tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21260957
Những bài báo
18.08.2009
Tư liệu
Vương Chiêu Quân & Triệu Phi Yến

Vương Chiêu Quân (chữ Hán: 昭君, bính âm: zhào jun) là một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc. Với sắc đẹp được ví là "lạc nhạn" (làm cho chim sa), câu chuyện về nàng trở thành một đề tài sáng tác phổ biển của thi ca, nghệ thuật. Chiêu Quân đi vào lịch sử Trung Quốc như một người đẹp hòa bình. Sự quên mình của nàng góp phần mang lại hòa bình trong 60 năm giữa Trung HoaHung Nô.


Tiểu sử


Chiêu Quân tên là Vương Tường (王牆), nên cũng được gọi là Vương Chiêu Quân (王昭君). Nàng là con gái của một gia đình thường dân ở Tỉ Quy (秭归), Nam Quận (南郡), nay là huyện Hưng Sơn, tỉnh Hồ Bắc. Được tuyển vào nội cung vào khoảng sau năm 40 TCN, đời vua Hán Nguyên Đế (49 TCN-33 TCN). Trong thời gian ở hậu cung, Chiêu Quân chưa bao giờ được gặp mặt vua và vẫn chỉ là một cung nữ (宮女). Năm 33 TCN, thiền vu Hung NôHô Hàn Tà (呼韓邪) đến Trường An để tỏ lòng thần phục nhà Hán, một phần trong hệ thống triều cống giữa nhà Hán và Hung Nô. Ông này nắm lấy cơ hội để đề nghị được trở thành con rể của vua Nguyên Đế. Thay vì gả cưới một công chúa cho thiền vu thì Hô Hàn Tà đã được ban cho 5 cung nữ từ hậu cung, một trong số này là


Vương Chiêu Quân.


Theo một câu chuyện trong Hậu Hán Thư (quyển 89, Nam Hung Nô liệt truyện) thì Vương Chiêu Quân đã tình nguyện theo thiền vu này. Khi được vời đến triều đình thì vẻ đẹp của Chiêu Quân đã làm cho Nguyên Đế sững sờ và muốn thay đổi quyết định của chính mình.


Chiêu Quân trở thành người vợ được yêu quý của Hô Hàn Tà, được phong là Ninh Hồ Yên Chi (宁胡阏氏). Họ sinh được hai người con trai, chỉ một trong số đó sống sót với tên gọi là Y Chư Trí Nha Sư (伊屠智牙師) và một người con gái, tên là Vân (), sau này là một nhân vật đầy quyền lực trong hệ thống chính trị của Hung Nô. Năm 31 TCN, Hô Hàn Tà chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng Hán Thành Đế đã buộc nàng phải theo tập quán nối dây của người Hung Nô và Chiêu Quân trở thành vợ của thiền vu tiếp theo là Phục Chu Luy Nhược Đề (復株累若鞮)- con trai lớn của Hô Hàn Tà. Trong cuộc hôn nhân mới này nàng có hai người con gái. Sau khi chết, Chiêu Quân được táng tại Thanh Trủng, mộ hiện nay vẫn còn tại phía nam thành Hô Hòa Hạo Đặc, Nội Mông Cổ.


Hòa bình giữa nhà Hán và Hung Nô đã được kéo dài trên 60 năm, tuy nhiên, sau này người ta đã không còn biết gì về các hậu duệ của Chiêu Quân.


Kể từ thế kỷ 3 trở đi thì câu chuyện về Chiêu Quân đã được phóng tác như là hình tượng của một nhân vật nữ đầy bi thương trong nhiều tác phẩm thơ ca, kịch, chẳng hạn như của Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương An Thạch, Quách Mậu Thiến, Mã Trí Viễn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Tiễn Bá Tán, v.v.


Chiêu Quân Cống Hồ


Câu chuyện về Chiêu Quân được gọi Chiêu Quân Cống Hồ trở thành một điển tích. Tồn tại nhiều dị bản, trong đó có nhiều chi tiết còn mâu thuẫn. Nổi tiếng hơn cả là bản kể theo những tài tiệu của nhà sử học Ngô Quân (469-520).


Vì số cung phi trong hậu cung của vua Nguyên Đế quá đông, nên nhà vua ra lệnh cho các họa sĩ phải vẽ hình các cung phi để nhà vua chọn. Các cung phi thường lo lót tiền cho họa sĩ để được vẽ cho đẹp, mong vua để ý tới. Chiêu Quân từ chối đút lót cho họa sĩ là Mao Diên Thọ, hậu quả bức chân dung nàng thật xấu xí nên nàng không được Hán Nguyên Đế để mắt tới.


Một hôm hoàng hậu tình cờ biết tới Chiêu Quân qua tiếng đàn lâm ly ai oán của nàng. Bà đưa Chiêu Quân tới gặp Hán Nguyên Đế. Hán Nguyên Đế ngỡ ngàng vì sắc đẹp của nàng, phong Chiêu Quân làm Tây phi. Mao Diên Thọ bị khiển trách nặng nề.


Thời bấy giờ Hung Nô là nước lân bang thường xuyên mang quân sang quấy nhiễu. Mao Diên Thọ bị Hán Nguyên Đế quở trách, đem lòng oán hận Chiêu Quân, lấy chân dung Chiêu Quân nạp cho thiền vu (vua) Hung Nô là Hô Hàn Tà (呼韓邪). Vua Hung Nô say đắm sắc đẹp của nàng, cất quân sang đánh, buộc Hán Nguyên Đế phải cống nạp Chiêu Quân thì mới bãi binh. Hán Nguyên Đế đành phải đem Chiêu Quân sang cho Hung Nô. Điểm này không khớp với lịch sử Hung Nô, do từ thời Hô Hàn Tà thì các thiền vu đã chịu nộp cống phẩm cho nhà Hán.


Truyền thuyết "Chiêu quân xuất tái" (昭君出塞, "Đi đến biên cương") nói rằng, khi Chiêu Quân đi ngang một hoang mạc lớn, lòng nàng chan chứa nỗi buồn vận mệnh cũng như lìa xa quê hương. Nhân lúc ngồi lưng ngựa buồn u uất, liền đàn "Xuất tái khúc". Có một con ngỗng trời bay ngang, nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu liền ruột gan đứt đoạn và sa xuống đất. Từ "lạc nhạn" trong câu "Trầm ngư lạc nhạn" do đó mà có.


Khi qua Nhạn Môn Quan, cửa ải cuối cùng, Chiêu Quân được cho là đã cảm tác nhiều bài thơ rất cảm động. Tiếng đàn của Chiêu Quân ở Nhạn Môn Quan trở thành điển tích Hồ Cầm.


Ngôi làng quê hương của nàng ngày nay mang tên là làng Chiêu Quân. Dòng suối, nơi tương truyền nàng từng ra giặt vải trước khi được tuyển vào hoàng cung, được đặt tên là Hương Khê (suối thơm) để tưởng nhớ nàng. Trong miền Nội Mông Cổ có hai địa điểm được cho là mộ của Chiêu Quân, một gần Hohhot và một gần Bao Đầu, cả hai đều xanh ngắt cỏ tươi, nên đều được gọi là Thanh Trủng (mồ xanh).


Những chi tiết còn mâu thuẫn


Khi vẽ Chiêu Quân, có thuyết cho rằng Mao Diên Thọ đã vẽ thêm một nốt ruồi dưới khóe mắt và tâu với Hán Nguyên Đế đó là "Sát phu trích lệ", tướng sát chồng. Vì vậy Hán Nguyên Đế không cho vời nàng tới tận khi Chiêu Quân bị cống sang Hung Nô. Một thuyết khác thì Chiêu Quân tài hoa tự vẽ chân dung của mình, nhưng bức tranh đó bị Mao Diện Thọ điểm thêm nốt ruồi "Sát phu trích lệ".


Nhà văn nổi tiếng Thái Ung (132-192) cho rằng vua Nguyên Đế đã từng gặp Chiêu Quân, nhưng không biết cảm nhận vẻ đẹp của nàng. Chiêu Quân vô cùng thất vọng và đau khổ sau nhiều năm sống cô độc trong cung cấm. Từ đó, Thái Ung kết luận rằng quyết định sang Hung Nô của Chiêu Quân là một hành động phản kháng lại vua Nguyên Đế.


Về cái chết của Chiêu Quân cũng có nhiều giả thuyết.


Đến Nhạn Môn Quan, Chiêu Quân gieo mình xuống sông tự vẫn.


Chiêu Quân đến đất Hồ, nàng yêu cầu vua Hồ giết chết gian thần Mao Diên Thọ, rồi sau đó nàng tìm cách tự tử, nhảy xuống sông để xác nàng theo dòng trôi trở về đất Trung Nguyên.


Một thuyết khác cho rằng Chiêu Quân đã sống một thời gian dài bên Hung Nô.


Chiêu Quân trong thi ca, nghệ thuật


Thi ca


Những tác phẩm thơ ca viết về Chiêu Quân xuất hiện vào khoảng từ đầu thế kỷ 7 đến cuối thế kỷ 13, thường dựa trên những dị bản của Ngô Quân. Đa số đều nói về sự ra đi cùng nỗi oán hận của nàng. Chiêu Quân thường xuất hiện với một vẻ đẹp u buồn, choàng khăn đỏ, mặc áo lông, ôm đàn tỳ bà, cùng với một con bạch mã.


Nhà thơ Lý Bạch viết hai bài thơ về Chiêu Quân


Vương Chiêu Quân 1


 


Hán gia Tần địa nguyệt,


Lưu ảnh chiếu Minh Phi.


Nhất thướng Ngọc Quan đạo,


Thiên nhai khứ bất quy.


Hán nguyệt hoàn tòng Đông hải xuất,


Minh Phi tây giá vô lai nhật.


Yên Chi trường hàn tuyết tác hoa,


Nga my tiều tụy một Hồ sa.


Sinh phạp hoàng kim uổng đồ họa,


Tử lưu thanh trủng sử nhân ta.


 


Trúc Khê dịch:


 


Xứ Tần trăng sáng tỏ,


Dõi bóng chiếu Minh Phi.


Một lên đường ải Ngọc,


Bên trời biền biệt đi.


Trăng Hán vẫn mọc ngoài Đông Hải,


Minh Phi sang Hồ không trở lại.


Lạnh lùng hoa tuyết núi Yên Chi,


Cát bụi bay mù ngập thúy mi.


Sống thiếu cân vàng tranh vẽ nhọ,


Chết phơi nấm đất cỏ xanh rì.


 


 


Vương Chiêu Quân 2


Chiêu Quân phất ngọc an


Thướng mã đề hồng giáp


Kim nhật Hán cung nhân


Minh triêu Hồ địa thiếp.


 


Đỗ Phủ cũng để lại những bình phẩm sâu sắc qua bài Vịnh hoài cổ tích


 


Nghìn non vạn suối tới Kinh Môn


Quê quán Minh Phi vẫn hãy còn


Đài tía bước ra nơi sóc mạc


Nấm mồ gửi lại bóng hoàng hôn


Vẻ xuân tranh cổ phôi pha nét


Gót ngọc đêm trăng phảng phất hồn


Đàn phổ tiếng Hồ muôn thuở đó


Tỳ bà oán hận mạch sầu tuôn.


 


Nhà cải cách Vương An Thạch đã viết hai bài thơ về Chiêu Quân, đưa ra những cách nhìn nhận khá độc đáo. Một trong hai bài đó:


Từ ấy nàng xa chốn Hán cung


Tóc mai gió thổi lệ xuân nồng


Dung nhan nhìn lại bơ phờ quá


Thiên tử muôn trùng luống khổ tâm!


Oán trách nhầm tay họa sĩ hèn


Sắc đẹp xưa nay chẳng thấy quen


Thần thái trời sinh ai vẽ nổi?


Mao Diên Thọ chết vẫn còn oan.


Một đi đi mãi, đáng thương thay!


Áo Hán cung xưa vẫn mặc dày


Phương nam thư gửi về quan ải


Chỉ thấy năm dài cánh nhạn bay.


Người nhà muôn dặm nhắn tin cùng


Ở lại chiên thành chớ ngóng trông


A Kiều khóa chặt Trường Môn đó


Nam bắc nào ai được thỏa lòng?


 


Một vài bài thơ khác:


Chiêu Quân Từ của Bạch Cư Dị


 


Hán sứ khướt hồi bằng ký ngữ


Hoàng kim hà nhật thục nga my


Quân vương nhược vấn thiếp nhan sắc


Mạc đạo bất như cung lý thì


Vương Chiêu Quân của Thôi Quốc Phụ


 


Nhất hồi vọng nguyệt nhất hồi bi


Vọng nguyệt nguyệt di nhân bất di


Hà thì đắc kiến Hán triều sứ


Vị thiếp truyền thư trảm họa sư.


 


Chiêu Quân của Quang Dũng


 


Tuyết lạnh che mờ trời Hán Quốc


Tỳ bà lanh lảnh buốt cung Thương


Tang tình năm ngón sầu dâng lệ


Chiêu Quân sang Hồ xừ hồ xang


Đây Nhạn Môn Quan đường ải vắng


Trường Thành xa lắm Hán Vương ơi!


Chiêu Quân che khép mền chiên bạch


Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi


Ngó lại xanh xanh triều Hán Đế


Từng hàng châu lệ thấm chiên nhung


Quân vương chắc cũng say và khóc


Ái khanh! Ái khanh! Lời nghẹn ngùng


Hồ xang hồ xang xự hồ xang


Chiêu Quân nàng ơi lệ dâng hàng


Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống


Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang.


 


Sân khấu


Từ thế kỷ 13 đã xuất hiện nhiều tác phẩm kịch nghệ về Chiêu Quân. Kịch tác gia nổi tiếng Mã Trí Viễn (1252-1321) dẫn đầu với vở kịch Hán Cung Thu, tập trung vào chủ đề bảo vệ đất nước. Khi người Hung Nô đe dọa biên cương nhà Hán, triều đình, đứng đầu là vua Nguyên Đế, không tìm được một phương sách hiệu quả nào. Chiêu Quân được miêu tả như một người phụ nữ thông minh tuyệt đỉnh, luôn hết lòng vì hòa bình và sự bảo tồn giang sơn nhà Hán. Nàng hoàn toàn tương phản với vị hoàng đế kém cỏi và hèn nhát, viên thừa tướng thối nát bất tài, và tên thợ vẽ tư lợi Mao Diên Thọ. Tiếc thay, vở kịch có chỗ còn chưa đạt. Hai phần ba nội dung của kịch được dành để nói về chuyện tình giữa hoàng đế và người cung phi, làm giảm đi hình ảnh anh hùng của Chiêu Quân.


 


Vào thời hiện đại, học giả Quách Mạt Nhược (1892-1978) đã sáng tác một vở kịch mang tên Vương Chiêu Quân, miêu tả bi kịch của Chiêu Quân như là hậu quả của mâu thuẫn giữa tinh thần dũng cảm và khao khát tự do của nàng và những âm mưu đen tối của Nguyên Đế và Mao Diên Thọ.


 


Triệu Phi Yến


(趙飛燕, 32TCN-1TCN) tên thật là Triệu Nghi Chủ (趙宜主) (do có tài múa rất hay, điệu múa nhẹ nhàng uyển chuyển như bay như lượn tựa chim yến nên gọi là Phi Yến), là một trong hai đại mỹ nhân của triều đại nhà Hán bên cạnh người đẹp Vương Chiêu Quân. Nàng là người có liên quan đến một giả thuyết về xuất xứ của tục bó chân.


Cuộc đời


Dưới đời Hán Thành Đế nhà Hán, Triệu Phi Yến được phát hiện ra trong một dịp vua do muốn tìm mỹ nhân trong thiên hạ, tình cờ ngự giá sang phủ của công chúa Dương A. Vua sửng sốt trước vẻ đẹp kiều diễm của bà vì lúc ấy Phi Yến chỉ vừa mười tám tuổi, giọng nói thánh thót nhẹ nhàng khiến vua say đắm.


Mỹ nhân gây sóng gió nơi hậu cung


Trái ngược với đại mỹ nhân Vương Chiêu Quân là một cô gái hy sinh vì nước để giữ gìn sự trinh trắng của mình, Phi Yến trước khi về với Hán Thành Đế đã từng là một người phụ nữ lẳng lơ, sau này người ta cho rằng do bà nhiều lần ăn nằm với tình lang của mình rồi mới về với vua, nên trong đêm ân ái đầu tiên với Hán Thành Đế, Triệu Phi Yến đã dùng thủ đoạn "lạc hồng" tức là để nhiều dấu máu tươi trên gối khiến vua ngỡ Phi Yến còn giữ được "ngọc tiết" nên càng sủng ái hơn (thật ra đó chỉ là một loại nước màu đỏ giống như máu). Triệu Phi Yến nhanh chóng chiếm được chiếc ghế quyền lực Hoàng Hậu không lâu sau đó.


Người em gái Triệu Hợp Đức


Phi Yến do được Dương A công chúa đưa vào cung với mục đích lấy lòng vua - củng cố địa vị của mình. Nhưng qua một thời gian chung sống với vua không có con nên bà đã cùng với Dương A tìm cách đưa em gái Phi Yến là Hợp Đức vào cung tiến vua, hy vọng Hợp Đức sẽ mang long thai và Phi Yến nhanh chóng có được quyền lực.


Những việc làm độc ác


Hậu cung dưới đời vua Hán Thành Đế từ khi có mặt của chị em họ Triệu thì trở nên rối ren, sóng gió, tranh giành đẫm máu. Triệu Phi Yến đơn thuần chỉ là một cô gái đẹp, muốn lấy lòng vua và ham mê quyền lực trong khi người em gái Triệu Hợp Đức về nhan sắc không hề thua chị, nhưng cực kỳ mưu mô và độc ác. Hai chị em họ đã:


Tìm mọi cách thuyết phục vua để thăng chức cho Phi Yến làm Triệu Chiêu Nghi, còn Hợp Đức làm Triệu Tiệp Dư.


Thừa lúc Hứa Hoàng Hậu bí mật cúng vái để đổ tội cho Hoàng Hậu dùng tà thuật hại vua và kết quả là Hoàng Hậu bị phế ngôi, giam lỏng ở lãnh cung.


Giở trò hù dọa khiến Ban Tiệp Dư, cũng là một tuyệt sắc mỹ nhân trong cung, sợ bị hại như Hoàng Hậu nên phải trốn đi.


Khi đã lên ngôi hoàng hậu, Phi Yến nghe lời Hợp Đức giết hại luôn một mỹ nhân họ Tào đang mang long thai và giết luôn số cung nữ hầu cận mỹ nhân đó.


Sự việc sau cùng mà Hán Thành Đế phát hiện ra thủ đoạn xấu xa của chị em Phi Yến nhưng cũng đã muộn, khi ông lén lút chăn gối với một mỹ nhân khác mang họ Hứa và hạ sinh một hoàng tử trắng trẻo, tuy nhiên do Hợp Đức nài nỉ quá nên vua đã mang thái tử cho Hợp Đức ẵm rồi hoàng tử nhỏ chết ngay sau khi hồi cung. Người ta cho rằng Hợp Đức đã tẩm độc trong đầu ngón tay và cho hoàng tử bú mút ngón tay ấy.


Hán Thành Đế bản tính nhu nhược, không dám trị tội hai chị em mỹ nhân mà chỉ tìm cách đề phòng để rồi sau đó lâm bệnh và qua đời.


Chị em Triệu Phi Yến không còn chỗ đứng, thế lực của Vương Mãn, Vương Thái Hậu ngày càng mạnh. Nếu như Vương Mãn trước kia từng thừa dịp Phi Yến - Hợp Đức tác oai tác quái trong hậu cung khiến cho nhà Hán ngày càng suy yếu thì nay đến lúc ra tay trừ khử hai vị mỹ nhân gieo tai họa này. Trước tiên Triệu Hợp Đức bị Vương Thái Hậu phanh phui nhiều tội trạng như hại hoàng hậu, giết hại người vô tội, giết tiểu hoàng tử. Hợp Đức bị giam lỏng ở lãnh cung một thời gian rồi tự vẫn. Triệu Phi Yến sau đó cũng bị bức phải tự sát như em gái mình.


Nguồn: wikipedia


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn hóa Ẩm thực: Phở Việt - Kỳ 3: Phở 'hành phương Nam' - Tư liệu 10.12.2017
Boris Pasternak Giải Nobel về văn học năm 1958 - Thân Trọng Sơn 09.12.2017
Bộ Tư lệnh Vùng 5 Hải quân - Tư liệu sưu tầm 02.12.2017
Pilates là gì? Lịch sử môn thể thao thời thượng Pilates - Triệu Thiên Hương 01.12.2017
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Gia Nùng - Triệu Xuân 27.11.2017
Kỳ vọng cường quốc của Trung Quốc chỉ là 'lâu đài trên cát'? - Tư liệu 25.11.2017
Goncourt 2017 thuộc về nhà văn kiêm đạo diễn Eric Vuillard - Tư liệu 25.11.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư - Người luôn ẩn mình sau những trang văn - Đỗ Ngọc Yên 24.11.2017
Thầy trò đời nay với thầy trò xưa - Phan Khôi 19.11.2017
Nhân Ngày Nhà Giáo VN 20/11/2017: Những điều ít biết về Thầy tôi – Nhà thơ Thúc Hà - Nguyễn Văn Thanh 18.11.2017
xem thêm »