tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20524858
Lý luận phê bình văn học
24.08.2009
Hoài Anh
Nguyễn Minh Châu - Cuộc đối chứng giữa người và vật (1)

Khi anh Nguyễn Minh Châu vừa mất, tôi được tòa soạn báo Sài Gòn Giải Phóng “đặt” viết một bài khoảng 600 chữ về anh. Tôi hơi ngần ngại, không phải vì sợ viết nhiều bài “ai điếu” các anh, các bạn qua đời mình sẽ trở thành một Bossuet trong văn học mất, mà ngại vì tôi vào công tác ở thành phố Hồ Chí Minh từ cuối năm 1975, ít có cơ hội tiếp xúc với anh Nguyễn Minh Châu, chỉ có một lần trò chuyện duy nhất với anh trên chiếc xe buýt chở đoàn đại biểu nhà văn tham dự Hội nghị nhà văn Á Phi tại thành phố Hồ Chí Minh, đi tham quan thành phố Biên Hòa. Dù cuộc trò chuyện ấy đã để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc khó quên, nhưng tôi tự xét mình vẫn chưa đủ tư cách cũng như sự quen biết để viết một bài “đọc được” về anh. Nhưng vì lòng chân thành quý trọng cả cái tài và cái tình của anh, tôi đã cố gắng viết bài Người lính để lại dấu chân đậm trên văn học. Nay tôi xin chép lại ở đây để bạn đọc tham khảo và thông cảm cho sự hiểu biết có hạn của tôi về anh Nguyễn Minh Châu so với các bạn ở miền Bắc có nhiều cơ hội gần gũi anh:


“Thế là cái điều phải đến đã đến! Sau một trận chiến đấu gay go quyết liệt bảo vệ sự sống kéo dài hơn một năm trên trận tuyến hai ngàn cây số từ Bắc đến Nam rồi lại từ Nam đến Bắc: người lính - nhà văn Nguyễn Minh Châu đã lặng lẽ qua đời hồi 20 giờ 15 phút ngày 23 -1 - 1989 tại Viện quân y 108. Từ quân đội, anh lại trở về giữa lòng quân đội. Qua cáo phó, đăng trên báo, người ta chỉ thấy đậm về mặt danh hiệu đại tá mà chưa thấy sáng lên tên tuổi nhà văn. Khi tôi báo tin anh Nguyễn Minh Châu mất, một người lẫn anh với một nhà thơ, một người lẫn anh với một thượng tướng trùng danh trùng hiệu. Sở dĩ có tình trạng độc giả phía Nam ít biết đến anh vì cho đến nay chưa có một bài nghiên cứu phê bình nào viết riêng về toàn bộ tác phẩm của anh, đánh giá đầy đủ về những đóng góp văn học của anh. Nhưng anh vẫn tồn tại trong lòng hầu hết bạn văn và đông đảo bạn đọc qua những tác phẩm Cửa sông, Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành…


Hồi anh đã nổi tiếng rồi, nhiều anh em trong giới cầm bút vẫn chưa được biết mặt anh, vì anh vẫn bám sát đơn vị chiến đấu để viết, điều ấy có cái hay là vừa giúp anh đi sâu hơn vào đời thường và tâm hồn người lính hơn.


Vốn quê ở Quỳnh Lưu (Nghệ Tĩnh), anh có cái chất phác, bộc trực của người dân đất Nghệ, nhưng đồng thời cũng hóm hỉnh tai quái kiểu Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ. Có người bảo anh mang cái chất của một “ông đồ Nghệ”, hay chữ nhưng khái tính, thâm nhưng mà lành.


Đã có một cuộc hội thảo “mổ xẻ” tác phẩm của anh trước khi cơ thể anh được đưa vào điều trị trong bệnh viện vì bệnh ung thư máu. Nhưng chính trong lúc anh vật lộn gay go với cái chết chậm chạp bò dần trong máu cũng là lúc anh chứng kiến tình cảm nồng nhiệt của bạn văn và bạn đọc suốt từ Bắc đến Nam đối với một nhà văn đầy tâm huyết với đất nước, với văn học mà mong muốn cuối cùng là Việt Nam “hòa đồng với nhân loại”. Nhiều người ở những địa phương khác nhau, xuất thân khác nhau, thậm chí quan điểm khác nhau, đã đến bên giường bệnh của anh, chia sẻ nỗi lo lắng trước căn bệnh hiểm nghèo của anh, thoáng vui mừng khi thấy có dấu hiệu hồi phục và nét đăm chiêu trước những cơn biến chứng kịch phát. Nhiều thầy thuốc cả Tây y, Đông y và thuốc dân gian đã hết lòng chạy chữa cho anh với tinh thần “còn nước còn tát”, “có bệnh thì vái tứ phương” theo truyền thống nhân ái của ông bà ta. Anh có một người bạn đời đảm đang tận tụy săn sóc anh. Anh Nguyễn Minh Châu ơi! Tôi nghĩ đó cũng là niềm hạnh phúc đối với anh dù muộn màng và ngắn ngủi như một tia nắng chiếu. Đời sống của anh đã bị cắt đứt phũ phàng giữa lúc anh viết đang sung sức nhất, nhiều hứa hẹn nhất. Dù sao, những lời tâm tình muộn màng của tôi cũng không phải là lời ai điếu một người lính đã để dấu chân đậm, rõ trên văn học”.


Sau khi báo ra, một nhà phê bình ở thành phố Hồ Chí Minh đọc bài này có vẻ không vui, nói với tôi bằng một giọng chì chiết và hàm ý đe dọa cứ như tôi là một kẻ “phản thùng”, “hai mang”. Qua ánh mắt nghiêm khắc nhìn tôi như đối với một kẻ có tội, tôi biết mình đã “phạm húy” khi vô tình gợi lên bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn học minh họa của anh Nguyễn Minh Châu trong câu cuối cùng của bài báo. Tôi hơi lo lo, nên phải đi tìm đọc hết tất cả các bài báo viết về anh Nguyễn Minh Châu trong thời điểm này, đó là cái thời điểm không phải như Bretch nói: “Ôi cái thời mà nói đến cây cũng kể phạm vào tội ác” mà là: “Nói đến một bài báo mà người ta không đồng tình cũng kể phạm vào tội”, bởi vì như Maikốpxki nói: “Kẻ nào hôm nay không hát cùng ta, kẻ đó chống lại ta”.


Trên báo Văn nghệ Đồng Nai tôi được đọc bài “Nỗi niềm “Ai điếu” gởi người “Điếu ai” của anh Hoàng Văn Bổn: Anh xuất hiện giữa bước ngoặt của đất nước, trưởng thành giữa nhiều bước ngoặt của Tổ quốc và ra đi giữa bước ngoặt mới hết sức gay gắt của nhân dân.


Bốn chục năm qua, đất nước mình là một xâu chuỗi bước ngoặt gay gắt. Bước ngoặt trước làm nảy nở bước ngoặt sau. Bước ngoặt sau phủ định và khẳng định bước ngoặt trước. Một xoáy nước đến chóng mặt.


Thế hệ cầm bút chúng mình lặn ngụp trong dòng xoáy, điên đảo ấy, tàn phá cũng dữ mà sinh sôi cũng dữ.


Một phần tư thế kỷ dữ dội như thế, không một phút nghỉ ngơi, ngắm nhìn non nước, trời đất, nói gì đến “trang trải cái tôi” trên giấy trắng mực đen. Ngơi nghỉ một đôi ngày, sẽ thất bại một trận đánh, sẽ mất đứt một chiếc cầu, sẽ rụng một biên đội Míc, bị đánh chìm một hạm đội, sẽ bị xóa sổ một trung đoàn, một thành phố, một xã, ấp… Toàn dân phải thế. Người lính phải thế. Người lính cầm súng chúng mình lại càng phải thế. Không thế, sẽ không tồn tại. Sẽ bị tụt hậu, bị sa thải. Cho nên, viết trong bất cứ hoàn cảnh nào. Trên đường hành quân ra trận. Dưới chiến hào giữa hai trận đánh, trên boong hạm tàu. Cạnh đường băng sân bay, bệ phóng tên lửa… Có những tác phẩm, những bút ký, kịch bản phim, tiểu thuyết… lẽ ra phải tìm hiểu nghiền ngẫm hàng năm trời mới dám đặt bút, thế mà với chúng mình ngày ấy, phải hoàn thành trong mươi mười lăm ngày. Nhởn nhơ trầm tư, bước ngoặt lịch sử, người lính sẽ không chờ đợi, sẽ không cần tác phẩm ấy. Đó là sự thật. Một sự thật vừa hùng tráng, vừa đắng cay khôn xiết. Trước hết, trên hết là phục vụ cho chiến thắng hoàn toàn đội quân viễn chinh xâm lược Pháp, hàng năm mươi vạn quân viễn chinh Mỹ và chư hầu, với hàng triệu quân ngụy bản xứ. Sau đó, còn lại cái gì đáng gọi là văn chương, người đọc, nhân dân và lịch sử sẽ phán xét sau, sau ngày chiến thắng, sau khi lau mồ hôi máu, băng rịt thương tích... “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã…”.


Thế hệ nhà văn cầm súng chúng mình chào đời như thế đấy. Phần tư thế kỷ văn chương của đất nước mình hình thành trong hoàn cảnh ấy. Hùng tráng lắm chứ. Vinh quang lắm chứ.


Thế nhưng, chiến thắng rồi, dòng xoáy lịch sử đã chuyển hướng mà chúng mình vẫn lặn ngụp trong dòng chảy cũ, vẫn chuyếnh choáng vị men quả Độc Lập và Tự Do từ bước ngoặt tháng Tám năm 1945, tháng Tám 1964. Không sao dứt ra khỏi cái tư duy, hành động, nghĩa vụ, đạo lý, tiêu chuẩn đo lường phẩm chất đã nuôi dưỡng chúng mình hơn phần tư thế kỷ qua, thế kỷ chiến tranh.


Giờ đây, đất nước đang chuyển sang bước ngoặt mới. Và anh lại xuất hiện. Anh cất cao bài ca “ Ai điếu”. Điếu ai đây? Điếu anh, điếu tôi, điếu lũ chúng mình. Điếu phần lớn cái gọi là sự nghiệp văn chương kháng chiến của thế hệ chúng mình. Điếu nhiều huân chương, nhiều giải thưởng văn học… Thế hệ chúng mình làm ra nó từ tuổi mười lăm, và “ai điếu” nó ở tuổi sáu mươi. Đau lắm chứ. Dũng khí lắm chứ. Phảng phất đâu đây hơi hướng một La Văn Cầu tự chặt cánh tay mình cho đồng đội tiến lên, một Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng, một Phan Đình Giót lấy thân mình lắp lỗ châu mai, một Trừ Văn Thố lao vào bóng đêm dày đặc lửa đạn, một Quan Vân Trường ngồi uống rượu đánh cờ cho Hoa Đà nạo xương vai, tẩy trừ chất độc… Bởi vì, lịch sử dân tộc đã sang trang, lịch sử đất nước cần như thế. Không “ai điếu” những cái cần điếu thì đất nước không tiến lên được nữa, dòng xoáy khủng khiếp bị ứ đọng, sẽ quay trở lại phá tan những cái cũ đã hình thành theo dòng chảy xưa của nó. Ai điếu và điếu ai!


Anh xuất hiện giữa bước ngoặt xưa, và ra đi ở bước ngoặt mới. Anh đã hai lần lột xác.


… Bước ngoặt này không có…


Nhưng, bước ngoặt này, có tiếng chuông báo động của anh: “Ai điếu và điếu ai”.


Anh đã đánh tiếng chuông ấy, và anh ra đi giữa tuổi sáu mươi.


Mấy thằng bạn này của anh còn ở lại, lắng đón tiếng chuông của anh cũng ở tuổi sáu mươi! “Trong tiếng chuông của anh có nước mắt và khói hương giã biệt của chúng mình” (Đồng Nai, Tết 1989, Hoàng Văn Bổn).


Hú vía! Anh Hoàng Văn Bổn đang lãnh đạo Hội Văn nghệ Đồng Nai mà cũng nhắc đến bài “Ai điếu” một cách rõ ràng mạnh mẽ hơn tôi!


Cũng trên số báo Văn nghệ Đồng Nai tôi còn được đọc bài Nghĩ về một bậc đàn anh của nhà văn trẻ Nguyễn Đức Thọ.


“Tôi đã đọc anh từ thuở học trò. Ngày ấy, đọc “Dấu chân người lính”, anh đã làm cho chúng tôi không đứa nào yên tâm ngồi nghe giảng. Ấy là tôi nói về lũ con trai, những đứa bạn tôi. Và khổ lắm, lũ con gái cũng theo nhau lên đường để “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” bởi họ cũng đọc anh! Chúng tôi lên đường, trở thành những anh chàng thư sinh mặc áo lính khác với thế hệ anh, nông dân mặc áo lính. Tôi còn nhớ mình cầm khẩu AK trong tay mà như cầm cây đàn ghita vậy! Đầy mơ mộng giữa một thời khốc liệt. Và tôi đã giống những nhân vật của anh. Yêu không dám yêu! Yêu theo kiểu các thầy tu khổ hạnh. Nhớ thương theo kiểu các chính ủy và khổ đau theo kiểu không khổ đau.


Rời bộ quân phục, tôi giận anh, giận thế hệ nhà văn lứa anh viết về chiến tranh hình như chỉ mới có một nửa oai hùng và còn thiếu nhiều lắm, nửa đau thương. Tuổi trẻ qua rồi nhưng chúng tôi không thể sống thiếu dũng cảm, thiếu nhiệt tình, thiếu sức trẻ. Bởi cái thiếu thốn không những làm nên khổ đau mà còn làm ra sự hài hước nữa.


Sau đó, tôi đọc anh, những truyện ngắn lạ lùng và giàu suy nghĩ, có vẻ hơi khác với một Nguyễn Minh Châu vốn là cán bộ chính trị trong quân đội. Thì ra ai cũng chỉ có một thời. Thời để sống khác hẳn thời để chết. Và anh cũng vậy, thời để chết khác hẳn thời để sống. Sau “Bức tranh”, sau “Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành” tôi được đọc “Khách ở quê ra” thấy thương anh, kính trọng anh. Anh cũng bị người ta bàn cãi, cũng bị người ta đặt vấn đề cần chú ý về mặt tư tưởng. Thế nhưng may quá, anh vẫn là anh!


Nhớ mùa hè 1987 ở trại văn Việt Trì, tôi may mắn được gặp anh. Tôi chỉ xây dựng được mỗi cái đề cương tiểu thuyết và đưa anh. Anh cười:


- Đề cương chỉ là lời nói suông, tác phẩm mới là hành động. Nhà văn ấy là tác phẩm chứ không phải lời bàn về tác phẩm. Người ta bảo nhà văn nói láo nhà báo nói phét đúng đấy cậu ạ!


Tôi xấu hổ lắm, ngồi im không dám nói câu nào. Anh lại nói:


- Này đừng tin lớp già chúng tớ nhé! Bọn mình ghen tị với các cậu đấy. Các cậu sẽ sống thực hơn lứa chúng mình!


Anh hay nói về hai thái cực: sự hèn nhát và sự dũng cảm cao thượng. May mắn anh đã sống đúng hai thái cực để trả giá, để có những tác phẩm trời cho. Anh có những câu văn trời cho là những câu văn sống. Nó không nhạt nhẽo! Không làm duyên làm dáng như những cô gái ế chồng!


Anh bệnh, biết thế nào cũng chết, vì là bệnh nan y! Mấy ông thầy cứu nhân độ thế chùa Pháp Hoa đành chịu. Khoa học đành chịu. Một người biết chắc mình sẽ chết vẫn nhã nhặn trong sáng được như anh, phải chăng anh đã tường thế nào là cõi Phật, cõi vô biên của sự lương thiện! Thương anh, kính trọng anh nên vẫn cảm thấy đột ngột. Đau lắm anh Nguyễn Minh Châu ơi! Chả lẽ người tử tế thời nay dễ chết thế?


Em còn nhớ, xin lỗi anh, kể công thật vô duyên. Nghe tin anh bệnh phải đi nằm chùa Pháp Hoa, xuống thăm mà chẳng có gì, đem 5 ký gạo cúng chùa. Anh lặng lẽ ghi vào sổ tay, rồi như sợ các em buồn, anh cười, hình như anh cố cười, lúc đó em cảm thấy thế: “Chú đúng là dân Xô viết - Nghệ Tĩnh”. Thế rồi anh về Bắc, dòng máu đỏ của anh bị bạch cầu phá hủy từng giây phút. Anh đã gục ngã như một người lính trận trên trang viết bởi dòng máu trắng. Nhưng em tin, thế hệ chúng em tin, trái tim anh đỏ một màu nhân hậu và trung dũng. Bởi vì người cầm bút nào cũng cần phải có trái tim như trái tim anh! (01-1989 - Nguyễn Đức Thọ).


Như vậy là cả già lẫn trẻ đều đồng cảm hay đồng phạm với tôi.


Trên Tuần tin Thanh niên, tôi đọc được bài “Tiếng gọi hai bờ đất” của anh Thu Bồn.


“… Trên chiếc giường bệnh chạy đua với tử thần, anh đương chạy đến trang 60 của tiểu thuyết Phiên chợ Giát. Không biết ai về đến đích trước, lòng tôi cảm thấy ngùi ngùi.


Trước mặt tôi, Nguyễn Minh Châu có bộ râu xanh và đôi mắt sáng, chỉ còn lại có một thân hình trắng bệch như sáp. Tôi cảm thấy anh như tờ giấy của những bản thảo còn lại. Anh nói hụt hơi. Tôi bảo anh đừng nói chuyện nữa. Chị Doanh dọn cơm cho anh ăn. Anh nhai từng hạt ngọc trắng mà chị Doanh đã chi chút tiền bạc để mua được ngoài chợ trời - Giống gạo quý ấy ngày nay người thường ít được ăn.


Nhớ ngày anh vào thành phố Hồ Chí Minh để chữa bệnh tại chùa Pháp Hoa mà lòng tôi cay đắng. Anh Châu là người ít tin vào số phận, nhưng chiều lòng chị Doanh anh phải vào “quy y” trong một ngôi chùa có một nhà sư tự xưng là có thuốc chữa cho bá bệnh. Nửa đêm, anh Châu thường thức dậy để nghe tiếng cầu kinh của một thiếu nữ người Quảng Trị. Tiếng cầu kinh giữa đêm khuya giống như tiếng vọng từ một thế giới xa xăm. Ngồi với anh dưới mái chùa, chúng tôi nghĩ thế nào khi anh lành mạnh, anh cũng sẽ cho ra một quyển sách hay nói về chùa Pháp Hoa. Khi tôi muốn viết bài nói về lòng tôi không tin tưởng mấy vào cái lối chữa bệnh, mà cách đây mấy chục năm mẹ tôi dắt tay tôi đi vào chùa, và múc nước ở một dòng suối - mỗi người chỉ múc được một chai, uống vào lành tất tật các thứ bệnh. Dĩ vãng tưởng sẽ qua đi, không ngờ hiện lại với vóc dáng cao siêu hơn mà đến nỗi các vị tướng lĩnh từng chỉ huy các đạo hùng binh các chiến sĩ trẻ từ chiến trường Cam pu chia trở về - những người đọ sức với điểm nóng nhất của nhân loại trong cuối thế kỷ này, cũng bước vào đây hồi hộp chờ lượt bàn tay nóng rực của vị sư y nắm vào cổ tay mình trong một giây. Anh Châu ăn chay, người xanh như tàn lá. Thuốc đắng hơn mật rắn, anh cố nuốt từng bát một. Chị Doanh nấu sắc chưng cất: mười bát nước nấu cô còn một bát. Nước thuốc đặc quánh. Tôi nhấm thử một tợp sởn hết lỗ chân lông - Tài gì mà con vi trùng không chết. Anh Châu được “triển lãm” sống tại ngôi chùa này nhưng anh nháy mắt ra hiệu và nói với tôi. Thầy Thích Thiện Thắng chẳng có tội gì cả. Sự ưu ái, lòng nhiệt tình của thầy là liều thuốc cũng có thể chữa một vài con bệnh. Đừng nên động đến thầy nhưng cũng đừng nên làm khổ thầy và khổ những con bệnh đi từ ngàn dặm đến đây. Thuốc có thể chữa không lành bệnh nhưng lòng tốt con người thì rất khó tìm. Chúng tôi tìm ra một số triết lý để giải thích cuộc sống trong chùa Pháp Hoa. Chị Doanh vợ anh Châu từ một năm nay thức chăm sóc cho anh, bây giờ trở thành quen không ngủ nữa rồi. Với đôi mắt sâu trũng chịu đựng của chị lúc nào cũng dành một giọt nước cho bạn bè. Tôi không thể hiểu chất nước ấy từ đâu có thể không cạn được. Anh Châu chữa những cơn đau bằng những giọt ngọc đó.


Khi tôi viết bài này thì thân xác anh đã nằm yên dưới lòng đất Văn Điển. Trên mồ anh những vòng hoa tươi chưa héo. Bài ký Tiếng gọi hai bờ đất của anh như tiếng gọi những ai đương chết dần trong những cuộc tranh chấp. Còn “Dấu chân người lính” của anh thì vẫn để lại trong lòng chúng ta những vết ấn sâu đậm của thời gian - Nguyễn Minh Châu” (TP. Hồ Chí Minh 27 – 11 – 1989, T.B).


Trên tuần báo Văn nghệ số 7 (1989) tôi được đọc bài của anh Nguyễn Trọng Oánh:


“Nguyễn Minh Châu mất đi là một thiệt thòi lớn cho Hội Nhà văn, cho những bạn đọc chúng ta, cho hôm nay, cho mai sau. Cái mất mát này quá lớn. Trước hết, đó là một tài năng khó có thể thay thế được. Một tài năng đã nhiều người nói đến, đã nhiều người đọc, nhiều người viết. Riêng trong lực lượng vũ trang, anh càng là người viết khó thay thế. Anh đã kinh qua hai cuộc kháng chiến, đang ở cái tuổi từng trải, nhiều kinh nghiệm, đang viết khỏe, có tài năng. Tài năng của anh là một điều khẳng định.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »