tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18518251
Tiểu thuyết
22.08.2009
Hoài Anh
Mê Linh tụ nghĩa

Bỗng Quảng Khánh từ đâu chạy tới. Trông thấy cha chết thảm nàng vội chạy đến nâng xác cha lên kêu mấy tiếng “Cha! Bớ cha!” rồi tiến đến trước mặt Thiều Hoa quắc mắt giận dữ:


- Thiều Hoa! Mi đã giết cha ta, hôm nay ta quyết phải đòi nợ máu. Hãy mau cúi đầu chịu chết để đền mạng cho cha ta.


Thiều Hoa ôn tồn:


- Cha chị đã giết chết sư phụ, sư huynh và em rể, như vậy chết là đáng tội, còn chị không có tội gì, xin đừng liên can vào chuyện này. Tôi không muốn động chạm đến chị làm gì, vì dẫu sao giữa chúng ta cũng còn có tình máu mủ…


Quảng Khanh rít lên:


- Mi nói đến tình máu mủ, cớ sao lại đang tâm giết chết anh ruột của mẹ mi. còn ta là con gái của người, lẽ nào lại không báo thù cha để miệng đời chê bai là đứa con bất hiếu…


- Tất cả tội lỗi là do cha chị gây nên cả, máu đã chảy nhiều rồi, đừng nên để chảy thêm nữa. Hơn nữa chúng ta còn có chung mối thù to lớn hơn là mối thù giặc Hán đè nén giết hại đồng bào ta. Cha chị đi làm tay sai cho chúng tàn hại dân lành chị nên góp sức cùng mọi người quét sạch giặc Hán để chuộc tội cho cha chị mới là phải, cớ sao cứ cố chấp ôm lấy mối thù riêng mà quên mối thù chung của nòi giống…


- Mi giết cha ta thì ta phải giết mi để báo thù cha, chỉ có thế thôi, không phải nói dằng dai gì nữa. Hãy coi đây…


Thiều Hoa nói:


- Tôi đã nói hết lời mà chị vẫn khăng khăng một mực, nếu thế tôi phải thừa tiếp chị vậy.


Đầu tiên, Quảng Khánh dùng thế Thượng Bộ Thôi Sơn, chân phải bước lên thế trung bình tấn, tay phải đánh mạnh, thẳng vào ngực đối phương. Thiều Hoa dùng thế Kim Điêu Phiên Trảo, rút chân phải lên hoành vân bộ, đá mũi bàn chân về hướng Bắc, đầu quay nhìn hướng Nam, tay phải hạ xuống thấp, tay trái đưa ngang tầm mắt. Quảng Khánh dùng thế Qui Hình Hoán Ảnh, tay trái chém vào mặt đối phương. Thiều Hoa để chân phải rơi xuống đất, hoành thân lại xoay tròn, tay trái chụp trảo vào mặt đối phương theo thế Ngọc Hổ Hoành Phong. Quảng Khánh tay phải đánh xéo từ dưới lên mặt đối thủ, chân phải đá tạt xéo lên vai theo thế Tảo Phong Cước. Thiều Hoa vẫn đứng thế hậu tọa bộ, chân phải ở sau, tay phải giữ tư thế trước đảnh xuống và hất từ phải qua giữa theo thế Kim Cương Thủ Ấn, tay trái thủ trước bụng. Quảng Khánh chân phải đá xong rơi xuống đất thành trung bình tấn, tay phải đấm vào ngực đối phương theo thế Triệt Tâm Hữu Quyền. Thiều Hoa chuyển sức bặng tới chân thành cung mã, tay trái đấm thẳng vào ngực đối thủ theo thế Huyền Thiên Chỉ Pháp. Quảng Khánh rút chân phải về xà bộ, tay phải rút về theo và lật ngửa nắm tay đánh vào tay đối phương theo thế Chẩu Đề Khán Chùy. Thiều Hoa chân trái rút về sau háng, chân phải ngồi, chỏ tráo chống lên đầu gối phải, tay phải nắm lại che đầu theo thế Hồi Mã Tọa Mai Phục. Quảng Khánh lại xông vào vận hết mười thành công lực đánh tay phải thẳng, thật mạnh và nhanh vào ngực Thiều Hoa theo thế Hỗn Thế Chân Lực, tin chắc là sẽ áp đảo được đối phương. Thiều Hoa đã chờ sẵn, tay trái hất cao lên đồng thời chân trái đá hất cao lên theo thế Thăng Long Tả Cước. Tiếp đó chân trái vừa rơi xuống đứng trung bình tấn, tay trái đấm thẳng vào ngực đối phương theo thế Triệt Tâm Tả Quyền.


Thiều Hoa khi giao đấu đã cố gắng nới tay chỉ vận năm thành công lực vì nàng không muốn giết Quảng Khánh để làm đau lòng bà Diệu Tiên, nhưng Quảng Khánh vốn tính ương ngạnh cứ lăn xả vào đánh liều chết để trả thù cho cha. Thiều Hoa tức giận cũng vận thêm công lực vào chưởng của mình phóng tới. Giữa lúc Phương Dung vừa xuất hiện xông vào đỡ cú đấm cho Quảng Khánh, nàng loạng choạng lùi lại sau mấy bước miệng phun ra một bụm máu.


Thiều Hoa thấy mình đánh nhằm phải Phương Dung vội dừng tay lại rung giọng thốt:


- Phương Dung! Em có làm sao không?


 Thì ra vừa rồi Thiều Hoa chỉ vận có bảy thành công lực nên Phương Dung chỉ bị đẩy lùi lại sau, khí huyết nhộn nhạo cả lên, chứ nếu vận đủ mười phần công lực thì không cứ Quảng Khánh mà cả Phương Dung cũng thiệt mạng rồi. Quảng Khánh lại hăm hở xông vào đánh Thiều Hoa. Bỗng có tiếng quát của bà Diệu Tiên:


- Bọn bay hãy dừng tay lại đợi lệnh ta đã.


Thiều Hoa vội đứng im nghe lệnh, còn Quảng Khánh vẫn còn vùng vằng. Bà Diệu Tiên nói:


- Quảng Khánh! Con có biết ai đã cứu thoát ta khỏi tay bọn cướp Hổ Đầu Sơn không?


Quảng Khánh còn đang ngơ ngác thì bà Diệu Tiên nói:


- Chính Phương Dung điệt nữ và tráng sĩ Đào Kỳ đã cứu ta thoát tay bọn cướp. Khi bọn ta bắt được tên đầu đảng, tra hỏi nó sao lại tàn sát cướp bóc của dân lành, nó nhìn thấy ta bỗng cười lên hô hố rồi nói: “Bà có phải là vợ ông Đặng Hùng không? Bà trách chúng tôi tàn hại dân lành, nhưng bà có biết đâu chúng tôi chỉ là tay chân của ông Đặng Hùng mà thôi. Ông ấy đã thu phục chúng tôi, buộc chúng tôi phải làm theo lệnh ông ấy. Cả việc hai lần đến cướp nhà bà, đều do ông ấy sắp đặt cốt chiếm được lòng tin của cha con bà để sau đó sang đoạt tài sản. Chính tôi đã theo lệnh ông ấy tra khảo cha bà để tìm ra nơi chôn giấu vàng bạc rồi giết ông cụ cho phi tang. Quảng Khánh con, như vậy chính cha con đã giết chết ông ngoại, nếu con nhất mực đòi trả thù cho cha con, thì chẳng lẽ ta không biết trả thù cho cha ta hay sao? Oan oan tương báo, cha con chết như vậy cũng là để đền tội đã gây nên. Con nên xếp bỏ thù riêng để lo trả mối thù chung của đất nước…


Quảng Khánh khăng khăng:


- Con rất kính trọng mẹ, nhưng mẹ cho phép con không thể vâng theo lời mẹ được. Con quyết phải liều một trận sống mái với kẻ thù đã giết cha con…


- Chính Phương Dung là người đã cứu mẹ thoát chết, nếu con động đến ân nhân của mẹ thì mẹ buộc lòng phải chặn tay con lại.


Quảng Khánh kêu to:


- Nếu mẹ nhất quyết ngăn cản con thì con đành phải xa lìa mẹ từ đây! - Rồi nàng chỉ mặt Thiều Hoa và Phương Dung - Hai tên kia, mối thù này thế nào ta cũng có phen đền trả, bọn bay cứ chờ đấy!


Dứt lời, Quảng Khánh chạy vụt đi, trong khoảnh khắc đã biến mất dạng.


Diệu Tiên quay lại nói với Thiều Hoa và Phương Dung:


- Con bé đó nó vốn ương ngạnh từ nhỏ, ta không thể nào khuyên bảo được, các cháu hãy thông cảm cho ta…


Thiều Hoa nói:


- Điệt nữ biết rằng bá mẫu hết sức đau lòng, nhưng không làm thế nào khác được, mong bá mẫu cũng thứ lỗi cho điệt nữ…


Diệu Tiên nói:


- Cháu Phương Dung không những đã cứu ta thoát khỏi tay bọn cướp mà vừa rồi còn đem thân mình ra đỡ đòn cho Quảng Khánh, như vậy ta hai lần mang ơn của cháu, còn oán trách gì nữa…


Phương Dung nói:


- Bá mẫu đã chịu khổ nhiều rồi, cháu làm như vậy chỉ cốt để hàn gắn một phần vết thương đẫm máu của dòng họ ta mà thôi…


Thiều Hoa nghẹn ngào:


- Cháu vạn bất đắc dĩ phải làm chuyện này nhưng dầu sao chăng nữa bàn tay cũng đã vấy máu người thân, cháu nguyện rằng sau khi lo tròn việc rửa thù cho nòi giống sẽ tìm một nơi am thanh cảnh vắng tu hành để cầu cho tất cả những vong hồn được siêu sinh tịnh độ…


Diệu Tiên và Phương Dung cũng thổn thức ôm lấy Thiều Hoa. Ba người bắt tay vào việc thu lượm thi thể Đặng Hùng đem đi mai táng.


XVI


Từ ngàn năm trước, dân Lạc Việt đã có kỹ thuật trồng lúa nước. Họ đã biết dùng súc vật làm sức kéo, sau đó lại biết lưỡi cày bằng kim loại, dùng rìu và nhiều dụng cụ khác kể cả các công cụ tưới tiêu có kích thước lớn.


Năm 214 trước Công nguyên, Tần thủy Hoàng sai hiệu úy Đồ Thư sang đánh phương Nam, quân lính nhà Tần đã giết chết quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Tướng Tần Sử Lộc không có đường chở lương lại lấy binh sĩ đào kênh cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Kênh đó ở Hưng An(1), như vậy quân Tần chỉ giao chiến với người Việt ở những vùng có con kênh Hưng An chảy qua(2), chứ các trận chiến không diễn ra ở trong hoặc gần miền lưu vực sông Cái hoặc miền đất sau này được gọi là quận Cửu Chân(3), cũng như quân Tần không kiểm soát được khu vực này.


Đến năm 210 trước Công nguyên, Tần Thủy Hoàng chết và người con trai yếu ớt của ông lên nối ngôi là Nhi Thế, đế chế nhà Tần, nội bộ chia rẽ bắt đầu sụp đổ. Năm 207 trước Công nguyên, tướng Triệu Đà chỉ huy miền Long Xuyên, là người đã từng đánh thắng nhiều trận trước đây chống người Việt và du kích Tây Âu, là những đội quân chống lại sự chiếm đóng của nhà Tần. Triệu Đà là viên tướng có thế lực mạnh về quân sự ở những vùng này được Nhâm Ngao là Thái thú cai trị phần lãnh thổ phía Nam của nhà Tần, trước khi qua đời giao cho kế nghiệp nắm quyền lực và do đó đã ly khai khỏi đế chế nhà Tần. Triệu Đà lập nên nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung(1). Tuy diệt được nước Âu Lạc của Thục An Dương Vương, nhưng Triệu Đà vẫn không kiểm soát được cả miền châu thổ sông Cái và những vùng phía Nam. Quan hệ của Triệu Đà với triều đình nhà Hán ngay cả khi Nam Việt thừa nhận quyền bá chủ của nhà Hán, cũng không phải là trơn tru. Cả hai phía vẫn gờm và nghi ngờ nhau mặc dầu bề ngoài phái bộ của Lục Giả có vẻ làm được một số việc tốt đẹp. Tình hình lại càng xấu đi bởi những vụ đụng độ thường xuyên ở biên giới, chủ yếu là ở vùng dân cư miền Trường Sa khoảng năm 183 trước Công nguyên, tình hình căng thẳng đến mức có thể bùng nổ chiến tranh. Quân viễn chinh nhà Hán ở phương Nam không chịu nổi sự khắc nghiệt của khí hậu đất Nam Việt lại thêm bị dịch sốt rét lây truyền mạnh khắp nơi. Triệu Đà nhân thời cơ đó, xưng “Đế”. Đồng thời, ông tìm cách buộc những thủ lĩnh yếu thế hơn phải thừa nhận quyền bá chủ của mình. Triệu Đà dùng quà cáp và của đút lót mua chuộc các thủ lĩnh người Lạc Việt để họ chịu phục tùng. Sau đó, Triệu Đà đã để cho các Lạc tướng được quyền cai trị lãnh thổ của mình. Triều đình Nam Việt đã cử các viên Thái thú sang hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân, họ được giao phó các vấn đề thống kê dân số và thu thuế. Các sứ giả mới của Triệu Đà đến với những chư hầu mới ở Giao Chỉ và Cửu Chân đều nhận được quà biếu. Giới quý tộc Lạc Việt muốn có một số hàng hóa Trung Hoa, các sứ giả Trung Hoa đã đổi cho người bản xứ để lấy một thứ gì đó như ngọc trai, sừng tê, lông chim trả... Trao đổi hàng hóa trở thành sự cống nạp, tình trạng có đi có lại này không lâu trở thành tự nguyện.


Đến khi nhà Tây Hán diệt nước Nam Việt, hình thức bóc lột kinh tế của họ đối với dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân chủ yếu vẫn là bắt cống nạp và thu thuế. Các Lạc tướng vẫn được quyền cai trị trên lãnh thổ của mình. Lạc tướng gắn bó với đất đai được coi là lãnh thổ của họ (tức là Lạc điền) là những chủ nhân hợp pháp của tất cả ruộng đất mà những người dưới quyền họ chỉ được phép cày cấy chứ không được chuyển nhượng. Thời đó vẫn còn dấu vết của chế độ mẫu hệ, đất đai luôn được giữ trong các gia đình bên vợ, nhằm tránh để mất vào tay người ngoài, đề phòng những người này có thể không tôn trọng phong tục địa phương mà sử dụng theo ý riêng của họ.


Khi Trung Hoa có loạn Vương Mãng, ngoài những người giỏi, những học giả do bất mãn với triều đình Vương Mãng đã chạy sang Giao Chỉ, Cửu Chân, còn có những người Trung Hoa nghèo khổ hơn cũng chạy xuống phương Nam, đặc biệt là nông dân, chủ yếu là đàn ông. Đa số đàn bà và trẻ em phần lớn bị bắt làm nô lệ lên phương Bắc, hơn nữa xã hội Trung Hoa thời kỳ này cho đàn ông nhiều quyền tự do hơn trong việc di chuyển. Đến nơi định cư mới, họ lấy vợ người địa phương (có khi nhiều vợ), con cái họ vẫn được coi là người Trung Hoa, do chính quyền muốn đồng hóa người bản xứ.


Những người di cư Trung Hoa này khi lấy vợ người bản xứ gặp một trở ngại là theo phong tục bản địa, của cải vẫn thuộc về người vợ. Do đó Tích Quang buộc người Lạc Việt phải theo những thủ tục hôn nhân của Trung Hoa, tuy nói rằng cần “lấy lễ nghĩa và pháp luật để dạy dân”, nhưng thực chất là đòi hỏi người Lạc Việt phải thích nghi với những quan điểm của người Trung Hoa về trật tự tự nhiên của mọi vật, là chế độ phụ hệ và sự độc quyền thừa kế của đàn ông.


