tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20782937
Lý luận phê bình văn học
20.08.2009
Hoài Anh
Jean Paul Sartre: Văn chương là gì?

I. Viết là gì?


... Khi bảo rằng cấm các nhà thơ không được dấn thân, phải chăng đó là một lý do để miễn dấn thân cho nhà văn xuôi? Giữa họ có cái gì chung? Nhà văn xuôi viết, nhưng nhà thơ cũng viết. Nhưng giữa hai hành vi viết này chỉ giống nhau ở cái cử động của bàn tay viết ra các chữ. Còn thì các vũ trụ của họ không sao thông cảm được và những gì có giá trị cho người này lại không có giá trị cho người kia. Yếu tính của văn xuôi là thực dụng: tôi sẵn sàng định nghĩa nhà văn xuôi như một người sử dụng chữ. Ông Jourdain([1]) làm văn xuôi để người ta lấy dép cho ông và Hitler dùng văn xuôi để tuyên chiến với Ba Lan. Nhà văn là một người nói: họ chỉ tên, chứng giải, ra lệnh, từ chối, kêu gọi, van lơn, chửi rủa, thuyết phục, đưa đẩy. Có nói trong không chăng nữa, họ cũng chẳng vì thế biến thành nhà thơ, mà chỉ là nhà văn xuôi nói để mà chẳng nói lên gì. Ta đã thấy ngôn ngữ ở mặt trái khá nhiều rồi, giờ ta hãy nhìn nó ở mặt phải xem.


Nghệ thuật văn xuôi được thể hiện trên diễn văn, chất liệu của nó dĩ nhiên có ý nghĩa: nghĩa là các chữ trước hết không phải là vật, mà là sự chỉ các vật. Trước hết không phải là tìm xem tự chúng, chúng làm vui lòng hay làm mất lòng, nhưng nếu chúng chỉ đúng một sự vật của thế giới hay một khái niệm nào đó. Nên thường xảy ra điều là chúng ta thấy mình có được một ý kiến nào đó mà người ta cho chúng ta biết bằng lời, mà không nhớ được lấy một chữ trong số các chữ đã chuyển ý kiến ấy cho chúng ta. Văn xuôi trước hết là một thái độ tinh thần: có văn xuôi là khi nào, như Valéry([2]) nói, chữ đi qua cái nhìn của chúng ta như mảnh kính đi qua mặt trời. Khi người ta lâm nguy hay gặp khó khăn, người ta nắm lấy bất cứ dụng cụ nào. Nguy cơ qua rồi, người ta không còn nhớ ngay cả cái đó là cái búa hay là một thanh củi. Và vả lại người ta cũng chẳng hề biết nữa: vẻn vẹn chỉ làm dài thêm cái thể xác của mình ra, một phương tiện duỗi tay ra nắm lấy cái cành cao nhất: đó là một ngón tay thứ sáu, một cái cẳng thứ ba, nói tóm lại, một tác động thuần túy mà ta tự đồng hóa với ta.


Ngôn ngữ cũng vậy: nó là cái mai của ta, là sừng của ta; nó bảo vệ ta chống lại kẻ khác và cho ta biết về họ, đó là một sự kéo dài các giác quan của ta. Ta ở trong ngôn ngữ như ở trong thân thể ta, ta cảm thấy nó một cách hồn nhiên khi vượt qua nó để đến những cứu cánh khác, như ta cảm thấy chân tay của ta; ta tri giác nó, khi kẻ khác dùng nó, như ta tri giác chân tay của kẻ khác vậy. Có chữ từng được sống, có chữ từng được gặp. Nhưng trong cả hai trường hợp, chính khi đang làm một công việc, hoặc từ tôi đến kẻ khác, hoặc từ kẻ khác sang tôi. Lời nói là một lúc đặc biệt nào đó của hành động và không thể hiểu được ở ngoài hành động.


Còn những người cấm khẩu mất hẳn khả năng hành động, khả năng ý thức, các tình trạng, khả năng giao thiệp bình thường với giới kia. Trong lòng cái chứng hậu đậu này, sự hủy diệt của ngôn ngữ hình như chỉ là sự sụp đổ của một trong các cơ cấu: cái cơ cấu tinh hoa nhất và biểu kiến nhất. Và nếu văn xuôi chẳng qua chỉ là cái dụng cụ ưu ái cho một công việc nào đó, nếu chiêm ngưỡng chữ một cách vô tư là việc riêng của nhà thơ, thì người ta có quyền hỏi trước hết nhà văn xuôi: anh viết với mục đích gì? Anh theo đuổi công việc gì và tại sao công việc ấy lại cần đến viết lách? Và không khi nào công việc ấy lại chỉ nhằm mục đích chiêm ngưỡng thuần túy. Vì trực giác là im lặng và là cứu cánh của ngôn ngữ và thông báo. Hẳn nhiên nó có thể quy định kết quả của trực giác nhưng trong trường hợp này vài chữ ném vội trên mặt giấy là đủ: tác giả khi nào cũng nhận ra mình trên đó. Nếu các chữ lại được xếp thành câu với sự cố ý sao cho minh bạch, thì cần có một sự quyết định xa lạ với trực giác, ngay cả với ngôn ngữ. Chính ở cái quyết định ấy mà, trong mỗi trường hợp, người ta phải hỏi cho ra lý lẽ. Và cái lương tri, mà các nhà bác học uyên thâm của chúng ta thường quá hay quên, không ngừng nhắc nhở. Phải chăng người ta quen thói hỏi tất cả những thanh niên có ý định viết lách cái câu hỏi nguyên tắc này: “Anh có điều gì cần nói không?”. Như thế nên hiểu là: một cái gì bõ công thông báo. Nhưng làm sao hiểu được cái gì là “bõ công” nếu không phải là viện đến một hệ thống giá trị siêu việt?


Vả lại, cứ nhìn cái cơ cấu phụ thuộc của cái công việc gọi là cái lúc phát ngôn đó thôi cũng đủ thấy cái lỗi lớn của các nhà văn thể học thuần túy là tin rằng lời nói là một ngọn gió heo may thổi nhẹ trên mặt các sự vật, lướt qua chúng mà không làm chúng suy xuyển gì. Và rằng người nói là một nhân chứng thuần túy tóm tắt sự chiêm nghiệm vô hại của mình bằng một chữ. Nói tức là hành động: mọi vật mà người ta gọi ra không còn hẳn là như cũ, nó đã không còn tinh khiết nữa. Nếu anh gọi tên cái hành vi của một cá nhân ra là anh đã tiết lộ hành vi ấy cho hắn biết: hắn tự thấy hắn. Và vì đồng thời anh gọi cái hành vi ấy ra cho tất cả các kẻ khác, nên khi hắn tự thấy hắn biết mình đang bị thấy; cái cử chỉ lén lút của hắn, mà hắn quen khi hắn làm, đâm ra hiện hữu một cách đồ sộ, hiện hữu cho mọi người, nó hòa mình vào tinh thần khách quan, nó có những chiều cỡ mới, nó bị thu hồi.


Sau thế rồi làm sao ta lại đòi nó phải hành động như cũ được? Hoặc giả nó vẫn hành vi như cũ vì ngoan cố và thừa biết thế, hoặc giả nó từ bỏ hành vi ấy. Do đó khi nói, tôi bộc lộ cái tình trạng bởi chính cái dự định của tôi là thay đổi nó; tôi bộc lộ nó với tôi và với kẻ khác để thay đổi nó; tôi đâm nó ngay giữa tim, tôi chọc thủng nó và tôi giơ nó lên trước mọi cái nhìn: hiện giờ tôi sử dụng nó, với mỗi chữ tôi nói, tôi dấn thân thêm vào cuộc đời, và đồng thời, tôi cũng trồi lên khỏi cuộc đời một chút vì tôi vượt lên nó để tiến về tương lai. Do đó nhà văn xuôi là một người đã chọn một lối hành động phụ thuộc nào đó mà người ta có thể gọi là hành động bằng bộc lộ. Vì thế nên hỏi họ câu thứ hai này: “Anh muốn bộc lộ phương diện gì của thế giới, anh muốn đưa lại sự thay đổi gì cho thế giới với sự bộc lộ ấy?”. Nhà văn “dấn thân” biết rằng lời nói là hành động: họ biết rằng bộc lộ là thay đổi và người ta chỉ có thể bộc lộ khi có dự định thay đổi. Họ đã từ bỏ giấc mơ hão huyền là họa lại một cách vô tư xã hội và thân phận con người. Con người là cái thực thể mà đối với nó không một thực thể nào có thể giữ được tính vô tư, ngay cả Thượng đế. Vì thượng đế, nếu như có, sẽ như một số phận tự thân bị từng thấy rõ, ở vào tình trạng tương quan với con người. Và người cũng là cái thực thể nó không thể thấy một tình trạng mà không thay đổi, vì cái nhìn của nó làm đọng lại, hủy diệt, hoặc điêu khắc, hoặc làm như vĩnh cửu, thay đổi đối tượng thành chính nó. Chính ở tình yêu, ở hận thù, ở giận dữ, ở sợ sệt, ở vui sướng, ở công phẫn, ở thán phục, ở hy vọng, ở thất vọng mà con người và thế giới tự bộc lộ cho nhau trong chân lý của chúng.


Hẳn nhiên, nhà văn dấn thân có thể là nhà văn tồi, họ có thể ý thức thực thể, nhưng vì người ta không thể viết mà không có dự tính công việc, không được xui họ đừng xây dựng nó như thể nó phải có tiếng tăm lừng lẫy nhất. Họ không bao giờ được tự nhủ: “Chà, may ra thì mình cũng có được ba ngàn độc giả”; nhưng phải tự nhủ: “Nếu mọi người đều đọc những gì ta viết thì rồi ra sao nhỉ? Họ nhớ lại lời của Mosca([3]) nói trước chiếc xe chở Fabrice và Sanseveriana đi: “Nếu chữ tình yêu lại đột hiện giữa họ, thì thật là chết ta”. Họ biết họ là người đặt tên những gì chưa được đặt tên hay những gì chưa dám nói tên ra, họ biết là họ làm đột hiện chữ tình yêu và chữ hận thù giữa các con người chưa quyết định về tình cảm của mình. Họ biết rằng các chữ, như Brice Parain nói, là những “súng lục có đạn nạp”. Nếu họ nói, tức là họ bắn. Họ có thể im lặng, nhưng vì đã lựa bắn, thì phải bắn như một con người nhằm vào những tấm bia chứ không phải như một đứa bé, nhắm mắt bắn bừa bãi với cái thú chỉ để nghe đạn nổ.


Rồi đây chúng ta sẽ thử xác định xem mục đích của văn chương có thể là gì. Nhưng ngay từ bây giờ chúng ta có thể kết luận rằng nhà văn đã chọn bộc lộ thế giới và đặc biệt bộc lộ con người cho các con người khác biết để các con người này đặt trước cái đối tượng lột trần đó phải đảm đương lấy trách nhiệm hoàn toàn của họ. Không ai được viện lẽ không biết luật pháp vì chưng có một bộ luật và luật pháp là sự vật viết thành văn: còn thì vi phạm luật hay không tùy ta, nhưng ta thừa biết những gì chờ đợi ta. Cũng thế, nhiệm vụ của nhà văn là làm sao cho không ai lại có thể không biết đến thế giới và không ai lại có thể bảo là mình ngây thơ về thế giới. Và một khi đã dấn thân vào vũ trụ ngôn ngữ rồi, họ không bao giờ còn có thể giả vờ là không biết nói: nếu đã vào cái vũ trụ ý nghĩa rồi thì không còn cách nào thoát ra khỏi; hãy để các chữ tự do tổ chức, chúng sẽ làm thành câu và mỗi câu hàm chứa thân thể ngôn ngữ và trả lại với toàn thể vũ trụ; ngay cả im lặng cũng tự định nghĩa so với các chữ, như sự tạm ngưng trong âm nhạc sở dĩ có ý nghĩa là nhờ ở các nhóm nốt bao quanh nó. Sự im lặng ấy là một lúc của ngôn ngữ: im lặng không phải là câm, mà là không chịu nói, tức là vẫn nói. Do đó nếu một nhà văn lại chọn im lặng trên một phương diện nào đó của thế giới, hoặc theo một từ ngữ nói đúng được điều nó muốn nói là: passer sous silence, hay làm lơ đi, người ta có quyền đặt cho họ một câu hỏi thứ ba: tại sao anh lại nói về cái này thay vì là cái kia và - sở dĩ anh nói để thay đổi - tại sao anh lại muốn thay đổi cái này thay vì là cái kia?


Tất cả những cái ấy cũng không ngăn nổi là vẫn có một lối viết. Người ta chẳng phải là nhà văn vì đã chọn nói những điều nào đó nhưng vì đã chọn nói những điều ấy một cách nào đó. Và văn thể, hẳn nhiên, là giá trị của văn xuôi. Nhưng văn thể phải đừng để thấy. Vì các chữ là trong suốt và vì cái nhìn xuyên qua được chúng, mà lại đi luồn vào giữa chúng những tấm kính mờ thì thật là vô lý. Vẻ đẹp ở đây chỉ là một sức mạnh êm dịu và khôn cảm. Trên một bức họa, nó biểu lộ trước đã, trong một cuốn sách, nó ẩn mình, nó hành động bằng cách thuyết phục như cái duyên dáng của một giọng nói hay một khuôn mặt, nó không cưỡng ép, nó khiến người ta nhượng bộ mà người ta không ngờ và người ta tưởng đâu nhượng bộ những lý lẽ khi người ta bị thu hút bởi một vẻ duyên dáng mà người ta không thấy. Nghi thức của buổi lễ không phải là lòng tin, nó bố trí cho người ta tin: sự hòa hợp giữa các chữ, vẻ đẹp của chúng, sự cân đối của các câu bố trí các cảm xúc của độc giả mà họ không hay, xếp đặt chúng như buổi lễ, như bản nhạc, như điệu múa; nếu họ lại nhận thức theo chúng, ý nghĩa mất đi, và chỉ còn lại những sự đu đưa buồn tẻ. Trong văn xuôi, cái thú thẩm mỹ chỉ thuần túy khi nào nó đến hơn thế nữa. Người ta đỏ mặt khi nhắc lại những ý kiến giản dị đến thế, nhưng ngày nay hình như người ta đã quên chúng rồi. Không có thế, liệu người ta có đến bảo chúng tôi là chúng tôi mưu toan ám sát văn chương hay không hay, nói một cách giản dị hơn, là sự dấn thân có hại cho nghệ thuật viết không? Nếu thi ca có tiêm nhiễm một loại văn xuôi nào đó làm bối rối các ý nghĩ của các nhà phê bình chúng tôi, liệu họ có nghĩ tấn công chúng tôi về hình thức khi chúng tôi xưa nay chỉ có nói về nội dung không? Về hình thức chả có gì phải nói trước và chúng tôi chưa có nói gì cả; mỗi người chế biến lấy hình thức của mình và sau đó người ta phê phán. Đành rằng các đề tài đòi hỏi văn thể: nhưng chúng tôi không điều khiển văn thể; không có đề tài nào tiên nghiệm lại đứng ra ngoài văn nghệ. Còn cái gì dấn thân hơn, buồn tẻ hơn là chuyện tấn công Hội Jésuites? Pascal([4]) đã dùng nó viết cuốn Provinciales.


Nói tóm lại, vấn đề là cần biết mình muốn viết về cái gì: về bươm bướm hay về tình trạng của các người Do Thái. Và khi biết rồi, chỉ còn quyết định xem sẽ viết ra làm sao. Thường khi hai sự lựa chọn chỉ là một nhưng với các nhà văn có tài, không bao giờ sự lựa chọn sau lại đi trước sự lựa chọn trước. Tôi biết rằng Giraudoux([5]) có nói: “Chỉ có độc một việc là tìm ra văn thể của mình, ý sẽ đến sau”. Nhưng ông ta đã lầm: ý đã không đến. Rằng nếu người ta coi các đề tài như các vấn đề khi nào cũng mở sẵn, như những sự khẩn khoản, chờ đợi, người ta sẽ hiểu rằng có dấn thân nghệ thuật cũng chẳng mất gì; trái lại cũng như vật lý học đưa lại các nhà toán học những bài toán mới mẻ buộc họ phải tìm ra một ký hiệu pháp mới, cũng như các đòi hỏi càng ngày càng mới mẻ của xã hội học hay của siêu hình học buộc nghệ sĩ phải tìm ra một ngôn ngữ mới cùng những kỹ thuật mới. Nếu chúng ta không còn viết như hồi thế kỷ 17, chính vì cái ngôn ngữ của Racine([6]) và của Saint Evremond([7]) không còn thích hợp để nói về các đầu máy xe lửa hay về giới vô sản. Biết thế rồi, không chừng những người câu nệ sẽ cấm chúng ta viết về các đầu máy xe lửa cũng nên. Nhưng nghệ thuật có bao giờ đứng về phía những con người câu nệ.


Nếu đó là nguyên tắc của dấn thân, thử hỏi người ta có thể phản đối nó cái gì? Và nhất là, người ta đã phản đối nó những gì? Theo tôi thì hình như các đối tượng của tôi không có nhiệt tình gì mấy với công việc của họ và các bài báo của họ chả chứa đựng gì hơn là một tiếng thở dài phẫn uất, dài hàng vài ba cột. Tôi cũng muốn biết nhân danh cái gì, nhân danh quan niệm gì về văn chương mà họ lên án tôi: nhưng họ không nói với tôi thế; chính tôi cũng chẳng biết thế. Điều hợp lẽ nhất là họ dựa lời kết tội của họ vào cái lý thuyết cũ kỹ nghệ thuật vị nghệ thuật. Nhưng trong bọn họ không có lấy một người khả dĩ chấp nhận cái lý thuyết ấy. Vả lại nó cũng làm vướng nữa. Người ta thừa biết rằng nghệ thuật thuần túy và nghệ thuật trống rỗng đều là một và rằng chủ nghĩa thuần túy thẩm mỹ chỉ là một thủ đoạn tự vệ khéo léo của bọn tư sản thế kỷ trước đây, thích được tố cáo là bọn trọc phú hơn là bọn bóc lột. Vì thế cho nên, theo chính lời họ thú nhận, nhà văn nhất thiết phải nói về một cái gì chứ. Nhưng về cái gì? Tôi tin rằng họ sẽ vô cùng bối rối nếu không nhờ Fermandez đã tìm ra cho họ, sau cái chiến tranh kia, cái khái niệm hiệu triệu. Nhà văn ngày nay, họ nói, không được bất cứ trong trường hợp nào bận tâm đến thế sự; nhà văn cũng không được sắp những chữ không có ý nghĩa hay độc nhất đi tìm cái đẹp cho câu, cho các hình ảnh: nhiệm vụ của họ là trao các hiệu triệu cho các độc giả. Vậy hiệu triệu là cái gì?


Ta còn nhớ rằng các nhà phê bình là những người không được may mắn cho lắm và khi sắp sửa tuyệt vọng lại vớ được một việc làm nho nhỏ êm đềm là gác nghĩa trang. Họa có trời biết là các nghĩa trang có êm ả hay không, nhưng chắc không có cái nào lại vui tươi hơn một thư viện. Các người chết nằm đấy: họ chỉ có viết, từ lâu họ đã được rửa sạch các tội sống và vả lại người ta chỉ có biết về đời sống của họ là nhờ những cuốn sách khác mà những người chết khác đã viết. Rimbaud([8]) đã chết. Paterne Berrichon và Isabelle Rimbaud cũng đã chết; những kẻ phá rối đã mất, chỉ còn lại những quan tài nho nhỏ mà người ta xếp lên các ván dọc theo các tường, như những cái tiểu của nhà mồ ngầm.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info


 







([1]) Nhân vật trong vở kịch Nhà tư sản quý tộc của Molière (Người dịch chú).




([2]) Paul Valéry (1871-1945), nhà thơ Pháp (Người dịch chú).




([3]) Nhân vật trong tiểu thuyết Tu viện thành Parme của Stendhal - (Người dịch chú).




([4]) Blaise Pascal (1623-1662), nhà toán học, nhà tư tưởng, nhà văn Pháp - (Người dịch chú).




([5]) Jean Giraudoux (1882-1944), nhà văn Pháp - (Người dịch chú).




([6]) Jean Racine (1639-1699), nhà viết kịch Pháp - (Người dịch chú).




([7]) Saint Evremond (1610-1703), nhà văn Pháp - (Người dịch chú).




([8]) Arthur Rimbaud (1854-1891), nhà thơ Pháp - (Người dịch chú).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »