tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18451594
Lý luận phê bình văn học
21.08.2009
Hoài Anh
Trang Thế Hy - Cái hột sen tuy hơi đắng nhưng “nên thuốc” (1)

Lần đầu gặp anh Trang Thế Hy, tôi thấy anh da ngăm đen, mắt luôn nhìn xuống, lủi thủi như một ông già miệt vườn. Ở cơ quan, anh sống như cái bóng, ít khi nói chuyện, ít khi cười. Tôi cũng là một người thường được anh trò chuyện. Khi anh tủm tỉm cười, đọc một câu văn Pháp như của Anatole France chẳng hạn, tôi thấy mắt anh lóe lên tia sáng hóm hỉnh và thông thái, tôi hiểu anh rất thạo Pháp văn và đọc rất nhiều. Thỉnh thoảng anh dịch một đoạn văn Pháp mà anh tâm đắc, đưa đăng báo. Đọc văn anh thời kỳ đầu tôi thấy anh có cái chất trong sáng, nhẹ nhàng, tinh tế và hóm hỉnh như của Anatole France nhưng dần dần anh lại học được cái thâm thúy sắc bén của Lỗ Tấn, Hemingway...


Anh Trang Thế Hy tên thật Võ Trọng Cảnh, anh em quen gọi là anh Tư Sâm, sinh năm 1924 ở Hữu Định, Châu Thành, Bến Tre. Anh tham gia cướp chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám (1945) ở Bến Tre. Khi cuộc Nam Bộ kháng chiến nổ ra, anh ra chiến khu hoạt động văn nghệ, sau năm 1954 được phân công về hoạt động công khai ở nội thành. Anh viết bài cho Tuần báo Nhân Loại cùng với các nhà văn Bình Nguyên Lộc, Lê Vĩnh Hòa, Tiêu Kim Thủy (Tô Nguyệt Đình), Ngọc Linh... Trong truyện ngắn Áo lụa giồng ký bút danh Văn Phụng Mỹ, anh viết về lụa Ba Tri ở Bến Tre quê anh: “Bóng dáng chiếc áo lụa giồng quyền quyện một cách thân yêu cuộc đời của Liêm, chàng thanh niên 20 tuổi... Lụa giồng chứa chan một hoài niệm về thời thơ bé và một thực tế buồn”. Anh viết về quê ngoại ở vùng bưng biền Đồng Tháp Mười: “Dòng kênh thẳng băng giống như một tấm lụa dài vô tận màu xanh gờn gợn...”.


Hình ảnh làng quê thân thương với Vầng trăng bên kia sông, hay những ngày Nắng đẹp miền quê ngoại, khi giặc Pháp đến, chỉ còn là hồi ức. Ngòi bút anh tố cáo tội ác hủy diệt bởi: “Những kẻ muốn tàn phá hết, sát phạt hết... Không muốn chừa lại một chút gì tươi đẹp trên dải nước non này”. Anh kín đáo nhắc nhở mọi người: “Trong lúc mọi cái vui mọi cái đẹp đang bị thường xuyên đe dọa, tại sao chúng ta không nhìn cho đúng bộ mặt của cuộc đời”(Tiếc một niềm vui). Dưới “gầm trời vần vũ mây đen chiến tranh”, anh khóc thương cho một thiếu nữ duyên dáng mà gầy ốm xanh xao. “Xác của cô được chôn tại một vùng gần đó trong không khí còn nực nồng mùi chém giết” (Một cuộc đời). Anh vạch trần sự cám dỗ của đô thị phồn hoa: “Ngọn roi ác nghiệt của dục vọng đã giết chết tình yêu giữa những tấm lòng thơ”. Cái chết của cô gái người Hoa 16 tuổi tạo nguồn cảm xúc cho nhà văn. Anh muốn người đọc cũng vững một niềm tin: “Dục vọng xấu xa không thắng nổi ý chí thiết tha bảo vệ sự cao đẹp của con người” qua những truyện Một chút tình xưa, Mấy dòng thư cũ. Trong Mượn tình qua ải khổ, anh nhắc đến một tấm gương: giúp bạn vượt qua cơn khủng hoảng, lấy lại niềm tin trong thời khắc “cái nghiệt ngã của lịch sử đang chỉ định cho chúng ta một con đường sống đòi quá nhiều mất mát hy sinh”. Trong truyện Mối tình bên rạch Giồng Chanh, anh thức tỉnh người đọc: “Có nước mà không biết yêu, người ta đàn áp chỉ biết sợ hãi, mà không biết cách chống cự lại. Cái dốt đó mới nhục”. Anh đã cụ thể hóa tình trạng khuất nhục đó trong câu chuyện người mẹ của nhân vật xưng tôi: “Người đàn bà mộc mạc quê mùa nhờ có chút nhan sắc về làm dâu một nhà khá giả rồi âm thầm đau khổ trọn đời vì sự rẻ khinh tế nhị mà cay đắng của bên chồng” lồng vào câu chuyện của nhân vật tôi đã bán đứng người em gái con dì ruột cho một tên trung úy Pháp, để mưu những mối lợi lớn trong việc làm ăn nhờ được lòng tên này. Việc kết hợp nhiều bình diện như thế giống như những “mặt cắt” tổ chức thành tấm kính vạn hoa phản chiếu cuộc đời khiến cho truyện đa nghĩa đa thanh, vừa êm đềm vừa dữ dội. Hình ảnh con người mới của thời đại cũng đã thấp thoáng hiện lên qua nhân vật thằng Hiếu, người được trui rèn “giữa một mùa thu máu thắm nhuộm làng quê”, trước là người chăn trâu, gia đình ba đời chăn trâu cho bang biện Hứa, cho Cả Cự. Cuộc đời nghèo khó, buồn thảm cùng cái mặc cảm ngu dốt đã bị đẩy lùi khi Hiếu tham gia kháng chiến.


Tập Nắng đẹp miền quê ngoại với 10 truyện ngắn, một truyện vừa với nội dung sự phân hóa, suy đồi nơi đô thị phồn hoa, quê hương bị đe dọa hủy diệt, được xuất bản đầu tháng 4-1963. Không lâu sau ngày xuất bản tác phẩm đầu tiên ấy sách bị tịch thu, và nhà văn quyết định trở ra chiến khu, công tác trong Hội Văn nghệ Giải phóng.


Truyện ngắn Anh Thơm râu rồng viết khi ra vùng giải phóng, đầu tiên người đọc tưởng rằng tác giả định tập trung tả những chiến công anh hùng của anh Thơm râu rồng, nhưng té ra anh Thơm chỉ là một phu xích lô máy, đêm ấy lúc anh từ một quán cà phê bước ra chiếc xe đậu ở vệ đường thì chợt thấy trên nệm xe có một bó giấy cuộn tròn, anh mở xem thì đó là những tờ truyền đơn của Hội Lao động Giải phóng khu Sài Gòn – Gia Định kêu gọi công nhân đoàn kết đấu tranh chống Mỹ và tay sai. Anh thấy lời kêu gọi ấy đúng với quyền lợi của tầng lớp nghèo trong thành phố nên đút giấu dưới đệm xe rồi chọn một quãng đường vắng đem rải, chẳng may bị bắt, chỉ có vậy thôi, anh không phải cơ sở của tổ chức cách mạng nào cả. Gọi là Thơm râu rồng chỉ vì anh có nhiều râu.


Chuyện của nhân vật chính thì bình thường giản dị như vậy nhưng cái hay lại là chuyện anh kể về những người thân như ba anh, chị anh. Ba anh đau mà vẫn bị hương quản Xung bắt leo bẻ dừa, bảo nếu không bẻ lứa này thì từ lứa sau trở đi, y để cho dừa khô rụng xuống mà lượm không thèm mướn nữa. Y còn hăm he làm khó dễ về vụ cất chòi trên đất làng không đóng tiền thổ cư, về món nợ ba anh thiếu từ hồi má anh chết tới bây giờ chưa trả hết. Vì vậy ba anh phải chết một cách rùng rợn, “té xuống hộc máu nằm co quắp dưới gốc một cây dừa lão cao trật ót lúc bấy giờ cơn giông to còn đang lắc qua lắc lại làm đong đưa mấy cái ổ chim dồng dộc đứng dưới đất nhìn thấy bằng bụm tay thôi”. Chuyện chị Nhang anh “siêng năng sạch sẽ có sáng kiến và khéo tay thiệt. Một cái áo cũ rách tả tơi chị chấm khíu lại coi cũng sạch sẽ, dễ thương thấy muốn mặc. Mỗi lần chị đi đâu về, luôn luôn là có món gì để tôi mừng: một cái hộp nhỏ rất xinh để đựng dế, những tấm hình trong bao thuốc lá, vài cái nút chai, một miếng ruột xe hơi để tôi sửa lại cặp giàn thun đất... Chị rất cưng em, ngọt ngào với tôi, giấu đút từng đồng xu để lén mua bánh cho tôi, thảo ăn với tôi từng chút canh thừa cá cặn nhưng cũng rất chú ý đến chuyện dạy dỗ tôi. Chị dạy tôi thấy ai ăn bánh đừng dòm miệng, thấy ai có món gì tốt đừng trầm trồ quá mức đừng tỏ ra ham muốn, người ta khinh. Hằng năm đến cuối tháng chạp chị dắt tôi về nền chồi cũ ở đất làng để quét mộ ba má tôi. Trong từng cử chỉ nhỏ như dằn tờ giấy vàng bạc lên đầu mộ, cắm ở đấy mấy cây nhang bên cạnh vài cái bông trang rừng hay bông mua, tôi thấy ở thái độ sùng kính tôn nghiêm của chị tôi một cái gì rất là “người lớn”. Người chị ấy bị vợ hương quản Xung đánh, “lùi lại quơ tay ra sau, định chụp bẻ ghe nhưng chụp hụt mới lộn nhào xuống sông”. Ở đây, sự việc và hành động chỉ cốt để làm nổi bật lên tình người, thấm thía tính nhân bản đích thực. Truyện này được giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu (1960 - 1965).


Sau năm 1975, anh Trang Thế Hy là cán bộ Hội Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, biên tập viên Văn tại Tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1981 anh đã xuất bản 2 tập truyện ngắn Mưa ấm và Người yêu và mùa thu.


Truyện ngắn của Trang Thế Hy thường đi vào cảnh đời u uẩn của những con người mất mát hay không thành đạt, nhưng vẫn luôn giữ tính tự trọng và rất dễ bị xúc phạm... thông qua những câu chuyện, sự việc tưởng chừng ngẫu nhiên nhưng lại thể hiện được những dao động tâm lý của nhân vật... tất cả diễn biến lồng trong một bối cảnh đặc Nam Bộ và được chuyển tải bằng một thứ ngôn ngữ giàu màu sắc địa phương dung dị, chuẩn xác và dồn nén, đã tạo ra được một không gian truyện ngắn mơ hồ, nhiều tầng đan xen hòa quyện.


Loạt truyện anh viết sau ngày giải phóng như Đường bay ngắn của một vòng bay luân hồi, Con cá không biệt tăm, Những người tiếp tế bom, Người yêu và mùa thu... nhân vật nào cũng có cảnh ngộ éo le do chiến tranh gây nên, người chết chồng, người chết vợ, người còn sống khó quên nổi người cũ, nhưng khi gặp tình yêu mới thì hoặc chết vì bệnh, hoặc đã luống tuổi trong khi người yêu lại nhỏ tuổi hơn mình. Những cặp vợ chồng, chồng tập kết ra Bắc lấy vợ khác, vợ ở lại miền Nam hoặc vì hoàn cảnh buộc phải lấy chồng khác, hoặc với chồng, ai ngờ lại phải chịu đựng sự phụ bạc của chồng. Câu chuyện ở đây chỉ là cái cớ để làm toát lên một triết lý về cuộc sống: “Hỏi số phận là than thân trách phận, là đau khổ không có tư cách. Nên tự hỏi mình và tìm câu giải đáp trong cuộc sống. Cuộc sống chỉ êm dịu đối với ai nhìn nó bằng cái nhìn êm dịu”, quá khứ nhiều đau buồn đã pha trộn vào cái ngọt ngào đằm thắm ấy một chút gì chát chát, the the thoang thoảng đắng, gợi nhớ đến trái ổi rừng chín bói mà con chim thảo ăn dư moi cho lòi cái ruột đỏ ra thôi rồi để dành đó cho đứa bạn học trò nghèo của nó đi ngang qua dễ nhận thấy trên cành cao... “Con cá biệt tăm trong câu hát sẽ mãi là con cá biệt tăm để câu hát được sống dai trong dân gian bao giờ cũng đầy rẫy những mối tình dang dở. Nhưng con cá biệt tăm của từng con người bền gan nhìn sông dài chờ đợi người yêu có khi lại xuất hiện”. Trước những đau thương dang dở do hoàn cảnh chiến tranh gây ra, chúng ta phải làm nhiệm vụ của “người lấp hố bom” trong lòng, lấp bằng những ngăn cách do mặc cảm, hàn gắn lại những vết thương.


Xét cho cùng thì chúng ta đã mất nhiều, nhưng lại được cả một mùa Thu, mùa Thu của cách mạng, mùa Thu của lòng dân, mùa Thu của cả nước, nhất là ở miền Nam trước đây không biết có mùa Thu chỉ biết đó là mùa gió nấm mối, mùa mưa rước cá... thì lại càng thấy quý mùa thu, nhất là khi những người ra Bắc tập kết trở về quê Nam chiến đấu được gọi là anh cán bộ mùa thu, từ đó mà có chiếc nón mùa thu, đôi dép mùa thu, thắt lưng mùa thu, hơn nữa anh cán bộ mùa thu lại được bà con ưu tiên, khi lập gia đình không hạn chế về số tuổi, có thể nhiều hơn cô gái chín, mười tuổi cũng được. Cũng trong mùa thu, con người lại gặp được tình yêu, tìm thấy hạnh phúc. Những truyện ngắn này mang cái nhìn nhân hậu của một người đã từng trải nhiều, biết nâng niu một chùm phong lan nở trong lùm cây cao bên đường sắp héo, biết thấy mưa ấm.


Truyện ngắn Một nghệ sĩ kể chuyện một nữ diễn viên hát bội và một nhà thơ, quen nhau từ khi còn nhỏ tuổi, đến khi gặp lại nhau thì đều già nhưng vẫn giữ nguyên vẹn những tình cảm yêu thương trong sáng từ thuở còn thơ, lại toát lên cái ý “Gặp hạnh phúc là người nào trong tuổi già vẫn giữ được nguyên vẹn tình yêu của mình đối với cái gì mình đã yêu thương từ thuở ấu thơ”. Muốn thế, con người phải biết yêu mến một cái gì đó trên tất cả mọi thứ mình yêu mến, mặc dầu biết rằng “đam mê là một con chim đẹp rất khó nuôi”.


Truyện Mưa ấm, kể chuyện hồi năm 1960, Thu là cán bộ của phong trào sinh viên học sinh đang bị truy nã gắt. Một lần bị công an theo sát, nhưng Thu trốn thoát sau khi bỏ lại chiếc Vélosolex. Người yêu Thu là họa sĩ Diệp, chủ chiếc xe, sau hơn một tháng bị câu lưu, bị tra tấn đến thành thương tật. Diệp được trả lại tự do nhưng với danh hiệu “cảm tình viên cộng sản” loại ngoan cố, anh bị đuổi khỏi trường Cao đẳng Mỹ thuật đúng vào lúc sắp thi tốt nghiệp.


Năm 1963, lúc Thu được quyết định của tổ chức chuyển hẳn cô vào vùng giải phóng, cô rủ Diệp cùng đi nhưng Diệp từ chối cho rằng mình đóng góp cho cách mạng như thế là đủ rồi, “trong tình hình này của đất nước làm người chân chính cỡ nhỏ là thái độ khôn ngoan nhất”.


Hơn mười lăm năm sau, Thu đã gần bốn mươi tuổi, có chồng có con là cán bộ có chức trách, đã chủ động đến tìm gặp Diệp, khuyên anh không nên thả nổi cuộc đời: “Rõ ràng anh vốn có tài năng. Tài năng đó hiện vẫn còn, mặc dù anh cố tình hủy hoại nó. Ngày xưa anh đã dùng nó để kiếm vừa đủ cái tiêu chuẩn “người chân chính cỡ nhỏ”. Nhưng cuộc sống hôm nay là một khúc sông chảy xiết, gợi người ta nghĩ đến cánh tay vạm vỡ của người lái thuyền cỡi lên đầu sóng chớ không phải màu tím xanh nhạt úa của bông lục bình trôi bị tấp lên bãi bùn nằm chết héo”.


Trong Về nhà trước cơn mưa, kể chuyện mẹ một thằng nhỏ sống ở lề đường nhờ một ông già bán nước đá cục trông giùm đứa con mình và cam kết trở lại trong mười phút, nhưng rồi “bỏ chạy” không trở lại nữa. Thấy nước đá cục của ông già chảy hết, anh Diên - người kể chuyện - nhận lời trông giùm đứa trẻ để ông đi bán đá, nhưng cuối cùng cũng “bỏ chạy” sau khi để lại ổ bánh mì ngọt có bơ và quả bong bóng cao su lên bụng đứa trẻ, viện cớ phải “về nhà trước cơn mưa”. Đến khi anh Diên nằm chờ chết, tâm sự với tác giả, anh liên hệ chuyện “bỏ chạy” đối với đứa trẻ, với những lần “bỏ chạy” trước kẻ địch khi anh còn ở bộ đội, cuối cùng đi đến kết luận. “Hy vọng rằng những con người tự huyễn hoặc mình là “dõng giả” nhưng khi “kiến nghĩa” chỉ động lòng thôi rồi tìm đường bỏ chạy kiểu như tôi là số ít, chớ không phải số đông trong mấy tỉ con người đang lúc nhúc bon chen trong ngôi nhà tập thể khổng lồ đã quá tải thuốc nổ, quá tải uế khí diệt môi sinh và độc tố tiêu đạo lý có tên là quả địa cầu này”.


Về nhà trước cơn mưa đã được nâng lên thành biểu tượng cho những kẻ “bỏ chạy” trước việc nghĩa kiếm cớ tự an ủi mình, nhưng đối với người còn có chút lương tri thì đó là điều day dứt đến trọn đời.


Trong Nợ nước mắt, chị Ba Hường hồi đánh Mỹ được mời đến nhận xác chồng chị đã hy sinh, sau mới biết chị đã ôm lầm xác đồng chí khác mà khóc, chị nói với tác giả: “Tôi nhớ kỹ là tôi không có ngỡ ngàng chút nào hết, anh Hai à! Nước mắt mình khóc người chết vì Tổ quốc đâu phải là nước mắt dư mà mình mắc cỡ phải không anh?”.


Nhưng đến khi một đồng chí khác của chị, được chị nuôi nấng, săn sóc trong khi bị thương hồi đánh Mỹ, sau ngày giải phóng, làm cán bộ cao cấp lại bỏ rơi chị, khi gặp chị ở bắc Vàm Cống nghe chị kể chuyện về những người thân về làng xóm, chỉ lạnh lùng buông hai tiếng: “Vậy hả?”. Khi gặp lại tác giả, chị kể cái thùng bản thảo của anh đã được bà con đem mạng sống của mình ra bảo vệ an toàn để sau đó trao lại cho anh.


Đoạn kết, tác giả viết: “Một em bé chừng mười tuổi cầm một bó gương sen tươi đến mời mua. Tôi mua một bó, lẩy hột ra rồi tôi và chị Ba cùng ăn cho đỡ buồn miệng trong lúc chờ chia tay. Thấy tôi chịu khó tách đôi mỗi cái hột sen gỡ bỏ cái tim xanh, chị Ba cười:


- Coi vậy mà sợ đắng! Nhai luôn đi. Nó nhân nhẩn có mất ngon nhưng “nên thuốc”. Chất đắng bổ tim”.


... Rõ ràng là bằng cái mỉm cười khuyên tôi đừng sợ đắng, chị không nghĩ đến chất đắng của những cái tim sen mà nghĩ đến chất đắng trong cuộc sống. Cho nên, những dòng sau cùng để kết thúc, tôi muốn dành riêng cho người bạn mà chị Ba Hường đã gặp ở bắc Vàm Cống. Lúc bắt đầu viết, tôi không định đem anh vào câu chuyện vì ngại sự có mặt của anh sẽ làm cho nó đắng. Nhưng khi đọc lại bản nháp đầu tiên, tôi lại thấy gạt bỏ anh trên trang giấy vẫn không ngăn được anh cứ có mặt ngoài cuộc sống và anh sẽ tiếp tục “vậy hả” mỗi khi nghe gợi lại sự nâng niu đùm bọc của những người quen thân cũ hiện còn nhắc nhở, nhớ thương anh. Nhiều lắm, chớ không phải chỉ có một mình chị Ba Hường. Và như vậy chính vì sợ chất đắng trên trang giấy, mà người cầm bút lại duy trì chất đắng trong cuộc sống có nghĩa là làm ngược lại cái điều mình mơ ước”. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Thuốc đắng dã tật”, Phù Sai muốn trả thù cha dựng nghiệp lớn, hàng ngày nếm mật đắng để tự nhắc nhở mình, bút danh Gorki trong tiếng Nga có nghĩa là “Đắng”, phải chăng Đông Tây đều gặp nhau ở cái ý “Chất đắng bổ tim” như người phụ nữ bình thường Nam bộ nói.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »