tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19002250
Tiểu thuyết
24.08.2009
Hoài Anh
Mê Linh tụ nghĩa

Bà Chu Tước và em gái là Vân Mộng quê ở Đồng Sậu đã xây dựng thành Miếu Môn(10) để chống với quân Hán. Thành được đắp nối liền với hai chân núi đá vôi, rồi tỏa ra như các vành đai. Phía ngoài có hào sâu bám dưới chân núi. Tất cả thành lũy và hào kết thành một hệ thống ôm gọn thung lũng của ba ngọn núi Phượng Sơn, Tượng Sơn và Yên Ngựa. Miếu Môn có một vị trí chiến lược, là ngã ba án ngữ hai nẻo đường: phía Đông từ Ngã ba Thá - nơi sông Đáy gặp sông Tích. Đi vào có thể sang vùi núi Hòa Minh, phía Bắc theo đường cái quan từ Sơn Tây xuôi qua đây để đến Xuân Mai rồi vào Chi Nê, Nho Quan... Thi Sách cùng Nàng Chắc có ý định đứng lên tổ chức cuộc khởi nghĩa, nhưng trước đó muốn thăm dò xem lực lượng quân sự của phủ đô hộ như thế nào. Chàng đã mời Đặng Hùng đến ăn tiệc ở dinh huyện lệnh để tìm hiểu thực lực của bọn đô hộ hầu tìm cách đối phó.


Một đêm có một tù nhân vượt ngục bí mật tìm đến gặp chàng để cung cấp tình hình trong phủ đô hộ. Thi Sách hỏi họ tên thì người đó nói mình là Doãn Công, học trò của Nguyễn Huyến.


Thì ra sau khi bọn lính của huyện Gia Bình mang trát đòi đến nhà, cứ tài lực chàng thì thừa sức thoát thân, nhưng chàng cứ theo chúng lên huyện, để bảo đảm an toàn cho Thiên Thanh và Nguyễn Đào Nương, nhân dịp này dò xét nội tình của chúng. Khi lên tới huyện, huyện quan lại sai giải chàng lên phủ đô hộ. Bọn tay sai phủ đô hộ tra tấn chàng rất dã man, nhưng chàng vẫn cắn răng chịu đòn không khai, cuối cùng chúng đành giam chàng vào nhà ngục. Lợi dụng lúc bọn lính dẫn chàng đi đại tiểu tiện, chàng để ý quan sát, ghi nhớ cách bố phòng đồn trại trong phủ đô hộ. Đến khi biết tin Đặng Hùng đã bị giết mà phủ đô hộ giữ kín, chàng tìm cách khống chế bọn lính gác, vượt ngục về đến Chu Diên, báo tin cho Thi Sách biết việc đó và cung cấp nội tình trong phủ đô hộ.


Thi Sách bàn bạc với Nàng Chắc, hai người quyết định nhân cơ hội này tổ chức cuộc khởi nghĩa. Doãn Công thì về bàn với vợ và các nghĩa sĩ để đến khu Đầu Rồng núi Thiên Thai lập căn cứ chống giặc.


Trước khi xuất quân, Thi Sách nói với Nàng Chắc:


- Ta xuất quân, cần phải có danh nghĩa. Nay tôi dù sao cũng là một quan chức của nhà Hán, nếu tôi nổi dậy đánh dinh thái thú, bọn đô hộ sẽ cho là tôi chỉ vì tham quyền chức, tham của cải, muốn giết Tô Định để thay thế y, như vậy chính nghĩa của ta không tỏ rõ với người trong cả nước, nhiều người sẽ hiểu lầm ta chẳng khác chi loài giặc cỏ tầm thường. Chi bằng ta xử sự đường đường chính chính, trước hết để tôi đến thuyết phục Tô Định một lần, yêu cầu y hạ mức thuế cho dân, không bắt dân phải lên rừng, xuống biển tìm cống phẩm nạp cho vua Hán, trừng trị bọn quan tham lại nhũng. Nếu y biết phục thiện, chịu theo lời yêu cầu của ta, thì đó là phúc cho sinh linh, dân chúng biết được tin này sẽ càng cảm ơn đức của ta. Nếu y không nghe mà đm bụng hại tôi, tin ấy truyền ra, dân chúng sẽ càng căm phẫn mà tấp nập đến theo nghĩa quân. Khi đó ta xuất quân, là quân do danh nghĩa trừ diệt Tô Định tham bạo, triều đình Hán cũng không bắt bẻ ta vào đâu được, bởi vì đó là tội do Tô Định gây nên, tự thân tác nghiệt thì phải chịu, chứ ta không hề mưu đồ phú quý cho bản thân mình…


Nàng Chắc lo lắng:


- Nếu lần này chàng đi mà Tô Định trở mặt giết chàng thì sao?


Thi Sách cương quyết:


- Thà hy sinh một mình tôi để đổi lấy hàng vạn người đi theo nghĩa quân, càng có ích hơn cho việc lớn. Tôi biết nàng rất thương tôi nhưng chí tôi đã quyết rồi, đừng ngăn cản tôi mà hãy thành toàn cho chí nguyện của tôi.


Nàng Chắc biết không thể ngăn được nên gạt lệ tiễn Thi Sách lên đường tới dinh thái thú. Thi Sách đi còn quay lại nhìn Nàng Chắc mấy lần rồi mới khảng khái cất bước.


Sau khi Thi Sách đi, Nàng Chắc vẫn chuẩn bị đầy đủ mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa. Nàng sai Nàng Nhì đến Cự Triền(1), xây dựng căn cứ. Còn nàng thì về xóm Nội Nhà ở Kẻ Lói bàn bạc với bà Đoan và vợ chồng ông Đỗ Năng Tế về kế hoạch khởi nghĩa. Bà Đoan khuyên nên nổi dậy ở Phong Châu, kinh đô cũ của nước Văn Lang để tỏ ý khôi phục quốc thống của các Vua Hùng. Đỗ Năng Tế thì khuyên nên hôi quân ở cửa sông Hát thông với sông Cái và sông Đáy là nơi tiện tập hợp cả bộ binh và thủy binh.


Trên đường đến Cự Triền, qua một khu rừng, Nàng Nhì thấy một đoàn người đang săn tê giác, nên trèo lên cây cổ thụ núp trong tàn lá rậm xem.


Tê giác là một loài thú có một cái gì giống bò và ngựa nhưng lại to lớn như một con voi con. Da nhẵn không sùi màu, biểu bì có rãnh nhỏ chia làm nhiều đĩa nhỏ nhiều cạnh. Bề mặt thân chia làm nhiều mảnh giáp với nhau bởi nhiều nếp, nép trước và sau vai cũng như nếp trước đùi kéo dài qua lưng. Nếp gáy thường hơi kém phát triển. Màu da xám thẫm toàn thân. Trên đầu có một sừng.


Một người có vẻ là viên Hương trưởng đem theo một trăm người, cùng với mấy con voi. Con tê giác trước một số đông địch thủ, không tỏ vẻ sợ hãi mà còn thu hết sức lực giận dữ xông tới, thế là cả đoàn người phân tán làm hai cánh để cho con tê giác lọt vào giữa và chạy tới phía sau có viên Hương trưởng đứng chờ để giết nó. Viên Hương trưởng ngồi trên lưng voi, voi cố lấy vòi chộp lấy tê giác nhưng không sao làm nổi vì tê giác nhảy tứ tung, cố dùng sừng để đâm voi. Viên Hương trưởng biết rõ tê giác vì có nếp nên không dễ gì bị thương nếu chỉ đánh vào bên cạnh. Ông chờ đến lúc nó nhảy lên và phơi bụng ra, lúc đó ông nhắm, và rất thiện nghệ, ông ném ngọn đao đâm suốt từ bụng tới lưng, giữa tiếng hò hét voi mừng của cả đoàn người. Không chờ đợi gì nữa, họ xúm lại lấy cưa cưa sừng của con tê giác.


Giữa lúc đó lại có một con tê giác lớn từ trong rừng ra dùng hai sừng đâm thẳng vào đoàn người, khí thế mạnh và nhanh như chớp không sức gì ngăn cản nổi. Nhiều người đã bị nó đâm chết, số còn lại vội bỏ chạy.


Nàng Nhì ngồi trên cây vội phi thân xuống cười trên mình con tê giác, vận khí cho ngón tay cứng như sắt đâm thẳng vào gáy nó. Bị đâm trúng đại huyệt, con tê giác không cử động được. Lợi dụng lúc đó viên Hương trưởng cầm giáo đâm vào cổ họng nó. Nàng Nhì tung mình nhảy xuống, con tê giác ngã xuống đất. Mọi người cưa hai sừng của nó rồi lập tức quơ một đống củi lớn, châm lửa đốt, trong khi nếp da của hai con thú bị thiêu và thịt nướng chín thì họ nhảy múa chung quanh, mỗi người tiếp theo nhau xẻo thịt đang chín dần dần và ăn vui vẻ.


Sau đó họ mổ lấy tim, gan và óc để dọn món mĩ vị đem hầu viên Hương trưởng lúc này đã lui ra xa một chúc ở một nơi khá cao. Viên Hương trưởng nói với Nàng Nhì:


- Xin cám ơn cô nương đã cứu chúng tôi. Bọn tôi phải vào rừng kiếm sừng tê về nộp cho phủ đô hộ, nhiều người đã chế vì thú dữ. Tôi phải đích thân đi cùng dân làng kiếm sừng tê vì nếu không nộp đủ số sẽ bị quan Thái thú trừng trị... - Viên Hương trưởng cầm một chiếc móng tê giác đã thui đưa cho Nàng Nhì - Mỗi cô nương dùng thử chiếc móng này, móng đó cũng có những tính chất và công hiệu như móng voi, dùng làm thuốc chống ngộ độc một cách tuyệt diệu.


Nàng Nhì đỡ lấy chiếc móng:


- Xin cám ơn ông. Xin hỏi ông có phải là Hương trưởng ở đây hay không?


- Vâng. Còn cô nương tên họ là gì xin cho chúng tôi biết để mãi mãi ghi nhớ ơn cứu trợ.


- Tôi là con gái của cố Lạc tướng huyện Mê Linh.


- Trời, vậy ra là tiểu thư của cố Lạc tướng. Hùng Lạc tướng trước đây vẫn bênh vực chúng tôi trước quan Thái thú và xin Thái thú miễn cho dân việc nộp ngà voi, sừng tê, không ngờ Người đã...


- Tôi có ý này muốn ngỏ với ông. Hiện nay chị em tôi nối theo chí nguyện của gia phụ, đang chuẩn bị đứng lên khởi nghĩa chống ách đô hộ. Tôi thấy các ông tội gì mà cứ phải nai lưng ra kiếm ngà voi, sừng tê cho bọn đô hộ, để chuốc lấy cái chết vô nghĩa. Chi bằng đến Cự Triền cùng chúng tôi lập căn cứ chống giặc Hán, giành lại quyền tự chủ cho nước nhà, lập công để lại muôn ngàn đời về sau, há chẳng hơn ư.


Viên Hương trưởng nói:


- Xin lệnh tiểu thư để chúng tôi chôn cất xong những người bị nạn và thu xếp việc nhà, sau đó sẽ xin đến Cự Triền họp mặt.


Viên Hương trưởng lại tặng Bà Man Thiện, Nàng Chắc, Nàng Nhì mỗi người một chiếc sừng tê, và sai người mang hầu nàng đến Cự Triền.


Hùng Nguyên cắp gươm theo hầu Thi Sách đến dinh Thái thú, nhưng đến cửa dinh, lính canh ngăn chàng lại chỉ cho một mình Thi Sách vào.


Vừa nhìn thấy Thi Sách, Tô Định hất hàm hỏi:


- Ông huyện lệnh, ông đến gặp tôi có việc gì?


Thi Sách dõng dạc:


- Thưa ông Thái thú, hôm nay tôi đến đây không chỉ nhân danh một mình tôi mà thay mặt cho hàng vạn dân Giao Chỉ bị các ông áp bức bóc lột tới tận xương tủy, đến nỗi không còn đường sống. Tôi yêu cầu ông phải giảm bớt các thứ thuế nặng nề, thôi bắt dân đi làm lực dịch xây dựng dinh thự, thành trì cho các ông, miễn việc bắt dân nộp cống phẩm cho vua Hán. Ông có biết bao nhiêu gia đình tan tác, bao nhiêu người bỏ mạng vì lao dịch vất vả, bao nhiêu người nộp mình cho cọp dữ, cá mập hay không?


- Việc đóng thuế, đi phu, nộp cống là phận sự của đám dân đen, sao có thể miễn giảm được. Việc bắt dân làm phận sự đó là nghĩa vụ của bọn quan chức của triều đình trong đó có ông. Nếu ông không làm trọn nghĩa vụ thì sẽ bị cách giáng, còn nói năng gì nữa.


- Tôi báo cho ông biết một lần cuối cùng, tức nước thì vỡ bờ,dân chúng không chịu nổi sẽ đứng lên chống lại nhà nước đô hộ, khi chuyện đã xảy ra thì ngọc đá cùng cháy, chuyện đó chúng tôi không dám biết trước.


Tô Định nổi giận đập bàn mắng:


- A! Tên Nam man kia dám cả gan thách thức, đe dọa triều đình Đại Hán à? Quân bay, mau bắt Thi Sách đem ra pháp trường chém đầu về tội mưu phản. Y lệnh!


Quân lính xông ra bắt trói Thi Sách giải đi. Thi Sách còn ngoái lại nói với Tô Định:


- Bay giết ta chỉ tổ đổ thêm đầu vào ngọn lửa phẫn nộ của dân chúng Lạc Việt mà thôi! Ta chết đi sẽ có hàng vạn người đứng lên trả thù cho ta, cơ đồ của bọn bay sẽ không bền vững được đâu!


Tô Định quát:


- Lôi nó đi!


Quân lính dạ ran, lôi Thi Sách ra pháp trường chém đầu, bên đầu lầu lên cọc, dựng ở trên thành quận để răn đe dân chúng.


Từ chiếc đầu lâu, máu tươi thánh thót rỏ giọt xuống thảm cỏ xanh phẳng lì như tấm lụa dưới chân thành. Hốc mắt của Thi Sách như hai hố thảm nhìn sâu vào ngày tận số của bọn cướp nước kêu gọi dân chúng đứng lên lật đổ cường quyền.


Khi Hùng Nguyên lao vào ôm lấy cái xác không đầu của Thi Sách, nhảy phốc lên mình ngựa phi thẳng thì bọn quân của dinh Thái thú ùa tới đuổi theo chàng. Đuổi không kịp, chúng bắn cung tên theo như mưa nhưng không trúng phải chàng. Chàng cứ thế phi thẳng về Kẻ Lói, ngựa sủi bọt đầy cả hàm thiếc.


Nàng Chắc nhìn thấy xác của chồng do Hùng Nguyên mang về vội lao tới ôm lấy gào khóc rồi ngã vật xuống ngất đi.


Bà Đoan, Đỗ Năng Tế, Tạ Cẩn Nương đứng lên lo việc ma chay. Một người cầm chày giã đuống, báo tang. Dân làng xung quanh nghe tiếng giã kếch kếch, đều chạy tới giúp việc tang. Người ta dùng gỗ tiện một cái đầu, đem chắp vào mình Thi Sách tắm nước trầm hương rồi khâm liệm. Xác chàng được lót chiếu, đặt trên một chiếc quan tài bằng thân cây khoét rỗng, hình thuyền độc mộc, bên cạnh để chiếc bơi chèo bằng gỗ, thả trên sông Hát để dân chúng khắp nơi đều được tiễn đưa.


Nàng Nhì dẫn một đội nữ binh đội khăn tang mặc áo tang dàn trên bờ sông viếng người liệt sĩ.


Nàng Chắc sai Hùng Nguyên, Nàng Nhì mang thư đi khắp nơi báo tang và mời hào kiệt sáng mai đến hội Hát.


Buổi chiều, Nàng Chắc, bà Đoan, Đỗ Năng Tế, Tạ Cẩn Nương cho mai táng Thi Sách. Triệu Tam Chinh từ Mai Động kịp đến viếng tang. Ông có dẫn theo những môn đồ học môn vật của ông đến tụ nghĩa.


Đêm ấy Nàng Chắc thắp bạch lạp ngồi đọc binh thư. Lệ nến rỏ trên trang giấy ố vàng. Những dòng chữ nhảy múa trước mắt nàng:


“Tướng khi ra trận không hỏi vợ con, là tỏ ra đã dâng mình cho nước. Vua khi sai tướng không dám khinh nhờn viêc lễ, là tỏ ra tôn trọng việc dùng người. Tướng khi ở ngoài có quyền không theo mệnh vua, chỉ nhằm tiện lợi của nhà nước mà phục vụ, giữ mình trong sạch, quí trọng quân sĩ. Cho nên tướng mà cự lời can ngăn thì người anh hùng trở về nhà; không theo chước hay thì kẻ mưu sĩ cũng bỏ đi; coi thiên hạ ngang nhau thì hiền ngu lẫn lộn; thưởng phạt rối loạn thì kỷ cương tan tành; mừng nhiều thì không có uy; giận nhiều thì lòng người lìa; đội nặng nhiều thì có lo; ham thích nhiều thi trí lầm; rộng rãi thì quân trễ nải; bạo ngược thì quân kiêu hờn. Tướng tự chuyên thì người dưới đổ lỗi cho; tướng tự khen mình thì người dưới không chịu lập công; tướng nghe lời gièm thì người ngay bỏ đi; tướng ăn của đút thì quân lính gian tham; tướng ham việc trong buồng thì quân lính dâm đãng; không tham ái mê sắc thì giữ mình được trong sạch; biết lánh hiềm xa ngờ thì uy tín được tăng thêm; tính kỹ lo xa cho nên không hỏng việc”..


Nàng ngừng đọc, tưởng như những dòng chữ được viết riêng cho nàng.


*


Sau khi chôn cất xong Đặng Hùng, Diệu Tiên theo Thiều Hoa và Phương Dung trở về động Lăng Xương. Nghe Thiều Hoa nói Đặng Hùng đã chết, Giáng Vân bỗng xúc động, hai hàng lệ từ từ lăn trên gò má. Thiều Hoa giật mình, vội quỳ xuống trước mặt Giáng Vân nói:


- Cháu xin lỗi cô đã làm cho cô đau lòng, nhưng cháu không thể…


Giáng Vân vội nói:


- Đặng Hùng giết ông và cha cháu, chết là đáng đời lắm rồi. Cô cám ơn cháu vì nhờ có cháu mà Phương Dung khỏi phải nhúng tay vào máu cha nó, để cho oan trái càng thêm chồng chất. Cô chỉ buồn cho chị Diệu Tiên và cháu Quảng Khánh, không biết cháu nó có…


Diệu Tiên rắn rỏi:


- Chị Giáng Vân đừng bận lòng lo nghĩ về tôi. Gieo gió thì gặt bão là lẽ công bằng ở đời. Tôi còn muốn xin chị và các cháu tha lỗi cho tôi là đằng khác... Còn cháu Quảng Khánh, tôi đã nói cho nó biết tội ác của cha nó, khuyên nó nên bỏ mối hận thù nhưng con bé ương ngạnh nhất định không chịu nghe... Tôi sợ sau này nó lại gây ra chuyện lôi thôi, oán hờn không cởi mà ngày càng thắt chặt thêm, khi đó tôi sẽ mang tội với chị là không biết dạy bảo con…


Dứt lời, Diệu Tiên hai hàng nước mắt đầm đìa. Giáng Vân vội an ủi:


- Chị đừng nên buồn rầu như vậy. Tôi tin chắc rằng sớm muộn cháu Quảng Khánh cũng sẽ nghĩ ra mà trở về với chị. Tôi hứa sẽ tìm gặp cháu để thuyết phục cháu dẹp bỏ mối thù riêng mà nghĩ đến mối thù chung của dòng giống Lạc Việt, chị cứ yên tâm…


Diệu Tiên gạt nước mắt:


-          Lòng chị đại lượng như biển trời, không chấp nê những điều thù oán, mà muốn đưa cháu trở lại đường ngay, không đi theo vết chân cha nó, theo giặc hại dân. Nếu nó không nghe lời tôi thì thà tôi từ nó còn hơn có một đứa con phản bội.


(còn tiếp)


Nguồn: Mê Linh tụ nghĩa. Quyển 1 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







(10) Nay thuộc xã Trần Phú, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.




(1) Nay là làng Cư An, xã Tam Đồng, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »