tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21077955
Lý luận phê bình văn học
21.08.2009
Hoài Anh
Jean Paul Sartre: Văn chương là gì? (2)

Nhà phê bình ta sống chật vật, bà vợ không vị nể ông theo đúng lẽ, mấy thằng con trai lại bất hiếu, cuối tháng lại chật vật. Nhưng ông vẫn có thể vào phòng sách, ông lấy ra một quyển sách trên ngăn mở ra. Sách toát ra một mùi âm ẩm và một công việc kỳ lạ bắt đầu, mà ông quyết định gọi là đọc sách. Về một khía cạnh nào đó, thì đó là một sự bị ma ám; người ta cho người chết mượn thân xác mình để được sống lại. Và về một khía cạnh khác, thì đó là một sự tiếp xúc với thế giới bên kia. Thật vậy, cuốn sách chẳng phải là một vật, cũng chẳng phải là một hành động, ngay cả là một tư tưởng, do một người chết viết về những sự vật đã chết, cuốn sách không còn chỗ đứng trên mặt đất này, nó không nói được điều gì khả dĩ trực tiếp lưu ý chúng ta; mặc dầu nó, nó lụn xuống và tàn tạ, chỉ còn lại những vết mực trên giấy mốc, và khi nhà phê bình làm sống lại những vết ấy, chúng nói cho ông nghe những say mê mà ông không cảm thấy, những giận hờn không đối tượng, những sợ sệt cùng những hy vọng đã chết. Cả một thế giới thoát xác vây quanh ông, một thế giới mà trong đó các tình cảm của con người, vì không còn xúc động nữa, nên đã đứng sang hàng ngũ các tình cảm mẫu mực, và nói hẳn ra là các giá trị. Cho nên ông tự cho rằng mình đã giao tiếp với một thế giới trí tuệ như là chân lý và các nỗi khổ đau hàng ngày của ông và lý do hiện hữu của chúng. Ông nghĩ rằng thiên nhiên bắt chước nghệ thuật, cũng như đối với Platon, thế giới hữu hình bắt chước thế giới của các khuôn mẫu. Và, trong thời gian ông đọc, đời sống hàng ngày của ông trở thành một ảo ảnh. Bà vợ lắm mồm của ông, một ảo ảnh; thằng con lưng gù của ông, một ảo ảnh: những ảo ảnh ấy sẽ được cứu rỗi vì Xénophon([1]) đã từng họa ra chân dung Xanthippe và Shakespeare chân dung của Richard đệ Tam. Thật là cả một hoan lạc cho ông khi các tác giả hiện đại lại có nhã ý chết đi: các sách của họ, quá sỗ sàng, quá sống động, quá gấp rút sang từ bờ bên kia, chúng càng ngày càng ít xúc động nhưng càng ngày càng đẹp hơn; sau một thời gian ngắn ngủi ở tĩnh tội giới, họ đi ở cái vòm trời trí tuệ của các giá trị mới. Bergotte, Swann, Siegfried và M. Teste([2]): đó là những thủ đắc mới đây. Người ta chờ Nathanel và Ménalque... Còn như các nhà văn nằng nặc sống, người ta chỉ đòi hỏi họ là đừng cọ quậy quá và ngay từ bây giờ hãy chịu khó làm mình giống như những người chết mà mình sẽ là mai đây. Valéry kể cũng đã khéo xoay xở, vì hàng hai mươi lăm năm nay vẫn cho xuất bản những di cảo. Cho nên, vì thế mà cũng như vài vị thánh hãn hữu, ông được phong thánh ngay thuở sinh tiền. Nhưng Malraux([3]) thì lại làm người ta phẫn nộ. Các nhà phê bình của chúng ta đều là những người cho mình là những con người trong sạch hơn ai cả: họ không muốn dính líu gì với thế giới thực tại trừ việc ăn, việc uống trong cái thế giới ấy, và vì tất nhiên phải sống trong sự giao thiệp với các người đồng loại của chúng ta, họ đã lựa sống trong sự giao thiệp với người chết. Họ chỉ say mê những vụ đã xếp lại, những tranh chấp đã rồi, những chuyện mà người ta đã biết kết cuộc ra sao. Họ không bao giờ đánh cuộc về một vấn đề còn chưa ngã ngũ và vì đã có lịch sử quyết định cho họ, vì những vật từng làm các tác giả mà họ đọc khỏi phải thất đảm và công phẫn đã không còn nữa, vì sau hai thế kỷ cái vô bổ của những cuộc tranh chấp đẫm máu đã lồ lộ ra, họ có thể hoan hỉ với sự cân đối của các thời kỳ và đối với họ mọi sự diễn ra như thể toàn thể văn học chỉ là một sự trùng phục rộng lớn và như thể mỗi nhà văn xuôi mới lại sáng chế ra một lề lối mới để nói mà không nói gì. Nói đến các khuôn mẫu và “bản chất con người”, nói để không nói gì. Tất cả các quan niệm của các nhà phê bình của chúng ta đảo từ ý này sang ý nọ. Và dĩ nhiên cả hai ý đều sai; các đại văn hào đều muốn hủy diệt, xây dựng, chứng minh. Nhưng chúng ta không còn nhớ được các bằng chứng mà họ từng đưa ra vì chúng ta không còn bận tâm đến những gì muốn chứng minh. Các tệ đoan mà họ tố cáo không phải là của thời đại chúng ta; có những tệ đoan khác làm chúng ta công phẫn mà họ không ngờ; lịch sử đã phủ nhận một số những lời tiên đoán của họ và những lời đã thực hiện lại đã đúng từ thuở nảo thuở nao khiến ta quên lãng rằng chúng thoạt đầu là những nét thiên tài của họ; tư tưởng họ có vài cái đã chết hẳn và có cái mà toàn thể nhân loại đã lấy làm của mình khiến ta coi chúng như là những tư tưởng sáo. Vì thế mà các luận điệu hay nhất của các tác giả ấy đã mất hẳn hiệu nghiệm; ta chỉ còn khen cái trật tự và chính xác của chúng; dưới mắt ta lối xếp đặt chặt chẽ của chúng chỉ là một điểm trang, một kiến trúc thanh lịch về trình bày, chả có công dụng thiết thực gì hơn là các kiến trúc khác như các tấu khúc của Bach([4]), các hình vẽ Ả Rập ở điện Alhambra.


Trong các kỷ hà đam mê này, khi kỷ hà không còn thuyết phục được nữa, đam mê vẫn còn xúc động. Hay nói đúng hơn, sự biểu thị của đam mê. Các ý tưởng từng được hả hơi hàng bao thế kỷ, nhưng chúng vẫn là những cố chấp nho nhỏ riêng tư của một con người bằng xương bằng thịt; sau các lý lẽ của lý trí nó uể oải, ta thấy những lý lẽ của tâm hồn, những đức tính, những tệ tập và cái nhọc nhằn ghê gớm kia của con người để sống. Sade([5]) ra sức để thuyết phục chúng ta nhưng chỉ có gây phẫn nộ: đó không còn là một linh hồn mòn mỏi vì một cái xấu đẹp, một ngọc trai. Tập Lettre sur les Spectacles (Thư về Kịch trường) không còn ngăn được ai đi xem hát nữa, nhưng ta lấy làm lý thú được thấy Rouseau lại ghét kịch nghệ. Nếu ta hơi biết tâm phân, cái thú của ta thật hoàn toàn: ta sẽ giải thích Contrat Social (Khế ước xã hội) theo mặc cảm Oedipe và I’Esprit des Lois([6]) (Vạn pháp tinh lý) theo mặc cảm tự ti, nghĩa là ta sẽ hưởng được trọn vẹn cái mặc cảm được thừa nhận là chó sống vẫn hơn sư tử chết. Do đó khi một cuốn sách trình bày những tư tưởng làm say sưa, nhưng tư tưởng chỉ đưa ra cái ngoại biểu là những lý lẽ để rồi tan đi dưới cái nhìn và chỉ còn là những cái đập của con tim, khi bài học mà người ta rút tỉa ở nó hoàn toàn khác hẳn với bài học mà tác giả của nó muốn đưa ra, thì người ta gọi cuốn sách đó là một hiệu triệu. Rousseau, cha đẻ của cách mạng Pháp, và Gobineau([7]), cha đẻ của chủ nghĩa chủng tộc, đều gửi đến chúng ta những lời hiệu triệu. Và nhà phê bình nhận xét họ với một thiện cảm như nhau. Nếu họ còn sống, nhà phê bình hẳn đã phải lựa người này bỏ người kia, yêu người này, ghét người kia. Nhưng trước hết cái gì khiến họ gần nhau, chính là vì họ cùng chung một lỗi sâu sắc và thú vị, là họ đã chết.


Nên người ta khuyên các tác giả hiện đại nên đưa ra những lời hiệu triệu, nghĩa là tự ý giới hạn các tác phẩm của mình ở sự vô tình diễn tả tâm hồn mình. Tôi nói vô tình vì các người đã khuất, từ Montaigne([8]) đến Rimbaud, từng tự bộc lộ con người mình hoàn toàn mà không hề có dụng ý làm thế và còn hơn thế nữa, cái hơn thế mà họ cho chúng ta mà không nghĩ đến phải là cái mục đích trước hết và được sự công nhận của các nhà văn còn sống. Người ta không đòi hỏi họ phải đưa ra những bản cung khai mà không chỉnh bị, cũng chẳng đòi hỏi họ phải thả mình theo cái nhiệt tình quá lõa lồ của phái lãng mạn. Nhưng vì chúng ta thích lột trần các mưu mẹo của Chateaubriand([9]) hay của Rousseau, thích bắt chợt họ trong đời tư ngay lúc họ đóng vai con người công, thích lần mò ra những động lực đặc biệt của các lời khẳng định phổ quát nhất của họ, người ta đòi các kẻ mới đến phải nhất quyết đưa lại cho chúng ta cái thích thú này. Vậy họ cứ việc lý luận, cứ việc xác nhận, cứ việc phủ nhận, cứ việc bác bỏ và cứ việc chứng minh đi; nhưng cái điều mà họ bênh vực chỉ có thể là cái mục đích rõ ràng của những lời họ nói: cái mục đích sâu sắc, tức là tự tiết lộ mà không có vẻ tiết lộ. Các lý luận của họ phải trước hết giải giáp chúng đi, cũng như thời gian đã giải giáp các lý luận của các nhà văn cổ điển, họ phải áp dụng các lý luận ấy cho những đề tài chả ai lưu ý đến hay chỉ những chân lý phổ thông đến nỗi các tác giả đã sẵn sàng tin là thế: các ý tưởng của họ, họ phải cho chúng một vẻ thâm trầm, nhưng trống rỗng và họ phải cấu tạo chúng cách nào khiến chúng hiển nhiên tự giải thích bằng một thuở thiếu thời khổ cực, một hận thù giai cấp hay một mối tình loạn luân. Họ hãy coi chừng đừng suy nghĩ dứt khoát: tư tưởng che đậy con người và chỉ có con người mới đáng ta lưu ý. Một tiếng nức nở trần truồng không đẹp: nó làm bực. Một lý luận hay cũng làm bực, như Stendhal đã nhận xét đúng. Nhưng một lý luận nó che đậy một tiếng nức nở, đó mới là cái ta chú ý. Lý luận khiến cho những cái khóc gột bỏ được cái gì là tục tĩu ở chúng, cái khóc, khi bộc lộ cái nguồn gốc cảm xúc của mình, gột bỏ cho lý luận được cái gì hung hăng ở nó; chúng ta sẽ không quá cảm động, cũng không quá bị thuyết phục, và chúng ta có thể sẽ an tâm thả mình theo cái khoái cảm hòa nhã kia như, mọi người đều biết, khi ta ngắm nhìn những công trình nghệ thuật. Vậy cái văn chương “chân chính”, “thuần túy” là thế đó: một tính chủ thể nó tự bộc lộ dưới các loại của khách quan, một ngôn ngữ xếp đặt một cách kỳ khôi khiến nó cũng tương đương như một im lặng, một tư tưởng nó tự bài bác, một lý trí nó chỉ là mặt nạ của điên cuồng, một vĩnh cửu nó ngụ ý rằng nó chỉ là một lúc của Lịch sử, một giây phút lịch sử nó bỗng đưa ta lại với con người muôn thuở do những bí ẩn mà nó tiết lộ, một bài học bất tuyệt nhưng nó tự đưa lại bất chấp các ý chí chống lại của những người giảng dạy.


Hiệu triệu, chung quy là một linh hồn làm thành vật. Một linh hồn; và người ta làm gì với một linh hồn cơ chứ? Người ta đứng xa kính cẩn chiêm ngưỡng nó. Người ta không quen thói chưng bày linh hồn ra ngoài xã hội, mà không có duyên cớ khẩn yếu. Nhưng vì quy ước và với ít nhiều dè dặt, cũng có đôi người được phép đặt linh hồn mình vào trong sự thương mại và tất cả những người trưởng thành đều có thể mua được. Ngày nay, đối với nhiều người, các sản phẩm tinh thần do đó là những linh hồn phiêu bạt nho nhỏ mà người ta có thể mua với một cái giá vừa phải: nào là linh hồn của cụ Montaigne, của ông bạn La Fontaine([10]), của Jean-Jacques, của Jean-Paul, và của chàng Gérald([11]) khả ái. Người ta gọi văn nghệ là toàn thể những cách chế hóa khiến cách linh hồn trở thành vô hại. Được thuộc, được lọc, được chế biến theo hóa học, các linh hồn ấy đưa lại cho các người mua cơ hội dành ra vài lúc của một cuộc đời hoàn toàn quay về bên ngoài quan tâm đến việc trau dồi tính chủ quan. Công dụng bảo đảm là an toàn, thái độ hoài nghi của Montaigne, ai là người lại tin thật, vì tác giả các Essais (Tiểu luận) đã hoảng sợ khi nạn dịch hạch hoành hành tại Bordeaux? Và chủ nghĩa nhân bản của Rousseau vì “Jean Jacques lại mang con bỏ viện tế bần?”. Và những tiết lộ kỳ lạ của Sylvie vì Gérald de Nerval điên? Cùng chăng nữa, nhà phê bình chuyên nghiệp sẽ đặt ra những họ giữa cuộc đối thoại âm u và bảo chúng ta rằng tư tưởng Pháp là một cuộc đàm thoại bất tuyệt giữa Pascal và Montaigne. Nói thế là họ không hề muốn làm cho Pascal và Montaigne sống hơn, nhưng làm cho Malraux và Gide chết hơn. Khi mà rốt cuộc các mâu thuẫn nội bộ giữa cuộc đời và tác phẩm đã khiến cho cả cái này và cái kia đều trở thành vô dụng, khi mà lời hiệu triệu, trong cái thâm trầm khó hiểu của nó, đã dạy cho ta mấy cái chân lý chủ chốt này: “Rằng con người cũng chẳng thiện cũng chẳng ác”, “rằng trong một đời người có nhiều đau khổ”, “rằng thiên tài chỉ là một sự kiên nhẫn dài dằng dặc”, thì lúc đó cái mục đích tối hậu của cái xào xáo ảo não này mới đạt được và độc giả, khi bỏ sách xuống có thể thốt lên, tâm hồn thanh thản, rằng: “Tất cả những cái đó chỉ là văn chương”.


Nhưng vì đối với chúng tôi, một bản văn là một công trình, vì các nhà văn đều sống trước khi chết, vì chúng tôi nghĩ rằng phải cố gắng có lý trong những sách của mình và rằng, dù cho các thế kỷ sau đây có bảo mình là lầm chăng nữa, đó cũng không phải là một lý do để cho mình lầm ngay từ trước, vì chúng tôi xét rằng nhà văn phải hoàn toàn dấn thân trong các tác phẩm của mình, và không phải như một sự thụ động bỉ ổi bằng cách bày ra trước các nết xấu, các nỗi khổ và các nhược điểm của mình, mà như một ý chí nhất quyết và như một sự lựa chọn như toàn thể cái công trình sống này mà chúng ta mỗi người đều là, nên chúng tôi xét lại vấn đề này từ đầu và đến lượt chúng tôi tự hỏi: tại sao người ta viết?


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info


 







([1]) Xénophon (430-354 trước CN), nhà sử học cổ Hy Lạp - (Người dịch chú).




([2]) Các nhân vật trong tiểu thuyết Pháp.




([3]) André Malraux (1901-1976), nhà văn Pháp - (Người dịch chú).




([4]) Bach, nhạc sĩ Đức.




([5]) Sade, nhà văn Pháp.




([6]) Tác phẩm của Montesquieu (1689-1755), nhà triết học, nhà văn Pháp - (Người dịch chú).




([7]) Gobineau (1816-1887), nhà văn Pháp - (Người dịch chú).




([8]) Montaigne (1533-1592), nhà triết học, nhà văn Pháp - (Người dịch chú).




([9]) Chateaubriand (1768-1845), nhà văn Pháp - (Người dịch chú).




([10]) La Fontaine (1621-1695), nhà thơ ngụ ngôn Pháp - (Người dịch chú).




([11]) Gérald de Nerval (1808-1855), nhà thơ Pháp, tác giả truyện Sylvie - (Người dịch chú).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »