tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19374657
Lý luận phê bình văn học
20.08.2009
Hoài Anh
Sơn Nam, người đánh đàn độc huyền kể chuyện Nam Bộ

Anh Sơn Nam, tên thật Phạm Minh Tài, sinh năm 1926, tại làng Đông Thái, huyện Gò Quao, tỉnh Rạch Giá. Ở vùng “U Minh Rạch Giá thị quá sơn trường. Xuống sông sấu bắt, lên rừng cọp tha” và “Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lền tựa bánh canh” trong ca dao. Ba má anh có ruộng, có vườn, thuộc hạng khá trong làng. Nên anh sống đời các “công tử bột”. La cà đây đó, mở rộng tầm mắt, điều tra... phỏng vấn... Sau đó lúc làm văn, làm báo, cứ việc tuôn ra. Nhờ đó anh có nhiều vốn sống về vùng đất này, như trong truyện Một cuộc biển dâu, anh tả người chết ở vùng lúa xạ trong mùa nước lên, chỉ có hai cách chôn: Một là xóc cây chéo ở giữa đồng rồi treo trên mặt nước, chờ khi nước giựt mới đem chôn lại dưới đất. Hai là bó xác lại rồi dằn cây dằn đá mà neo dưới đáy ruộng.


Khi nổ ra cuộc Nam Bộ kháng chiến, anh Sơn Nam đi theo cách mạng, làm cán bộ Đảng Dân chủ tỉnh Rạch Giá, hồi đó đồng chí Võ Văn Kiệt và chị Lê Thị Riêng công tác ở tỉnh ủy Rạch Giá. Sau đó, anh vào Đồng Tháp Mười công tác văn nghệ khu Tám. Sơn Nam đã có dịp gần gũi nhiều nhà văn nhà thơ quê Bắc như Nguyễn Bính, anh đã thuộc lòng nhiều bài thơ Nguyễn Bính viết hồi đó, sau này đọc cho tôi chép. Do đó văn anh trong sáng, linh hoạt, ít dùng phương ngữ, khác nhiều nhà văn quê gốc Nam Bộ như Minh Lộc tác giả truyện Con đường sống chẳng hạn. Trong cuộc thi sáng tác của Hội Văn nghệ Nam Bộ, năm 1953, truyện Bên rừng cù lao Dung của anh được giải nhất, truyện Tây đầu đỏ được giải nhì.


Truyện Tây đầu đỏ, nói đến cuộc khẩn hoang miền Hậu Giang và sự bóc lột tàn nhẫn của bọn thực dân da trắng. Một tên Pháp thèm thịt bò con, thấy một nông dân nghèo nọ có con bò cái có chửa, bèn ra lệnh mổ bụng bò mẹ để lấy cái “hàng nàm” (thai bò con) ra xơi, mà không thèm đền một đồng xu nhỏ! Điều thú vị là văn anh viết, bên những câu văn khẩu ngữ đặc Nam Bộ, có chen vào những câu thơ của các tác giả miền Bắc, như Hiu hiu ngọn cỏ lá cây (Nguyễn Du). Trời chưa tỏ sao hôm (Huy Cận), mà vẫn cứ nhuyễn nghe êm ro. Còn phương ngôn tục ngữ anh sử dụng rất ngon lành.


Sau hiệp định Genève 1954 anh được phân công về nội thành hoạt động và bị địch bắt giam một thời gian. Khi được trả tự do, anh mướn một căn nhà trong hẻm gần rạp chớp bóng Thanh Bình, sống bằng nghề viết báo. Anh viết cho bốn tờ báo hàng ngày và phải lội bộ đem bài đến bốn tòa soạn, hai nơi này vào sáng hôm sớm, hai nơi nọ vào xế chiều.


Làm báo hàng ngày vào thời cạnh tranh gay gắt, chỉ cần ra sớm hơn bạn đồng nghiệp mấy phút là giành thêm được một số độc giả, nên anh phải làm việc vất vả. Khổ nỗi xóm này ồn, anh thường phải đợi đến khuya mới làm việc. Có khi viết ở các quán cà phê. Có những buổi trưa anh sợ về nhà ồn ào mệt thêm, nên tạt vào tiệm Hoa kiều nào đó ăn cơm rồi tấp vô nhà bạn quen gần đó mà nghỉ một chút. Ngoài viết báo, anh còn viết những cuốn truyện Hương rừng Cà Mau, Chim quyên xuống đất, Hình bóng cũ, Vọc nước giỡn trăng, Hai cõi U Minh, Truyện ngắn của truyện ngắn, Xóm Bàu Lá, Bà Chúa Hòn... và những cuốn sách biên khảo Tìm hiểu đất Hậu Giang, Nói về miền Nam, Đồng bằng sông Cửu Long, Lịch sử khẩn hoang miền Nam...


Trong truyện Tình nghĩa giáo khoa thư, Sơn Nam tả anh chàng phái viên nhà báo Chim trời đi đòi tiền báo mua năm của chú Tư Cò ở ấp Cà Bây Ngọp tận Cà Mau. Chuyện vãn một hồi, chủ khách thi nhau nhớ những đoạn văn trong Quốc văn giáo khoa thư mà người cùng học hồi nhỏ:


“Tư Cò nói:


- Chắc là thầy muốn nói bài Chốn quê hương đẹp hơn cả chứ.


Rồi chú đọc một hơi:


- Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen thuộc làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi: Ông đi du sơn, du thủy....


- Đó đa! Đó đa! Anh Tư nhớ kỹ quá...


Người du lịch mới trả lời: Ở chốn quê hương.... từ cái bụi tre ở xó vườn cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi cho tôi những cảm tình chứa chan... Bài đó có ông già mang kiếng, chống gậy nói chuyện với mấy người khăn đống áo dài.


- Thì hình nào cũng có khăn đống áo dài. Trừ cái hình thằng nhỏ chăn trâu cầm roi: Ai bảo chăn trâu là khổ... Không, chăn trâu sướng lắm chứ!


Thầy phái viên phụ họa theo cùng hợp xướng.


- Đầu đội nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như roi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tai nghe chim hót trong lùm cây, mắt trông bướm lượn trên đám cỏ!


Điều đáng chú ý là Quốc văn giáo khoa thư thời Pháp thuộc do người Bắc viết bằng tiếng Bắc, nên khi đưa vào Nam, người miền Nam thường hay lộn một số tiếng như hàng xóm, láng giềng, lộn thành làng xóm... tuy vậy người miền Nam vẫn thích thú đến nỗi học thuộc lòng, mặc dầu theo tiếng địa phương thì có cách nói khác, thuận miệng hơn. Chính Sơn Nam đã học viết văn từ những bài Quốc văn giáo khoa thư này và những cuốn truyện xuất bản ở miền Bắc. Như trong truyện Hòn Cổ Tron, anh viết: “Ông vẫn cứ ung dung mà uống, mà tắm một cách tự nhiên, vô tình khuấy rối giấc mơ của đàn bướm trắng đang xao động bay chập chờn như muốn rời mấy nhánh mai hoàng lơ thơ cúi nghiêng mình chấm mí nước”, ta thấy xuôi chảy, thanh thoát không khác gì giọng văn miền Bắc.


Theo Sơn Nam, Hương rừng Cà Mau viết về “những chuyện xảy ra vào khoảng 1939 – 1940”, nên ít nhiều đều ảnh xạ chế độ cai trị thực dân và phong trào chống Pháp của nhân dân ta.


Nếu người xưa tìm chốn Đào nguyên là để “tị Tần” (lánh Tần) thì ông Từ Thông sống một mình trong đời sống nguyên thủy cổ sơ ở nơi “thế ngoại Đào nguyên” là hòn Cổ Tron, cũng vì ở đó không phải đóng thuế thân cho Pháp. Ấy thế mà vẫn không thoát, khi Pháp đánh nhau với Xiêm, tàu hải quân Pháp cũng mò ra đến nơi heo hút này. May mà viên sĩ quan Pháp có ống nhòm nhìn rõ ông đứng trên chót hòn, nếu không ông đã bị bắn vì ban sơ chúng tưởng hòn này là chiến tàu binh của địch sơn lại cho giống cái hòn giữa biển. Ông bị đưa về Rạch Giá giam giữ mãi đến khi trận đánh giặc Xiêm đã chấm dứt. Ông bị giam mà vẫn không biết mình bị giam, cứ ngỡ mình là người chạy giặc, vô trong đất liền thăm bà con. Ông thấy bà con ở đó còn nghèo hơn ở ngoài hòn Cổ Tron. Áo quần không có. Mình mẩy bị ghẻ khuyết ăn lở lói thâm niên. Nhà cửa xiêu vẹo, nay ở mai dời”.


Khi ông gặp thầy thông ngôn ở ngoài hòn, và “hỏi dọ sơ qua về tình hình trong bờ”:


- Trận giặc này không biết dân “An Nam” mình hao bao nhiêu không thầy?


- Hỏi làm chi vậy? Ở đây yên thân già của ông rồi. Nghe nói dân miệt Hóc Môn, miệt Long Hưng... nhộn dữ lắm. Tây không muốn nói chuyện đó.


Một nỗi buồn len vào tâm não ông Từ Thông. Ông nghe gió thổi bốn bề lạnh lùng. Lương tri như rực sáng nhắc nhở ông món nợ gì đối với đồng bào, giang sơn. Không giúp nước được thì ít ra ông cũng cần biết những gì xảy ra đau buồn trong nước. Cây có cội. Nước có nguồn. Chim có tổ. Cá có hang. Đôi mắt già của ông Từ Thông ngẩn ngơ nhìn muôn lớp sóng cồn. Chân trời u ám, mấy đám mây đang bay thấp là đà... Ông hổ thẹn tủi bấy phận mình không bằng con đỗ quyên đêm hè kêu khắc khoải”.


Cậu xã Nê trong Ông già xay lúa cũng nói với chú phó hương quản: “Tây cai trị xứ mình... đem lại nhiều cái hay nhưng cũng lắm điều dở”. Ông già Năm hư một con mắt từ hòn Cổ Tron, vô đất liền xay lúa mướn, khi nghe kể chuyện có hai người đàn ông hai người đàn bà trần truồng từ ngoài hòn bị sóng đánh tấp vào sát mé biển chợ Rạch Giá, bị bắt, cuối cùng người ta phải cho họ quần áo, họ mới chịu ra về, ông nói: “Tôi hồ nghi đó là mưu mô của mấy người nào đó ở gần chợ Rạch Giá. Vì thiếu quần áo – nên nhớ là năm đó đói khổ lắm, họ liều thân làm xấu để xin quần áo của Nhà nước. Nhà nước sợ họ: họ đã thành công. Dễ gì đi làm mướn một buổi sáng mà sắm được bộ quần áo, hồi năm quần bao áo bố đó”.


Trong truyện Chiếc ghe ngo, trai tráng trong làng mất bao công sức mới thắng trong cuộc đua ghe ngo mừng lễ của Tây ngày 14 tháng 7, mà phần thưởng không phải là tiền bạc, vải bố, nhang đèn mà chỉ là một lá cờ tam sắc to tướng. Thật là mỉa mai.


Những chi tiết trên đã cực tả tội ác của thực dân áp bức, bóc lột, lừa bịp nhân dân ta, và nguyên nhân việc dân ta vùng dậy chống Pháp, như trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra ở Hóc Môn, Long Hưng... mà trong truyện gợi lên.


Trong truyện Đảng “Cánh buồm đen”, Sáu Bộ lên núi Cô Tô để học đạo. “Hết đạo Ớt qua tới đạo Đất; từ giã ông đạo Đất, anh đến thọ giới tại cốc của ông đạo Nằm. Chán ông đạo Nằm, anh đi lang thang qua núi Đài với ý nghĩ cuốc đất làm rẫy. Buổi chiều đó anh gặp một đạo sĩ ở vùng Thất Sơn, anh nghe ông nói “Thời kỳ này là thời kỳ mạt pháp, anh hỏi: “Phải chăng mạt pháp là người Pháp tàn mạt?”. Đạo sĩ gật đầu nói:


“- Thời buổi mạt pháp này chưa có ai thành tiên hoặc gặp tiên được. Ai nói ngược lại tức là dối mình, dối người, dối với non cao, dối với bể rộng... Muốn thành tiên thì phải dày công tu luyện để ngày kia giữ được chức vị cao.


- Bạch đạo sĩ, công tu luyện ấy như thế nào?... chức vị ấy gọi là chi?


Đạo sĩ nói lớn:


- Gọi là chức vị “chặt đầu Tây”. Con nghe chưa? Con nghe chưa? Xưa kia đức Nguyễn Trung Trực phá Kiên Giang. Lúc sa cơ, Người không mảy may úy tử. Trước pháp trường, giặc khuyến dụ trăm điều, hứa hẹn cho... ôi thôi bao nhiêu là vàng bạc, chức vụ! Người cả cười, chỉ xin lãnh một chức vị: Chức nào mà Người có quyền chặt đầu tất cả bọn Tây.


Giọng đạo sĩ như nghẹn ngào:


- Hỡi ơi! Dũng tướng đã rơi đầu mà lời vàng ngọc nọ mãi rền vang trong lòng người, khắp núi cao biển rộng... Chặt đầu Tây! Chặt đầu Tây!


Từ đó Sáu Bộ theo thầy học đạo. Năm năm sau, anh xuống núi. Tên Sáu Bộ được sửa lại là Tư Miền. Tư Miền chỉ mang theo cây roi dài một thước tám, bằng cây trặc. Với cây roi ấy là đường quờn Lưu Thủy, anh nghiễm nhiên trở thành chúa đảng Cánh Buồm Đen, hùng cứ từ mũi Cà Mau đến hải phận Hà Tiên, chuyên cứu người lương thiện bị bọn cướp bắt.


“Tháng hai năm 1946. Có tin Tây trở lại chiếm gần tới Rạch Giá, chúng đã nhảy dù xuống biên giới Việt Miên gần núi Sam, Châu Đốc. Dân chúng sục sôi căm hờn tập tập trung lại ngọn Cái Bác để bàn mưu kế. Có đến trên ba mươi thanh niên tình nguyện đi bắt sống bọn Tây nhảy dù ở xa cách quê nhà hằng hai trăm cây số. Họ thiết lập một bàn thờ Tổ quốc giữa rừng, lấy củi tràm đốt thế cho trầm hương và mượn mặt đất để làm đỉnh đồng. Y phục của họ khác nhau, nhưng giống nhau ở chất vải màu lem luốc, chứa chấp bao nhiêu rận. Giữa quang cảnh mộc mạc, thiêng liêng đó, người ta thấy một ông lão râu tóc bạc phơ chống cây gậy cao khỏi đầu bước ra”.


Thì ra ông lão nọ chính là Sáu Bộ tức Tư Miền. Ông biểu diễn cho mọi người xem đường quờn Lưu Thủy mà thầy ông dạy ông hồi năm mươi năm trước.


Cũng như đường quờn Lưu Thủy và ngọn roi không có tác dụng lúc thời giờ cấp bách, bà con vùng Xẻo Dần trong Bác vật xà bông, tuy chỉ nghe ông bác vật nói về cách thức chế tạo xà bông, đã có thể chế được xà bông bằng nguyên liệu tại chỗ, thì “... Năm 1945, cả xóm ngọn Xẻo Dần không nấu xà bông nữa. Họ phải lo chuyện khác cao cả hơn. Nhưng ý nghĩa của cuộc chiến đấu mới nào có gì lạ hơn là làm cho dân giàu nước mạnh, phát triển nội hóa”. Sự ra đi của chàng trai trong Con Bảy đưa đò và Tư Lập trong Hương rừng cũng có thể hiểu ngầm đó là sự ra đi của thanh niên “lúc sơn hà nguy biến”.


Truyện Miễu Bà Chúa Xứ, ông Tư Đạt cất một cái miễu thờ những nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực và dân làng bị Pháp tàn sát nhưng nói thác đó là miễu thờ Bà Chúa Xứ. Tác giả viết: “Tôi lạnh người. Gió thổi hiu hiu. Phải chăng oan hồn thuở trước đang về đây? Họ trở thành cát bụi đang thu mình vào rễ lúa để vươn lên mặt đất, đòi đơm bông kết trái?


Hay là họ buồn rầu khi nhìn cậu bé chăn trâu còn sống sót thuở trước giờ đây sống hẩm hiu. Từng vệt sao rơi, phải chăng đó là niềm tin tưởng soi sáng quyển sử trường cửu của đất nước, một quyển sử không có số chương mà mỗi luống cày là một tờ giấy bao la, mỗi bụi lúa là một nét chữ không nhòe, muôn năm linh động”.


Truyện Đóng gông ông thầy Quít, kể chuyện ông thầy Quít về một làng kia chê bà con ở đây không ai biết phát cỏ cho ra hồn, và nói ông có “đạo phát cỏ” muốn truyền dạy cho mọi người. Ông trổ tài biểu diễn phát cỏ một lần, quả nhiên có nhanh hơn người khác, nên mọi người tin xin thọ giáo. Ông nói chỉ nhận một đệ tử trong đám thanh niên trai tráng trong xóm để truyền phép. Bà con cho thầy Quít lãnh trước tiền phát cỏ, nhờ vậy thầy thủ được món tiền ăn xài dư dả, còn được biếu nào gà nào rượu, chờ mãi không thấy thầy phát cỏ đến khi cỏ dại mọc lút đầu người, thầy bỏ trốn. Thằng Liệu – đồ đệ của thầy – bị khép vào tội đồng lõa. Nó quỳ xuống lạy, khóc sướt mướt kêu oan. Nhờ sự can thiệp của mấy ông kỳ lão nên nó khỏi bị tát tai, đấm đá. Chập sau, thầy phó hương quản mở trói cho nó. Nó khai đại khái như sau:


“... Dạ thì ban đầu cắt cổ gà để cúng tế...


Năm ba bữa sau, ổng lấy thước tây đo dưới đất, vuông vức mỗi cạnh là một thước. Bốn góc hình vuông đó, ông thắp bốn ngọn đèn cầy. Ban đêm, đốt đèn lên, ông đưa cho tôi một cây sậy dài chừng chín tấc mà nói: Mày cầm cây sậy mà quơ mạnh như cầm phảng cắt cỏ. Phải làm sao khi quơ một cái thì hơi gió khiến bốn cây đèn tắt một lượt.


Thằng Liệu nói tiếp:


- Thầy nói mỗi công ruộng là một ngàn thước vuông, mình tập mỗi lát dao chém trọn một thước vuông. Vài bữa sau, thầy khen tôi rồi dạy mấy câu thiệu sau đây: Tấn bộ chữ đinh. Tay vươn cánh ó. Chân trái đá gió. Linh kiếm hạ liền... Còn dài lắm, phần sau chưa dạy là thầy trốn. Thầy phó hương quản vỗ bàn:


- Cây phảng mà kêu bằng linh kiếm. Thằng này gan thiệt. Nó muốn làm giặc sao chớ? Ngoài chuyện phát cỏ nó còn nói chuyện khác không? Mày khai gian tao đóng gông mày bây giờ. Đủ bằng chứng rồi! Bắt được ổng tao cũng đóng gông luôn.


Thằng Liệu ấp úng:


- Cách đây vài ngày, thầy khoe với tôi rằng “Sư tổ” hồi xưa phát cỏ giỏi lắm, truyền lại thầy đây là bốn đời. Đạo lần lần bị ố. Thấy phát chơi một buổi chớ không bao giờ phát từ ngày này qua ngày kia, nhiều và lẹ như vậy được. Sự tích hồi xưa, người Mông Cổ xâm chiếm nước Tàu...


- Lập nhà Nguyên. Phải! Thầy Quít nói gì mà người Mông Cổ? Lạ quá?


- Thầy nói người Mông Cổ hồi còn nghèo, lang thang trên yên ngựa thì siêng năng, mạnh khỏe. Đến chừng chiếm được cung điện nước Tàu, họ ăn no ngồi một chỗ, mặc áo gấm. Việc cầm cung lên ngựa, họ xao lãng nên trở thành bạc nhược, gân cốt không còn dẻo dai. Tới sau, họ bị Châu Hồng Võ đánh bại. Phép phát cỏ như vậy đó. Khi xưa người dân phá rừng mở nước, họ làm lụng suốt ngày quên ăn cơm, cứ mỗi cây phảng nặng một yến. Bây giờ chỉ phát một buổi mà cây phảng sụt xuống còn năm cân mà lắm người than mệt?! Người dạy đạo phát cỏ thì lo tiền bạc rượu thịt. Nghề làm ruộng lần lần bị cạnh tranh: nhiều người nông phu tay cầm phảng nhưng trong bụng nghĩ tới việc ra chốn thiềng thị, tìm phương kế khác làm ăn có lợi hơn.


Thằng Liệu nhìn mọi người, thở dài rồi nói tiếp:


- Tối hôm qua thầy Quít nhắc chuyện Mông Cổ thêm một lần nữa rồi thầy khóc thút thít với tôi: “Liệu à, mày đừng bắt chước tao! Tao là đứa làm biếng sau chót hết, mày phải ráng sức giữ lấy nghề nông”.


Chuyện của thầy Quít ngoài tính chất một ngụ ngôn chứa đựng bài học khuyên người ta chăm chỉ lao động, giữ lấy nghề nông, biết đâu chẳng ám thị cái ý thức tỉnh con người thời nay nhớ đến truyền thống mở nước và giữ nước của ông cha, đừng lười biếng mải ăn chơi hưởng lạc mà lãng quên nhiệm vụ đối với đất nước.


Truyện Sông Gành Hào kể chuyện ông Tây kiểm lâm Rốp được tiếng nhân từ vì không hay đi bắt các ghe xuồng chở củi lậu thuế và hay đọc sách về đạo Phật. Một đêm xuồng của chú Tư Đức chở củi đi qua bị ông bắt, nhưng không có tiền nộp nên ông Rốp cho cha con chú ở đậu tại nhà dưới của đồn kiểm lâm, cơm ăn không tính tiền, bù lại hai cha con ông phải làm cỏ, quét nhà. Trong khi nói chuyện với chú Tư, ông Rốp tỏ ra khinh rẻ người Việt Nam. Đến khi thầy hương quản đến báo có con sấu “đội đèn” bắt người ăn thịt, ông Rốp rất sợ hãi. “Ông rất sợ sấu, đó là nhược điểm của trời phú cho. Đó là nguyên nhân khiến cho ông ít dám đi “rỏn” bắt củi lậu thuế; do đó dân làng tưởng lầm ông là kẻ “nhơn từ”.


Đến khi ông Tư Đức dùng sức lực và mưu trí bắt được con sấu, ông Rốp dẫn chú Tư Đức về đồn uống rượu ấm, thay quần áo, và khen ngợi:


“- Hết sức giỏi! Người “An Nam” hết sức giỏi. Chú Tư câu được bao nhiêu con cá sấu rồi? Học nghề với ai vậy?


Chú Tư nói:


- Dạ, nghiệp của ông bà truyền lại. Bây giờ con cháu noi theo...


Ông Rốp gật đầu:


- Phải! Bữa nào chú nói kỹ lại cách thức câu sấu để tôi viết thành cuốn sách, gởi về bên Tây cho mẹ tôi biết. Rồi chú Tư ráng câu con sấu còn lại. Chừng đó tôi đi theo, đứng trên cái thang đánh mõ thử một lần.


Chú Tư suy nghĩ:


- Không được đâu!


- Con sấu kia lợi hại lắm. Phải trừ cho hết. Tôi đọc sách thấy rằng loại sấu lớn thường ở yên tịnh, luôn luôn đi hai con đực và cái.


- Ông lớn nói đúng. Nhưng mình giết một con đủ rồi, giết hết mình có tội với trời đất.


- Tội gì vậy, chú Tư?


- Tội sát sanh. Để con còn lại cho nó đi tu. Đạo phật của ông bà có nói lại như vậy đó.


Ông Rốp mãi suy nghĩ, vuốt râu:


- Dân “An Nam” giỏi quá, hiền từ quá. Chú Tư họ gì, mấy tuổi? Để tôi chạy tờ về quan Tham biện chủ tỉnh xuất số tiền về thưởng công lao cho chú. Chú muốn làm lính kiểm lâm không? Tôi cho chú làm chức “bếp”, ăn lương mỗi tháng mười lăm đồng bạc.


Chú Tư Đức cười:


- Vì đất nước chớ đâu phải vì danh dự vì lợi. Sách có chữ: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”. Công việc của tôi đã làm tròn. Tôi ao ước hương chức làng mình cất một cái miễu lá, thờ cái đầu con sấu nọ. Bất luận là sấu hay cọp, hễ nó hại mình thì giết: Hễ giết được rồi, mình nên thờ...


- Chi vậy?


- Để tỏ rằng mình sợ nó nhưng mà cũng... không sợ nó. Phải để cho nó tu tâm dưỡng tánh trong kiếp sau. Tôi không ưa sát sanh. Tôi muốn làm nghề khác.


- Nghề gì?


- Nghề đốn củi. Chừng hết củi thì đào kinh, làm ruộng. Phen này tôi mừng vì cứu được vong hồn mấy người đã bị sấu ăn thịt. Theo lời tục truyền: họ thành cô hồn, sống vất vưởng trên lưng sấu. Lần lần cô hồn nọ bị sấu mê hoặc nên dẫn đường dắt nẻo đi sát hại kẻ đồng loại. Bây giờ sấu chết, bao nhiêu cô hồn đã thảnh thơi, có thể tự do đi đầu thai trở thành người lương thiện”.


Đoạn văn này đã thể hiện triết lý văn hóa của dân tộc Việt Nam: dũng cảm chiến đấu tiêu diệt kẻ thù nhưng cũng rất mực nhân từ, mở đường cho kẻ lầm lạc biết hối cải quay về chính nghĩa. Ý đó càng được thể hiện rõ nét trong mấy câu ở đoạn cuối: “Chú Tư Đức muốn nói thêm nữa. Chú muốn ví phận mình như một cô hồn bị sấu ăn thịt, hổm rày sống vất vưởng trong đồn này như sống trên lưng con sấu đội đèn nọ. Không khéo, thiếu khí phách ngang tàng, chú có thể bị ông Rốp quyến rũ làm “bếp” kiểm lâm”.


Trong truyện Hương rừng, khi Hoàng Mai thắc mắc gia đình mình thuộc dòng Hoàng phi nhưng sao triều đình không chú ý tới mà ban cho chút bổng lộc, cha nàng nói với nàng: “Hoàng đế đang tức vị thuộc dòng ngụy do tân trào dựng lên. Giọt máu hùng anh của tiên vương nay đã bị lưu đày nơi hải đảo Hòn Non, bặt tăm nhạn cá. Nhận chức hương giáo trong ban hội tề làng Khánh Lâm sở tại, chẳng qua là cha muốn bưng bít dư luận. Bổng lộc của tân trào, cha nào màng, chỉ nguyện làm bạn với cây cỏ, gió trăng”. Khi Tư Lập ra đi, ông nói: “Ai nỡ câu thúc chí trai của mình trong một xó để đổi lấy chữ nhàn? Ai nỡ bỏ cái danh dự để mua chuộc một chức tước quý phái huyền hão... Bây giờ ta yếu lắm rồi. Dầu muốn bắt chước Tư Lập, ta cũng không còn đủ sức lực để bắt chước...”.


Tự tin về vốn sống đầy ắp của mình, anh Sơn Nam có cái ung dung của người vừa đánh đàn độc huyền vừa kể chuyện mà anh nhắc đến trong khúc thơ dạo đầu tập truyện. Ngôn ngữ kể chuyện của anh dung dị, sinh động hấp dẫn, có màu có tiếng kết hợp với động tác, không những đã góp phần tô đậm tính cách nhân vật mà còn vẽ lên bộ mặt tinh thần của từng con người thuần Nam Bộ.


Sau ngày giải phóng miền Nam, anh Sơn Nam về công tác tại Hội Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh. Hàng ngày anh cơm đùm cơm nắm vào Phòng lưu trữ công văn tài liệu trực thuộc Phủ Thủ tướng, đọc hồ sơ hành chính cũ để gạn lấy những chi tiết; số liệu về lịch sử vùng đất Nam Bộ trước đây. Nhờ đó mà anh đã viết thêm được những cuốn Người Sài Gòn, Gia Định xưa; Bến Nghé xưa; Đồng bằng sông Cửu Long, Nét sinh hoạt xưa. Văn biên khảo của Sơn Nam cũng đầy hình ảnh sinh động, tỉ mỉ như văn truyện của anh:


“Bộ ván ngựa (bộ ngựa) không thể thiếu trong mọi gia đình, làm nơi dọn cơm ăn, tiếp khách, nằm ngủ, đánh cờ, uống rượu. Nghèo nhất là bộ vạt tre, vạt cau (hoặc cây tràm con bện lại với dây choại), đặt trên bốn cây nọc, cắm xuống đất. Bộ ván ngựa bằng cây gỗ dầu hoặc vên vên còn để dành đóng quan tài, khi tang khó, gia đình đỡ bối rối. Ván gõ là quý nhất, giá cao, đem từ Cam pu chia hoặc rừng miền Đông về. Khách từ xa đến, chủ nhà mang nước để rửa mặt, mời nằm võng, hoặc nằm bộ ván, đem chiếu gối, khách được chủ nhà thỉnh cầu nên ở trần cho bớt nực. Vào mùa mưa, công việc đầu tiên của chủ nhà sau khi chào hỏi là tìm chỗ cho khách rửa chân (đường xa, lầy lội), rồi mời ngồi. Nhiều nhà giàu thích sắm bộ trường kỷ nhưng không thể bỏ qua bộ ván, nhà giàu ba căn hai chái, lắm khi sắm bốn năm bộ ván, để trong buồng, để ở nhà bếp. Nhà khá giả ưa khoe khoang bộ ván gõ dày hai tấc, “lên nước” nhờ mồ hôi người và lau chùi hàng ngày, dùng đến đời cháu cũng chưa hư, không cần trải chiếu, mát đến mức vào mùa nắng, người nằm có thể “phát lãnh”. Tuy sắm ghế có đai, ghế đẩu, nhưng thích ăn cơm trên bộ ván, ngồi xếp bằng tròn, khi ngồi thì rút một chân lên (kiểu ngồi một căn một chái của người đánh bài tứ sắc). Đây là thói quen từ bé, khó thay đổi; đến thành thị, ngồi trên ghế, vẫn thấy ngứa ngáy, thỉnh thoảng rút chân lên. Về sinh lý mà xét thì ngồi xếp bằng đem lại sự thoải mái cho tâm thần, kiểu ngồi thiền cải cách (Phật Bà Quan Âm thời xưa ngồi rút một chân chân kia bỏ thòng xuống, cho là tư thế sang trọng, nghiêm túc nhất)”. Ngó qua tưởng chừng lan man dây cà ra dây muống nhưng đọc kỹ thì lại có cái duyên riêng của người Nam bộ thứ thiệt.


Là “thổ công” của vùng đất Nam Bộ, nên khi đoàn làm phim Người tỉnh của Pháp sang quay phim ở Việt Nam, Sơn Nam được mời làm cố vấn cho đoàn. Chỉ khác một điều ông già trông lủ khủ như “lão nông miệt vườn” này, ngoài việc bày vẽ những chi tiết rành rẽ về nét sinh hoạt xưa như rước kiệu qua sông… lại có thể nói chuyện lưu loát với đạo diễn, diễn viên người Pháp bằng tiếng Pháp. Còn về văn xuôi, những cuốn sách gần đây của anh như Tuổi già lại là lời tâm sự của lớp người già đã trải qua nhiều dâu biển nói với lớp trẻ hôm nay: Phải trân trọng gia tài ông bà để lại. Sơn Nam trông người “cũ”, không biết đi xe đạp, nhưng lại có cái nhìn năng động của con người ở vùng đất mới.


 


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
Nghiệp thơ - Lê Đạt 15.05.2017
Franz Kafka: Nỗi lo âu mang tên ngoại biên - Lê Thanh Nga 12.05.2017
Chỉ nhà thơ “Bên thắng cuộc” mới có cách tân? - Lại Nguyên Ân 10.05.2017
Nhà thơ Việt Phương: Thơ làm chết người như bỡn... - Ý Nhi 06.05.2017
xem thêm »