghép cho loài vật những biểu hiện của lòng nhân ái và trí khôn mà nó không có, xóa bỏ ranh giới giữa loài vật và loài người, bởi vì tôi muốn rằng, chúng ta - các bạn đọc và tôi- nhân danh con người, thử làm một cuộc đối chứng với loài vật, một cuộc đối chứng giữa thiện và ác, giữa lí trí, trí tuệ và bản năng mù quáng (cũng là một cuộc đối chứng giữa hai mặt nhân cách và phi nhân cách, giữa cái hoàn thiện, và chút hoàn thiện giữa ánh sáng và những khoảng bóng tối vẫn còn rơi rớt- bên trong tâm hồn của mỗi người miếng đất nương náu và gieo mầm của lỗi lầm và tội ác.


Đối chứng giữa loài người và loài bò:


- Con khoang đen đã trông thấy bóng lão Khúng ngay từ lúc lão vừa thức dậy đi qua sân vòng ra căn nhà bếp đứng đái ồ ồ rất lâu ở cái thúng đựng tro đặt sau chuồng lợn. Mặc cho trong đêm tối con bò cũng rất dễ nhận ra hình của lão Khúng. Hơn chục năm nay, con vật đã quá quen với cái hình dáng con người đứng trên hai chân y như một cái cây dại tự nhiên từ trong đất mọc lên, con vật chỉ khụt khịt lỗ mũi vài cái đã có thể đánh hơi thấy từ xa mùi mồ hôi muối thân thuộc và lập tức đánh thức dậy trong trí lực u tối của nó một ý chí thuần phục đầy khủng khỉnh. Nhưng tuân theo một thứ quán tính trông thấy lão Khúng vừa đưa ống tay áo chùi nước hai bên mép vừa lạch bạch đi tới trước cửa giàn, con bò đã toan bấm móng xuống đất đứng dậy nhưng lại như một đứa trẻ quen làm nũng, nó biết rằng cần phải tỏ ra khủng khỉnh đôi chút lão Khúng cũng thừa biết vậy, lão đưa bàn tay vỗ nhè nhẹ lên cái cổ vươn dài ra ngoài then cửa. Nhưng khi con bò ngoan ngoãn đứng dậy, bàn tay lão trở nên run run khi buộc sợi dây chão vào cổ con vật. Lão Khúng biết rằng cái nốt buộc lần này sẽ không bao giờ cởi ra nữa.


- Đêm tối sập xuống, bóng tối nhẹ như bấc và đầy huyền ảo, con bò hóa thân của lão Khúng bỗng chốc trở nên say sưa ngây ngất trước hương vị của đất cày. Đến bây giờ nó đang đứng chỉ có một mình giữa vùng đất cao nguyên Đắc Lắc nhưng được bàn tay những người khai hoang cày vỡ và nó thấy chỉ chốc lát nữa, trời sẽ sáng và nó phải rời những luống cày để trở về sống trong rừng cây xanh biếc kia. Nó chỉ là lòai thú hoang, hay đúng hơn một con gia súc đã trở nên hoang dã, đã tìm trở lại được cái cuộc sống tự do muôn thuở của nó.


Đến lúc này thì lão Khúng tỉnh ngủ. Lão lại trở về cuộc sống làm người như bình thường. Hàng ngày lão vẫn sống, tuy vậy chưa dứt bỏ được những ám ảnh cảm giác của loài vật do giấc mơ đã để lại giữa trí lão. Lão duỗi thẳng chân tay, sờ nắn từng cái bắp tay, bắp chân một thấy vẫn là loài người nguyên vẹn, lão lấy làm yên tâm.


Ngoài ra Nguyễn Minh Châu còn đối chứng loài người với loài kiến, quanh năm lam lũ, bận rộn, chắt chiu trước cái vũ trụ mênh mông khắc nghiệt.


Với con dã tràng suốt đời xe cát biển Đông không ngừng nghỉ một phút giây để rồi những con sóng đến chà xát không thương tiếc, nhưng ngay đó dã tràng lại bắt tay xây dựng lại “từ trên những đổ nát hoang tàn, có thể gọi là nhà truyền giáo vĩ đại của đức kiên nhẫn”.


Nguyễn Minh Châu lại đối chứng loài người với loài chó: Như hai tên tuần đinh mẫn cán, hai con chó vẫn ngậm miệng đi đi lại lại.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
Đôi lời về Vecte và nỗi đau của chàng - Quang Chiến 07.07.2017
Huyền thoại Faust - Triệu Thanh Đàm 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (3) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (2) - Phan Quang 07.07.2017
xem thêm »