tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21282867
Lý luận phê bình văn học
22.08.2009
Hoài Anh
Trang Thế Hy - Cái hột sen tuy hơi đắng nhưng “nên thuốc” (2)

Những kẻ “biến chất” đó không chỉ riêng anh chàng “vậy hả”. Trong Hai người nhìn mưa dầm, hồi đánh Mỹ, Hải, một sinh viên y khoa ở Sài Gòn bỏ vào chiến khu năm 1962, công tác văn phòng một cơ quan cấp tỉnh bên Bình Dương đã từng khuyên anh bảo vệ Đực, xuất thân nông dân, nên ở lại hàng ngũ chiến đấu đừng bỏ cuộc nửa chừng. Nhưng sau này ngày giải phóng; Đực trở thành một nhân vật tai mặt trong giới kinh doanh, lại lên lớp lại cho Hải: “... Anh có cái lý của anh để không ưa giới kinh doanh. Thật ra con người ta khi gắn bó quá chặt chẽ với đồng tiền rồi thì rất dễ quên đạo lý. Đó chỉ là thông lệ thôi, không phải định luật. Do định kiến, anh nâng nó lên thành định luật là quyền của anh. Trong túi tôi đang có cái thiệp báo danh in bằng ba thứ chữ Việt, Anh, Nhật, nhưng tôi ghi địa chỉ cho anh bằng chữ viết tay trên bao thuốc lá vì tôi biết anh sẽ vò lọn quẳng nó đi, tôi còn phân biệt người nào “sợ” tấm danh thiếp của tôi, người nào coi nó là trò khoe khoang lố bịch kia mà... Nói thật anh nghe, thằng lính cũ của anh, thằng nông dân tên Đực hiền khô như cục đất ngày nào, bây giờ trong sự bon chen ác liệt hỗn độn của kinh tế thị trường, không phải một đôi lần mà rất nhiều lần, đã phải biết “hung dữ” chút đỉnh khi cần thiết, nhờ vậy mới tồn tại được để ngồi nhậu với anh đây... Và, nói theo cách nói của anh ngày xưa lúc khuyên tôi đừng bỏ cuộc, tôi cũng xin moi ruột gan ra mà thề bán mạng với anh rằng tôi sẽ biết dừng lại ở cái mức “hung dữ” chút đỉnh khi cần thiết thôi chớ không bao giờ trở thành một tên “hung ác”... Đó chỉ là lời tự thanh minh vì nếu đã đi với kẻ hung ác thì sớm muộn cũng “phải hú lên cùng với bầy sói”. Âm điệu của truyện đã bắt đầu vang lên cuộc đối thoại giữa các tư tưởng lưu hành trong xã hội hiện nay.


Năm 1989 anh lại xuất bản tập truyện ngắn Vết thương thứ mười ba. Trong Vết thương thứ mười ba, Trang Thế Hy nói về một trung tá thương binh về hưu, kể chuyện cho lớp trẻ nghe về mười hai vết thương của mình, nhưng đến khi họ đòi anh kể cho nghe về vết thương thứ mười ba của anh thì anh nói: “Viên đạn làm tao bị thương lần thứ mười ba này đã được bắn ra cách đây ba mươi lăm năm, bây giờ mới chạm mục tiêu. Vết thương không làm chảy máu, không để thẹo nhưng tao sẽ đau hoài cho tới chết”. Thì ra vợ anh trước khi chết đã trăn trối với anh hồi năm 1953, chị là cán bộ của Ban ngụy địch vận tỉnh, hoạt động vùng tạm chiếm. Khi bị bắt, chị đã gặp thằng Nhiệm, người làng, trước đây mê chị, nay là sĩ quan tình báo quân đội Pháp, nó vận động lãnh được chị về quản thúc tại thị trấn nơi nó ở. Chị đã vận động nó trở thành nội tuyến, sau khi lập được công lớn được đưa ra vùng giải phóng thì bị chết trên sông Cổ Chiên. Thì ra đáp ứng điều kiện của thằng Nhiệm đưa ra, chị đã “thất tiết” với chồng. Trước khi chết, chị đã nói thật với chồng, chuyện đó đã trở thành “vết thương thứ mười ba” không bao giờ lành được của anh.


Trên thế giới đã có nhiều nhà văn viết về chiến tranh như Hemingway, Remarque... nhưng cuộc chiến tranh ở Việt Nam là cuộc chiến tranh có sử dụng vũ khí hiện đại dài nhất thế kỷ 20 do một siêu cường quốc tiến hành đối với một nước vào loại nghèo nhất thế giới, chỉ những người trong cuộc mới hiểu được những nông nỗi éo le bi thảm, những hy sinh thầm lặng của con người sống trong chiến tranh chưa bao giờ được nói đến trong những cuốn sách đã xuất hiện trên thế giới.


Người bào chế thuốc giảm đau kể chuyện hồi năm 1963, một cán bộ nội thành bỏ đội ngũ đi làm giàu. Khi đã giàu rồi anh báo thù cho chị anh trước đây đã phải làm gái điếm nuôi anh ăn học và trả ơn chị bằng cách xách xe hơi đi săn những cô gái làm cái nghề trước đây đã vùi dập tan nát cuộc đời chị. Một hôm đang ngồi với một cô gái điếm trong một quán ăn, nhân ra ngoài mua thuốc lá, anh vô ý giẫm lên một cuốn sách làm lấm bìa, bị anh bán sách cũ mang sách vào quán bắt đền. Khi lính tới dẹp lề đường, vì rút lui quá hấp tấp, anh chàng bán sách dạo bỏ quên cuốn sách. Cô gái mở cuốn sách ra xem, thì ra đó là một tập thơ có nhan đề Người bào chế thuốc giảm đau, của nhà thơ Thảo Khôi xuất bản tại Sài Gòn năm 1956. Cô đọc bài thơ xong đẩy về phía anh nói: “Anh thử đọc bài thơ này coi”.


Bài thơ nội dung như sau: “Một cô gái điếm hỏi ông Trời chừng nào nạn mãi dâm mới chấm dứt dưới thế gian. Ông trời biểu cô gái trở về cõi tục hỏi những nhà thơ. Đó là những thầy thuốc có phép lạ được Trời sai xuống để xóa bỏ không phải chỉ riêng nạn mãi dâm mà xóa bỏ mọi thứ tai ương khác làm con người đau khổ. Cô gái kể lại giấc chiêm bao được gặp ông Trời cho người tình của cô là một nhà thơ nghe. Nhà thơ buồn bã lắc đầu: “Ông Trời tốt bụng của em đã chọn lầm người để giao sứ mạng. Nhà thơ là nỗi đau. Một nỗi đau sống rất dài, thọ khí âm dương biến thành người: Người bào chế thuốc giảm đau”.


Khi anh hỏi cô gái điếm cảm tưởng của cô về bài thơ, cô nói: “Mỗi khi gặp cái thân phận buồn của mình trong văn chương, em có những xúc động khác nhau. Em phẫn nộ trước sự rẻ khinh che giấu bằng lòng hào hiệp giả, em nhờn tởm sự cảm thông đầu lưỡi của những con heo khoác áo thầy tu khổ hạnh; em cảm ơn nhưng không muốn nhận lòng xót thương chân thực; em tội nghiệp cho những cứu rỗi hoang đường. Còn bài thơ này thì... như anh thấy đó, nó đã làm cho em khóc. Nên biết rằng em bị lên cơn buồn gần như thường xuyên nhưng rất ít khóc. Lần khóc này không biết khóc cho ai nhiều hơn, khóc cho em hay khóc cho nỗi đau nghề nghiệp của người nghệ sĩ thương em đứt ruột mà không biết phải làm gì... giả đò ngó lơ thì không nỡ, thôi thì đành chỉ biết làm người bào chế thuốc giảm đau...”.


Nghe xong, anh nhét vào túi xách tay của cô gái nhiều xấp giấy bạc dày cộm, rồi chia tay, dặn “sau này gặp nhau ở đâu, mình nên làm mặt lạ”.


Thì ra anh chàng săn “bò lạc” này chính là nhà thơ Thảo Khôi. Hai mươi năm sau hai người gặp lại nhau ở Thành phố Hồ Chí Minh, cô gái điếm năm xưa nay đã là một phụ nữ năm mươi tuổi kể cho Thảo Khôi nghe: Hồi 1963 cô là một sinh viên phải đi làm gái điếm, nhờ có số tiền anh giúi đã ngoi ra được khỏi vũng lầy. Thảo Khôi nay đã là một ông già tuổi xấp xỉ bảy mươi, kể cho cô nghe mình vừa đi dự lễ kỷ niệm Dostoievski và nhận ra rằng những câu đại loại như “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới” của Dostoievski chỉ là những thứ thuốc bào chế giảm đau. Còn thầy thuốc lại là những kẻ gieo rắc chiến tranh và tội ác, và cuối cùng đi đến kết luận:


“Trong y học, khi thuốc giảm đau gây tác hại thì đó là lỗi của người sử dụng thuốc chứ không phải lỗi của người bào chế thuốc. Trong nghệ thuật, người nghệ sĩ phải chịu trách nhiệm về bào chế phẩm của mình. Bào chế theo một công thức nào đó, thuốc giảm đau trong nghệ thuật sẽ tiếp tay cho nhà cai trị mị dân”.


Truyện này có thể coi như một “tuyên ngôn nghệ thuật” của Trang Thế Hy, không nên dùng nghệ thuật để gây ảo tưởng cho con người, nhằm xoa dịu nỗi đau của họ, mà phải nhìn thẳng vào sự thật dù tàn nhẫn chăng nữa, khiến người ta liên tưởng đến Trăng sáng của Nam Cao: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối; không nên là ánh trăng lừa dối; nghệ thuật chỉ có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than, vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền”.


Trong Con mèo hoang và nhà thơ có gia cư, Trang Thế Hy sử dụng cách viết huyền thoại, để cho con mèo hoang nương náu trong nhà một nhà thơ nói với ông ta: “Tôi không truyền giảng cái bất lực của nhà văn và sự phù phiếm của văn chương đâu. Tôi không đòi hỏi văn học chỉ đơn độc một mình nó có thể dập tắt tất cả ngòi nổ của chiến tranh đâu. Nếu như vậy thì trời sanh những chính khách, những kinh tế gia, những nhà bác học để làm gì? Tôi chỉ muốn nói với ông một lời khuyên thân ái nhẹ nhàng là đừng nên tự huyễn hoặc rằng mình có những cống hiến lớn trong khi những thành đạt của mình thực ra là hết sức nhỏ nhoi.


Lời khuyên thứ hai của tôi là ông nên tự lượng sức mình và phải chân thực. Hồi nãy, lúc ông ngó dáo dác tìm tôi để xua đuổi cô đơn, ông lầm tưởng rằng cái cô đơn của ông là thứ cô đơn cao quý mà các bực thầy thường nhắc đến mỗi khi ngồi trước trang giấy trắng. Không phải đâu. Cái tên chính xác nhất của tâm trạng ông lúc nãy là nỗi cô đơn bi thảm của người cầm bút nuôi nhiều tham vọng lớn bằng một tài năng nhỏ và muốn thu hoạch sự mến mộ thật của người khác bằng những xúc động giả của chính tâm hồn mình, nói nôm na là bằng sự lường gạt.


... Cách đây không lâu, tên ông được nhắc nhở qua một bài thơ được ngâm ngợi ở nhiều tụ điểm câu lạc bộ thơ ca. Trong bài thơ đó, chị công nhân quét rác mặc áo rách được ông miêu tả là đẹp và thơm hơn một cô tiểu thư môi son ngồi trên chiếc xe hơi chạy ngang qua. Rất tiếc là trong những người nhẹ dạ bị xảo thuật ngôn từ của ông lường gạt không có ai chất vấn ông coi cái đẹp và cái thơm của cô công nhân quét rác trên đường đi đến trang giấy có ghé ngang qua trái tim của ông không? Nếu có ai hỏi ông sẽ ú ớ ngay. Vì ngay trong thời điểm ông được khen là có quan điểm giai cấp trong yêu ghét ấy, mỗi khi đến gần cô công nhân quét rác, ông nín thở vì sợ ngửi mùi hôi của rác và trong những giấc mơ ân ái, ông chỉ mơ những cô gái môi son ngồi xe hơi. Sợ rác hôi và ham gái đẹp không có gì là trật, đó là chuyện thường tình. Điều tai hại ở đây là ông đòi người khác yêu ghét THẬT cái mà bản thân ông yêu ghét GIẢ.


Cứ như vậy, ông sẽ quằn quại mãi trong nỗi cô đơn bi thảm của tên phù thủy mượn chữ nghĩa làm âm binh chứ không bao giờ vươn tới được niềm cô đơn cao quý của người cầm bút dùng ngôn từ truyền giảng tình người”. Tính phúng dụ của truyện này khiến ta nhớ đến Bức chân dung của Gogol và Cuộc phỏng vấn quỷ Sa-tăng của nhà văn Trung Quốc Tiền Chung Thư, khi đặt vấn đề phẩm chất của người nghệ sĩ trong đời sống.


Trong Tiếng hát và tiếng khóc, chị bán thuốc lá kể cho một người viết tuồng nghe chuyện một gái mãi dâm “câm bẩm sinh, nhưng không điếc. Mụ bà thương, bù lại cho nó một gương mặt và một vóc mình coi được lắm. Mỗi tối, một thằng ma cô chở nó đến bằng xe đạp, cỡ mười một giờ đến rước nó về. Đêm nào không kiếm được khách, thằng ma cô đánh nó, nó khóc. Tiếng khóc của đứa con gái câm bị đánh khó ai nhại giống lắm, nó thảm thiết quá chừng, nghe hoài hằng đêm vậy mà hễ nghe là ruột gan mình quặn thắt. Đêm nào kiếm được khá tiền, thằng ma cô khen nó giỏi, ôm hun nó, nó cũng la ớ ớ gần giống như nó khóc, nhưng người nào nghe quen như tôi và ông Hải thì biết là nó hát chớ không phải nó khóc”. Cuối cùng chị kết luận: “Tiếng la ớ ớ của một cô gái điếm câm dẫu sao cũng là những âm thanh để cậu nghe mà phân biệt cô khóc hay cô hát. Một người nghèo khổ biết nói mà làm thinh không nói đưa cho cậu mảnh giấy ghi câu đố: “Đố ông thầy tuồng biết trong bụng tôi đang khóc hay đang hát?”. Đó mới là chuyện hiểm hóc... Bây giờ, chị nói thật lòng với em đây: nếu như em thật sự yêu nghề... thì em phải lắng nghe cho được ngôn ngữ lặng thầm của những người đau khổ biết nói mà lặng thinh không nói”.


Trong Sách và chim, Trang Thế Hy mượn lời anh Khôi khuyên người viết văn: “Đừng bao giờ đi lại con đường của thằng nhỏ ngày xưa vì ham chim... à không... vì ham cái hư danh bắn chim giỏi mà bỏ công vò đạn đổi chim chết của người khác bắn”.


Trong Chút hào quang từ mảnh vỡ của một ngôi sao buồn, Trang Thế Hy lại mượn lời nghệ sĩ Tư Chơi nói với mấy nhà báo để khuyên những người viết văn: “Những người đó có thể vì háo danh và mê muội trước sức huyễn hoặc của chữ nghĩa khéo dùng mà không thấy mình bị xúc phạm. Nhưng tôi thì không muốn làm người bị xúc phạm... Tuổi già của tôi lạnh lẽo thật nhưng tôi không muốn sưởi ấm bằng hào quang của người khác”.


Trong Một nghệ sĩ buồn thích đùa, Trang Thế Hy thuật lại lời anh Ba Thanh Nha nói với một nhà khoa học xã hội: “Dưới cái dạng mơ hồ nhất thậm chí dưới dạng ảo tưởng, không tưởng hay hoang tưởng, mơ ước vẫn cứ là biểu hiện của tư duy. Theo tôi, đối với cái chưa có, mơ ước tuy có vẻ lãng mạn thật nhưng thật ra thì là khoa học... nhưng tôi cho rằng anh phải xếp vào phạm trù lạc quan một con người buồn còn biết khao khát và mơ ước những niềm vui trong cuộc đời nói chung là buồn này”.


Lỗ Tấn là người rất căm ghét cái lạc quan khinh suất và “hy vọng” vô vị, ông từng nói: “Hy vọng là ở tương lai, quyết không thể lấy sự chứng minh ắt có hoặc không của tôi, để khuất phục cái gọi là có thể có của nó. Trong Con người cô độc, ông viết: Ở một thế giới khác không giống với của “khách qua đường”, không phải là tượng trưng, trong cái cười nhạt của “tôi” sau cái chết của Ngụy Liên Thù, lại một lần thể hội được người tỉnh thức số mệnh định sẵn là cô độc và chết lặng lẽ, nhưng cuối cùng trải qua sự vùng vẫy của nội tâm mà “nhẹ nhõm lại, thản nhiên đi trên đường đá ẩm ướt, dưới ánh trăng”. “Nhẹ nhõm” và “đi” đều không phải đến từ niềm tin và sự theo đuổi “hy vọng”, trong thế giới của “con người cô độc” chưa hề lộ rõ bất kỳ nhân tố có sức mạnh nào thực sự thuộc về “tương lai”. Điều đáng suy gẫm là “tôi” phải thông qua sự “vùng vẫy” dai dẳng trong nội tâm, mới có được hình thái đời sống “nhẹ nhõm” và “đi”, bởi vậy cái “nhẹ nhõm” và “đi” đó chính lại là trải qua tư biện căng thẳng của tâm linh mà đẻ ra thái độ khiêu chiến đối với “song trùng tuyệt vọng” về thế giới về tự ngã, là ý thức được sự phản kháng và lựa chọn sau kết cục bi kịch không thể cứu vãn, là lãnh hội một cách sâu sắc tính hữu cơ của “quá khứ”, “tương lai”, và “hiện tại” mà lựa chọn triết học nhân sinh mang tính hiện thực, chính như “khách qua đường” vậy, hình thức đời sống “đi” là sự khẳng định đối với tự ngã, sự khiêu chiến đối với “tuyệt vọng”. Do đó chính như “đường trên mặt đất kỳ thực trên mặt đất vốn không có đường, người đi nhiều thì thành đường thôi”. E.M. Naridy trong cuốn Tính song trùng của Hemingway: chủ nghĩa tượng trưng và châm biếm viết: “Giữa kỳ vọng và thực hiện, giữa ngụy trang và chân tướng, giữa ý đồ và hành động, giữa tin phát ra và tin nhận được, giữa sự vật mà người ta tưởng tượng hoặc nên có và tình huống thực tế của sự vật, tồn tại khoảng cách mang tính châm biếm”. Thứ “khoảng cách” ấy không phải là do một thứ hỗn loạn và lệch lạc về ý thức thoáng chốc là qua nào đó tạo thành, mà là do áp lực không gạt bỏ nổi mà kết cấu nội tại của tác phẩm trình hiện ra tạo thành: sự chế nhạo lẫn nhau giữa hai nhân tố đối lập không phải bắt nguồn từ tiếng cười đầy trí tuệ của tác giả, mà là sự “đau khổ” không khắc phục nổi hai thứ “đối lập” đó. Nhưng quan hệ trái ngược giữa hai nhân tố tự giải thể và tan rã trong kết cấu tự sự của tiểu thuyết, trái hẳn lại trên ý nghĩa ở tầng sâu hơn, áp lực mà sự chế nhạo lẫn nhau giữa “tuyệt vọng” và “hy vọng” tạo thành, hình thành tính ổn định nội tại của kết cấu tác phẩm. Như Cleans Brooks trong Trào lộng: một nguyên tắc kết cấu viết: “Áp lực bên trong được cân bằng liền chống đỡ lẫn nhau. Thứ tính ổn định đó giống như tính ổn định của kết cấu hình cung: những sức mạnh dùng để kéo hòn đá về hướng mặt đất, trên thực tế cũng cung cấp nguyên tắc chống đỡ – dưới nguyên tắc này, sức đẩy và chống sức đẩy thành thủ đoạn để có được tính ổn định”. Bởi vậy, “châm biếm” ở đây không phải là một hình thức ngôn ngữ văn học thông thường, mà như Soeren Kierkegaard nói trong Khái niệm về châm biếm: “Trên ý nghĩa cao hơn, châm biếm không phải là chỉ hướng tồn tại cụ thể này hay kia, mà là chỉ hướng toàn bộ hiện thực trong thời gian và trong tình trạng nào đó... nó không phải là hiện tượng này hay kia, mà là chỉ hướng toàn bộ hiện thực trong thời gian và trong tình trạng nào đó... nó không phải là hiện tượng này hay kia mà là chỉnh thể kinh nghiệm”. Trên tinh thần đó, cái “thích đùa” của “người nghệ sĩ buồn” trong truyện ngắn của Trang Thế Hy, không phải là sự châm biếm những hiện tượng này nọ, mà là từ “chỉnh thể kinh nghiệm” in dấu vết qua từng mảnh vỡ của ký ức, mảnh vỡ của tâm trạng ánh chiếu sự bùng vỡ của những khát vọng, nét hóm hỉnh của một cái nhìn sắc sảo, toát lên “một nỗi buồn trong sáng thanh cao, nâng phẩm chất con người lên, mời gọi con người bớt cười cợt rẻ tiền để im lặng trong trang nghiêm mà tìm ra chân lý” (Đường bay ngắn của một vòng bay luân hồi).


 


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »