tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21275170
Lý luận phê bình văn học
19.08.2009
Hoài Anh
Nguyễn Quang Sáng (tiếp theo và hết)

Sự phồn vinh của báo chí sách vở những năm 20 đầu thế kỷ 20 và sự rút ngắn chu kỳ xuất bản, khiến nhà văn rất khó lại duy trì việc bắt chước kể câu chuyện đối với người nghe. Một khi ý thức rõ rệt được phương thức truyền bá tiểu thuyết đã từ “nói-nghe” chuyển làm “viết-đọc”, thế thì giọng điệu của người nói thơ không phải là tất không thể thiếu nữa. Đồng thời với việc thủ tiêu những sáo ngữ nói thơ và quy tắc của tiểu thuyết chương hồi như “đoạn này kể chuyện”, “lời mào đầu”, “xin xem hồi sau phân giải”, “lại nói” v.v…, rất nhiều thí nghiệm cách tân văn học như sự đa dạng hóa của mô thức tự sự bao gồm kết cấu tự sự, thời gian tự sự, góc độ tự sự v.v… cũng dần dần xuất hiện. Đọc tiểu thuyết đương nhiên không giống với nghe nói thơ (hoặc bắt chước “nghe nói thơ”), không còn là dựa vào thính giác theo dõi tiếng nói chớp mắt là qua, mà là một mình đọc, thậm chí gập sách trầm tư. Đọc một lượt không hiểu có thể đọc hai lượt, thuận thứ tự đọc không được có thể đảo lại đọc hoặc đọc nhảy; không đơn thuần yêu cầu giải trí, mà còn yêu cầu cảm ngộ, gợi ý. Đúng là đọc tiểu thuyết so với nghe nói thơ thậm chí đọc truyện kể đều tỏ ra cô độc, nhưng chính thứ “cô độc” đó bức độc giả trực tiếp đối thoại với nhân vật trong sách và tìm câu trả lời.


Then chốt của sự chuyển biến thời gian tự sự của tiểu thuyết Việt nam là: Ở một, nhà văn ra sức biểu hiện tâm thái đặc thù của nhân vật trong hoàn cảnh nhất định, mà không phải là kể một câu chuyện éo le thú vị, càng tiến vào chỗ sâu của ý thức nhân vật, tự nhiên trình tự thời gian càng không thích ứng; hai, xoay vặn thời gian tiểu thuyết, không phải là tuân theo quan hệ nhân quả của bản thân câu chuyện, mà là ở: làm nổi bật cảm thụ chủ quan của nhà văn, mượn sự in chồng, đối tỉ của lớp cảnh thời, không không giống nhau để có một thứ hiệu quả nghệ thuật đặc thù. Then chốt của sự chuyển biến góc độ tự sự của tiểu thuyết Việt Nam là ở: một, hạn chế tầm nhìn của người kể chuyện, tránh khỏi nhân người kể chuyện việt vị kể tình huống mà anh ta có thể không biết mà phá hoại cảm giác chân thực của tiểu thuyết; hai, cố ý gián cách tác giả với người kể chuyện, để tạo thành hiệu quả phản phúng (châm biếm ngược lại) hoặc cung cấp một góc nhìn khác, lưu lại cho độc giả càng nhiều cơ hội nghiền ngẫm. Then chốt của sự chuyển biến kết cấu tự sự của tiểu thuyết Việt Nam là ở: một, sự chú trọng “ý hướng” của tiểu thuyết của nhà văn nhấn mạnh cá tính nghệ thuật và biểu hiện đời sống hàng ngày của người bình thường, quyết định xu hướng “phi tình tiết hóa” của tiểu thuyết; hai, khuynh hướng “tâm lý hóa”, “thi hóa” khiến nhà văn chú trọng cảm thụ, liên tưởng, mộng cảnh, huyễn cảnh cho tới tiềm thức của nhân vật, theo đuổi “tinh diệu”, “thi vị” và “ý cảnh” của tiểu thuyết. Mà tất cả những cái kể trên, đều là cái mà người nói thơ và nghe nói thơ đều tuyệt đối không có cách nào lý giải và tiếp thụ.


Sự chuyển biến mô thức tự sự của tiểu thuyết Việt Nam tiến hành dưới sự kích thích của tiểu thuyết phương Tây và sự chuyển dời vị trí từ đường biên của văn học hướng về trung tâm, thông qua sự chuyển biến về ý thức của nhà văn, sử dụng văn học làm công cụ nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ chứ không chỉ là công cụ giải trí. Phải thừa nhận thứ khuynh hướng “thi hóa”, “chữ viết hóa”, đồng thời với việc thúc đẩy sự chuyển biến mô thức tự sự của tiểu thuyết, trên trình độ nhất định tách rời hứng thú thẩm mỹ của quần chúng bình thường, nhân đó mà “tiểu thuyết phái cũ” trong thời gian rất dài vẫn có thị trường rất lớn. Lại thêm cảm giác trách nhiệm đối với biến đổi hiện thực xã hội, thúc đẩy nhà văn Việt Nam cứ mãi bồi hồi giữa ý thức giáo dục quần chúng và hứng thú nghệ thuật, muốn thực hiện nguyện vọng giáo dục thì không thể không thiên lệch về khẩu vị thưởng thức của quần chúng bình thường, mà muốn sáng tạo nghệ thuật cao siêu tiến cùng nhịp bước với trào lưu văn học thế giới lại không thể không tách rời quần chúng bình thường mức văn hóa còn thấp. Về phương thức truyền bá mà nói, theo đuổi giá trị nghệ thuật độc đáo của tiểu thuyết, tất nhiên đòi hỏi phát huy sở trường của tiểu thuyết, coi như là nghệ thuật ngôn ngữ nói với “người đọc cô độc” có tu dưỡng văn hóa nhất định, mà theo đuổi hiệu quả giáo dục, thì cần nhìn thẳng vào hiện trạng mức văn hóa của quần chúng nước ta chưa cao, sử dụng ngôn ngữ gần với “nói thơ”, “chuyện bác Ba Phi” và mô thức tự sự tương quan với nó là “câu chuyện kể”, để mở rộng diện độc giả.


Trong bài Nghĩ cho kỹ, viết cho nhanh (in trong tập Sổ tay truyện ngắn - Vương Trí Nhàn sưu tầm, biên soạn, dịch, NXB Tác phẩm mới). Nguyễn Quang Sáng nói: “Theo tôi quan niệm truyện ngắn phải có “chuyện” tức có thể kể lại cho người khác nghe được. Mà muốn kể câu chuyện phải chặt chẽ, hấp dẫn. Yêu cầu bố cục đặt ra từ đấy.


… Bố cục còn là chọn truyện, chọn “điểm rơi”, chọn tình thế mà chỉ cần nêu ra vài nét, người ta đã có thể liên tưởng rất nhiều.


Như trường hợp tôi viết Con chim vàng. Hồi ấy đang cải cách ruộng đất. Tôi đọc Cây mít của Nguyễn Công Hoan đăng trên báo Văn nghệ, thấy phục quá. Ông không nói chuyện to lớn, kiểu địa chủ đâm chém người, cướp vợ con gì hết. Ông chỉ kể một việc nho nhỏ mà mình thấy có ý nghĩa. Con chim vàng của tôi cũng là một trường hợp gợi cho người ta suy nghĩ thấm thía. Không phải tôi cố ý bắt chước Cây mít. Nhưng viết xong, thấy đúng là mình có học ở truyện đó thật. Với tôi thì cả Nguyễn Công Hoan lẫn Nam Cao đều là những người bố cục rất giỏi.


Các truyện của tôi đều viết rất chóng. Không truyện nào viết quá hai ngày. Và đã viết, không phải sửa chữa.


Đây là điều kiện khiến tôi vững tin lối viết: tôi đã nghĩ rất kỹ. Thậm chí, tôi đi kể cho nhiều người nghe. Nhìn nét mặt người ta không thấy một chút nào hào hứng, tôi không viết.


… Anh hỏi có bao giờ tôi thử làm những chuyện khác đi một chút, so với những gì vẫn viết. Làm sao khác mình được hở anh? Khác không nổi nhưng có lai rai thế này, tôi thấy tôi còn viết được. Các anh hẳn cũng thấy giữa con người tôi và văn tôi là nhất trí”.


Chúng ta thấy Nguyễn Quang Sáng vẫn vận dụng cách viết “câu chuyện kể” nhưng do con người anh chân thành và có khiếu khôi hài nên truyện của anh sáng sủa, gọn gàng, sinh động và có duyên. Ngay cả những truyện viết sau 1975 của anh cũng vẫn đầy kịch tính (Linh Đa nhìn anh cán bộ mới từ Hà Nội vào sau 1975, nhận ra anh có những nét giống với người yêu của mình là một đội viên đội biệt động đã hy sinh hồi Tết Mậu Thân năm 1968; cô Bảy Quyên trong Tên của đứa con có bầu với người chồng mà mọi người tưởng là đã chết nên bị nghi oan, định đặt tên cho con là Oan; cô gái thích soi gương không phải vì chăm chút nhan sắc của mình mà để xem mình có nét nào giống với ông nội là người Tàu hay không; anh bộ đội trong Chuyện nhỏ đất Củ Chi lầm Hà với một cô gái Củ Chi mà anh gặp hồi Mậu Thân 1968 (Hà ở trong ngôi nhà cũ của cô…) chứng tỏ Nguyễn Quang Sáng vẫn thích kể những câu chuyện éo le ly kỳ.


Đọc Mùa gió chướng, nhà thơ Hoàng Trung Thông nhận xét: “Chúng ta thấy Nguyễn Quang Sáng kể chuyện, dẫn chuyện giỏi hơn dựng chuyện, thể hiện nhân vật trong hành động giỏi hơn đi sâu vào nội tâm, miêu tả sinh hoạt hay hơn miêu tả chiến đấu. Một đặc điểm nữa là Nguyễn Quang Sáng đã sử dụng ngôn ngữ địa phương vào trong tác phẩm của mình một cách nhuần nhuyễn. Tiếng địa phương dùng trong cuốn tiểu thuyết này không phải là ít đâu nhưng mà chúng được dùng đắc địa. Chúng ta đọc đến những tiếng địa phương này có thể hiểu được và không thấy chỏi vì trong câu dùng tiếng địa phương mỗi nhân vật lại có cách nói riêng của mình một cách nhuần nhuyễn”.


Giáo sư Hoàng Như Mai trong bài Nguyễn Quang Sáng nhà văn của B2 lại nhận xét: “Chỗ đặc sắc nhất của Nguyễn Quang Sáng là tính cách nhân vật”.


… dễ gì mà quên được một nhân vật như ông Năm Hạng. Lồng ngực ông căng thẳng lên và phập phồng. Ông không nói nữa mà quát lên: -“Nó đi làm Việt gian à?.. thì để cho cha nó, cha nó sẽ xử nó!”. Nói xong ông chồm về phía tôi, đưa bàn tay nắm lấy chòm lông ngực,run run. Hai hàm răng ông nghiến chặt, hai góc xương hàm nổi phồng lên và mắt long lên như đang cố hết sức để vứt ra một cái gì rất đau khổ và khó khăn. Ông nhìn tôi một lúc rồi bỗng cười gằn một tiếng, đưa mấy ngón tay mở thêm cúc, và kéo xệ một manh áo. Ông nghiêng người tràn tới và cong năm ngón tay vỗ vào ngực: “Cháu nên nhớ, bác là Trần Văn Hạng, du kích xã Trường Long, năm nay đã năm mươi tuổi rồi, đầu đội trời chân đạp đất, con người Nam Bộ cương trực “Kiến ngã bất vi vô dõng giã - lâm nguy bất cứu mạc anh hùng”. Nguyễn Quang Sáng sáng tác nhiều kiểu, nhiều dáng vẻ, mà với kiểu nào cái dấu tay của anh cũng rất rõ.


… Đọc Nguyễn Quang Sáng, tôi nhiều lúc không ngăn được mình tự hỏi mình. Làm sao cũng một lúc Nguyễn Quang Sáng xây dựng được những nhân vật buồn bã, khắc khổ thì thật là lầm lì khắc khổ mà nghịch ngợm tươi mát thì cũng thật nghịch ngợm tươi mát?” (ý ông muốn nói đến những nhân vật như trong truyện Chị xã đội trưởng).


Đọc Bàn thờ tổ của một cô đào, giáo sư Hoàng Như Mai viết:


Cặp nhân vật Vân Tiên - Nguyệt Nga trong truyện ngắn Bàn thờ Tổ của một cô đào là Châu và Thanh Sa- Thanh Sa là một cô đào cải lương. Vai tuồng của cô là một nàng tiên vì khao khát đời sống trần gian nên được Phật Bà cho xuống hạ giới một năm (!). Hết hạn một năm cô tiên bay về trời. Bay trên sân khấu chẳng phải là cái gì khó khăn. “Tuồng bay” đã một độ tha hồ hốt bạc. Khốn nỗi anh chàng kéo sợi dây để tiên bay không đủ sức, dù anh đã buộc thêm cả một cục đá ở đầu dây cho thêm sức nặng. Hay nhất là lớp tiên bay mà tiên không bay lên được thì thất bại to. Tệ hơn là vì bay lên lại nhào xuống thì vừa khôi hài, vừa nguy hiểm. Thanh Sa lo quá. May thay “lâm nguy mà được giải nguy” Châu xuất hiện và động lòng nghĩa khí. Anh chỉ chồm phóng lên chụp sợi dây và sức nặng của thân hình rắn chắc của anh kéo Thanh Sa ở đầu kia sợi dây bay vút lên trời thật ngoạn mục. Cô đào thành công rực rỡ. Thế nhưng một lần sợi dây bay vì dùng quá nhiều, bị ải và đứt, Châu ngã đập đầu vào tảng đá chết. Từ đó Thanh Sa lập bàn thờ Châu bên cạnh bàn thờ Ông Tổ chung của các đoàn hát. Thanh Sa thờ Châu như Nguyệt Nga thờ Vân Tiên vậy. Câu chuyện kết thúc với một nỗi buồn man mác. Khi Châu đã tắt thở, đôi mắt anh vẫn mở như muốn nói một lần nữa với Thanh Sa câu anh đã từng nói cổ vũ cô đào: “Tôi sẵn sàng hạ xuống để Thanh Sa bay lên”. Và tác giả bình luận thêm: chúng ta dù lớn dù nhỏ nhưng ai là người đang có một sự nghiệp nhất định, chắc rằng trong mỗi chúng ta đều có một người nào đó đã “hạ xuống cho ta bay lên”. Câu nói nhắn gởi rất nhiều.


Tôi thấy cái kết thúc ấy đậm chất Nam Bộ vì hai lẽ: một là, nó nhắc nhở sự ơn nghĩa trung hậu mà đồng bào Nam Bộ rất chuộng. Vô ơn bạc nghĩa là điều gì đồng bào Nam Bộ khinh ghét nhất.


Đọc một truyện ngắn gần đây nhất của Nguyễn Quang Sáng - Vinh râu - nhà văn Tô Hoài nhận xét: “Lần này đọc của Sáng, tôi thấy đã thuần lắm của cốt cách văn phong một trung tâm - miền Nam là một trung tâm, mà trong văn không có cái nhàn nhạt chữ nghĩa dùng cho miền nào cũng được”. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết: “Người ta đã nói và nhắc lại nhiều lần trên sách báo: Văn là người. Trường hợp này rơi đúng vào đời-văn - đời-người của Nguyễn Quang Sáng. Mặc dù phải xa đến mấy mươi năm dòng sông Cửu Long mạnh khỏe đỏ rực phù sa, nhưng trong văn chương anh vẫn là văn chương của kẻ tha thẩn trên những dòng sông Nam Bộ. Nếu tôi không nhầm lẫn quá thì hình như địa lý của mỗi miền thường ảnh hưởng thâm chí quy định độ bền, chiều sâu, độ dài của tác phẩm mỗi con người viết Văn học miền Nam, theo tôi ít người viết truyện ngắn. Chín con rồng đầy đủ phù sa như thế làm sao mà thu gọn súc tích trong vài trang giấy cho được. Nguyễn Quang Sáng là kẻ muốn đánh lạc mình ra ngoài địa lý và ở ngoài không gian quy định để làm người kể chuyện mộc mạc và tinh tế những chuyện mình và chuyện đời như một quà tặng gọn ghẽ muốn chuyển đến cho mọi người một cách thầm lặng”.


Đúng như vậy. Những truyện viết từ 1980 trở đi, Nguyễn Quang Sáng đã nới lỏng bố cục ra một chút cho câu chuyện được tự nhiên hơn, và cố gắng gắn ý nghĩa triết lý vào trong mỗi truyện. Những truyện như: Thế võ, Tôi thích làm vua, Nhi đồng cụ, Nhân vật ấy không được chết, Cây gậy ba số, Thua trận, Con khướu sổ lồng, Con mèo của Fojita, Dân chơi… mỗi truyện đều chứa đựng một bài học đạo lý về lẽ sống ở đời, khiến người đọc thấm thía dư vị của nó và gợi lên những suy nghĩ sâu xa.


Tôi thích làm vua kể chuyện nhân vật Tôi gọi thầy tuồng một gánh hát ở trên một cù lao giữa sông Tiền là chú, được chú giao cho đóng vai trong một vở tuồng có sáu vai gồm toàn trẻ con đóng. Tôi muốn đóng vai vua, nhưng chú lại giao vai đó cho thằng Đực. Khi Tôi phản ứng lại: “- Thằng Đực là thằng ngu! Nó làm vua sao được” - Chú niểng mặt, đưa tay vỗ nhẹ nhẹ lên đầu Tôi: - Chính vì vậy nó mới làm vua. Chú hỏi con sao con thích làm vua.


Tôi muốn làm vua vì: trước nhất là mặc áo con rồng, được đội mão vàng, được ngồi trên cao, ghế ngồi gọi là ngai vàng, bàn tay có một cục gì đó, chắc là nặng lắm, mỗi lần đập xuống bàn thờ rung rinh cả thiên hạ, nhứt hô bá ứng, muốn xử ai thì xử, muốn gì được nấy, muốn ái khanh thì có ái khanh, muốn rượu thì có quân hầu. Tôi nghĩ nhiều nhưng chỉ nói: - Tại con thích!


- Để chú giảng giải cho con nghe nhá.


Chú nói, nếu đóng vai nịnh thì phải hết sức luồn lọt, phải hết lời ong tiếng ve để làm xiêu lòng bề trên, để đổi trắng thay đen, để được vinh thân phì gia, làm được vậy đâu có dễ, thằng Đực không sao làm được. Nếu đóng vai trung thì phải trung thực, dám nói thẳng với vua lời ngay lẽ phải, cuộc đời phải chịu nỗi oan, làm cho người ta thương người ta khóc, thằng Đực không kham nổi. Làm cho người ta khóc đã khó làm cho người ta cười lại càng khó hơn. Làm cho người ta cười để người ta quên đi cuộc đời cơ cực, dù là giây phút cũng có ý nghĩa cho đời. Thằng Đực nó ngồi đực ra đó, ai cười nổi. Còn vai quân, cái vai coi là hạng chót cũng không phải dễ. Làm quân phải hết quỳ hết bẩm, hết ca, thằng Đực làm được gì?


Còn làm vua chỉ việc ngồi sẵn đó, màn kéo ra đã thấy mặt nó rồi. Nó chỉ có việc vuốt râu, cầm cái ấn gõ xuống bàn, “quân bay” với “ái khanh” vậy là vừa với cái sức của thằng Đực phải không?”.


Thế võ kể chuyện anh Tư Sang đã thắng võ sỹ Xiêm Nâu người từng từ hạ võ sỹ Sáu Cường đến Võ Bá Tòng vô địch miền Tây, nên nhân vật Tôi đến xin anh dạy võ cho. Từ đó anh thành thần tượng của Tôi.


“Vào một chiều anh lùa vịt về, vừa bước vô chòi, chưa kịp thổi cơm, đang trò chuyện với tôi thì một ông không già lắm nhưng để râu ba chòm, mặc bà ba lụa, đội mũ trắng bước vào. Tôi thấy anh cúi đầu khúm núm chắp hai tay:


- Thưa cậu!


Ông râu ba chòm không chào lại mà đưa tay chỉ vào mặt anh:


- Tao nói với mày lần này là lần thứ mấy - Hả? Hả? - Ông hét lên, chẳng hiểu nội lực của ông ta thâm hậu đến cỡ nào mà anh Tư Sang tôi tái mặt.


- Dạ, dạ…


- Không có dạ thưa gì hết! Lần này là lần cuối, nếu còn nữa tao sẽ cho mày rục xương


- Dạ, dạ xin cậu tha cho lần chót.


- Hừm….


Ông già râu ba chòm quay đít ra về. Tôi nhìn lại thần tượng tôi mà ngơ ngác. Tôi nghĩ, chỉ cần một cú đá, ông già râu ba chòm sẽ văng ra cửa. Vậy mà sao anh lại sợ.


- Ông già đó chắc có nhiều thế võ lắm hả anh, anh Tư?


Thần tượng của tôi ủ rũ lắc đầu gượng cười buồn rầu. Anh nói anh là người xứ lạ không có đất dung thân xiêu bạt về đây, làm nghề chăn vịt nuôi thân. Còn ông râu ba chòm đó là em của ông Cai Tổng. Nghe đâu ông ta sẽ làm hương cả? Nhà ông ta nhiều đất. Anh đã lỡ để bầy vịt của anh ăn lúa nhà ông. Không cần phải đá mà chỉ đụng đến lông chân của ông, anh cũng bị tù rục xương.


Và anh kết luận: Thế võ không bằng cái thế ở đời”.


 


Thế là cuối cùng Nguyễn Quang Sáng lại chọn loại truyện phúng dụ, nhưng truyện phúng dụ của anh không nhằm mục đích châm biếm đả kích một hiện tượng xã hội cụ thể, mà gần với những truyện ngụ ngôn chứa đạo lý ở đời gần với ngụ ngôn Esope, La Fontaine, Krưlốp và những truyện trong Cổ học tinh hoa Nhật. Con mèo của Foujta tả một anh chàng ranh mãnh đã biết cách lùng được bức tranh con mèo của họa sĩ Foujta trong cuộc triển lãm ở Sài gòn năm 1944, để bán được giá cao đến chóng mặt nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Foujta, và đã nhận ra chân lý: “đồ chơi bán đắt tiền hơn đồ thật”.


Đến truyện Con khướu sổ lồng kể chuyện: “Con khướu nhà tôi chỉ biết hót chứ không biết nói. Bởi vì những con chim biết nói đều nói vô nghĩa, nó chỉ biết nhại lại từ ngữ của người chứ không nói được tiếng nói con người.


Con khướu nhà tôi lại có một biệt tài. Mỗi lần tiếng đàn piano từ dưới nhà vang lên thì nó xòe cánh nó múa, nó hót hòa theo. Lúc đó cả nhà đều chạy lên vờn, vây quanh nó”.


Con khướu đã từng sổ lồng bay đi rồi lại quay về vì nhớ những lọ đựng cào cào, châu chấu và nhất là lọ mứt đường mà nó đã ghiền như người ta ghiền rượu, ghiền bia… Và nó trở về lồng lại hót.


Một lần khác con khướu lại sổ lồng, nhưng đến lúc nó trở về sắp lao xuống chiếc lồng thì nghe thấy tiếng hót của một con chim trời. “Tiếng hót của con chim lạ tôi nghe thánh thót hơn và cũng dịu dàng hơn, chắc là con chim mái.


Rồi từ xa hai con vụt bay đến nhau, khi vừa đến bên nhau thì chúng dựng cánh cùng vút thẳng lên trời…


Chiều hôm sau thằng con lớn của tôi lại treo cái lồng ra ngoài trời, đợi con khướu. Nhưng con khướu không về trên vòm lá. Thằng con tôi kiên nhẫn, chiều hôm sau lại mang cái lồng ra.


Tôi bảo:


- Thôi dẹp đi. Nó không về nữa đâu.


- Sao vậy ba? - Thằng út tôi hỏi.


- Thôi dẹp đi, ba biết nó không về. Tôi nghĩ mà không nói. Lần này nó có đôi cánh của tình yêu, đôi cánh của tình yêu đã đưa nó về với cảnh thênh thang của đất trời. Và nó là chim. Chim thì phải bay. Chim bay.


Đầu đời sáng tác. Con chim vàng, Nguyễn Quang Sáng đã huyền thoại hóa cuộc đời nhằm mục đích phục vụ yêu cầu chính trị kịp thời thì đến cuối đời với Con khướu sổ lồng anh lại cuộc đời hóa huyền thoại nhằm mục tiêu đạo lý và nhân bản lâu dài hơn. Nhưng trước sau vẫn là cái Tâm của con người “chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” của anh đã kế tục được truyền thống của Nguyễn Đình Chiểu đến Hồ Biểu Chánh, để trở thành một “bác Ba Phi” không dùng miệng kể mà dùng bút kể chuyện đời thường của vùng đất Nam Bộ.


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Thành phố lên đèn”, niềm thơ thắp sáng trong đêm - Nguyễn Đình Phúc 11.12.2017
Sao lại nói chữ quốc ngữ Việt Nam "rất nực cười"? - Nguyễn Hải Hoành 11.12.2017
Đọc lại bản dịch nổi tiếng Chinh Phụ Ngâm - Vương Trọng 03.12.2017
Thế giới “con rối” trong thơ Nguyễn Đức Tùng - Mai Văn Phấn 25.11.2017
Nguyễn Quang Thiều với "Câu hỏi trước dòng sông" - Tâm Anh 25.11.2017
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
xem thêm »