Người kế tục Tích Quang đến Giao Chỉ là Tô Định, đã “dùng pháp luật trói buộc” dân Giao Chỉ. Chính việc đó đã xúc phạm tới quyền đất đai của Hùng Chắc, vốn là một phụ nữ quý tộc, ngay trên lãnh thổ của gia đình bà, có thể cả quyền thừa kế của bà khi cha mẹ bà mất đi. Sự liên kết của bà với chồng là Thi Sách thể hiện sự thống nhất của cả hai vợ chồng đối với quyền lãnh thổ ở trung tâm một vùng đông dân cư nhất và cũng là miền phì nhiêu nhất ở đất Giao Chỉ. Nếu như mục đích của viên Thái thú nhà Hán là giành quyền kiểm soát đất đai để thỏa mãn nhu cầu của bộ phận người Trung Hoa di cư xuống phía Nam, đặc biệt là những gia đình quan lại chạy trốn các cuộc khởi nghĩa của nông dân và sự kiềm chế của chính quyền Vương Mãng ở phía bắc, và nay là những thế lực chính ủng hộ hắn, thì việc dùng pháp luật để tước đoạt đất đai của phụ nữ trong đó có Hùng Chắc sẽ là một việc làm đạt hai mục đích một cách tốt nhất. Tô Định một mặt phá vỡ sự tập trung quyền lực của giới quý tộc bản xứ và đồng thời kiểm soát đất đai để chia cho bè cánh của mình hoặc cho những nông dân Trung Hoa bướng bỉnh để mua chuộc họ.


Sau Khi Lạc tướng huyện Chu Diên qua đời, Thi Sách lên làm Lạc tướng và huyện lệnh thay cha.


Khi đó ở khắp nới đều có người đứng lên tổ chức khởi nghĩa. Ở trang Ngọc Kỷ(1) có Chàng Hối; ở trang Hương Nộn, Hương Nha(1) có nàng Xuân Nương; ở vùng núi Tùy Sơn(3) có ba anh em Nguyễn Tuấn, Nguyễn Trĩ, Nguyễn Lĩnh; ở Kim Cốc(4) có bà Ngọc Ba và năm người con trai; ở thôn Yên Trường và Trung Thịnh(5) có anh em Chiêu Trung, Đỗ Lý; ở Xà Cầu(6) có ba chị em Chiêu Nương, Nguyễn Hồng, Nguyễn Tuyền; ở Đình Xuyên(7) có hai chị em Phạm Thông, Phạm Nhu; ở Mi Thữ(8) có hai chị em Nguyệt thai, Nguyệt Độ; ở Tống Long, Kinh Môn có Tống Phả; ở Dương Liệt, Văn Giang có Hùng Công; ở Tượng Lĩnh(9) có Quế Hoa, Nữ Hoa...


(còn tiếp)


Nguồn: Mê Linh tụ nghĩa. Quyển 1 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 


 







(1) Ở miền cực bắc Quảng Tây ngày nay, sát biên giới tỉnh Hồ Nam.




(2) Có thể là phía Bắc và phía Đông tỉnh Quảng Tây và có thể là phía Tây tỉnh Quảng Đông dọc theo triền những con sông Quế Giang và Tây Giang.




(3) Tỉnh Thanh Hóa ngày nay.




(1) Ở tỉnh Quảng Đông ngày nay.




(1) Nay là làng Thịnh Kỷ, xã Tiên Châu, huyện Mê Linh.




(1) Nay thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.




(3) Nay thuộc xã Hợp Lý, huyện Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ.




(4) Nay thuộc xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.




(5) Nay thuộc xã Trường Thịnh, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây.




(6) Nay thuộc xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây.




(7) Nay thuc xã Hòa Nam, huyn ng Hòa, tnh Hà Tây.




(8) Nay thuc huyn Bình Giang, tnh Hi Dương.




(9) Nay thuc huyn Kim Bng, tnh Hà Nam.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 28.03.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 26.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
xem thêm »