tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682468
Lý luận phê bình văn học
18.08.2009
Hoài Anh
Elizabeth Bowen: Kỹ xảo của nhà tiểu thuyết (4)

Ngày nay, phải chăng lại xuất hiện một thứ đối thoại khác cứng nhắc, công thức hóa. Tôi ở đây nêu lên hai nhà văn cùng thời đại chúng ta - Henry Green và Ivy Compton -Burnett, xin các bạn chú ý họ vận dụng đối thoại như thế nào. Đối thoại trong sách của hai nhà văn này quyết không biểu hiện tính cách của nhân vật, mục đích sử dụng cũng không giống với các nhà văn trước đây, không ở chỗ khiến tiểu thuyết chân thực, sinh động. Dưới đây là một đoạn trong Người niên trưởng và người ưu tú, tiểu thuyết của nữ sĩ Compton-Burnett:


Mãi đến lúc này, Thomas vẫn không lên tiếng nghe các con ông đang nói chuyện. “Con không nên dạy dỗ Roybel phải không, con?”.


“Con đang dạy nó, ba ạ”.


“Con dạy như thế nào?”.


“Dùng phương pháp đặc thù của con. Phương pháp này hiệu quả tốt hơn phương pháp thông thường, hoặc giả nói đó là một phương pháp rất tự nhiên”.


“Ba nghĩ, nó cũng muốn làm chút gì cho con chứ?”.


“Nó đang học biết động não, tất cả mọi giáo dục cuối cùng đều là vì mục đích đó”.


“Đó không phải là khởi điểm của giáo dục phải không nào?”.


“Một sự vật vĩnh viễn bao gồm hai phương diện này, vừa là khởi điểm, vừa là chung kết. Bản thân con cũng chưa từng không làm rõ”.


“Ba nghĩ, nó có sai lầm gì, con còn cần chỉ ra cho nó”.


“Con để chính nó nhận ra sai lầm”.


“Nhưng nếu chính nó có thể không nhận ra, nó cũng sẽ không phạm những sai lầm đó”.


“Ba nên biết, chúng ta đều là thông qua sai lầm mới học được thông minh, ba à”.


“Nó có cần gì ở con không?”.


“Rất cần, đứa trẻ đáng thương không được giáo dục đó”.


“Nó đối với phương pháp giáo dục của con thấy như thế nào?”.


“Nó không hề nghĩ: nó trước nay không muốn động não. Phương pháp của con chính là khiến nó có được lòng tự tôn. Mà nó còn sẽ học biết không ỷ lại vào người khác, đó chính là mục đích của con, nếu không con phi đem thời gian của mình đều tiêu hao vào thân nó không xong”.


“Nó đối với con như thế nào?”.


“Một thứ tôn kính kiểu trẻ con, rất nhanh sẽ phát triển thành sùng bái. Nếu phát triển đến bước ấy, con sẽ cảm thấy không được tự do. Con sẽ phát hiện thứ tôn kính đó có được giá trị của mình”.


“Anna có ý kiến gì đối với phương pháp dạy học của con?”.


“Cô ấy sẽ cho rằng chú Benjamin không nên trả tiền cho con”.


“Con cho rằng chú ấy nên hay không nên trả tiền?” - Thomas nói.


“Ồ... Sự phục vụ của con có thể nói là một thứ không thể dùng tiền đền trả. Tức là nói, vì thứ phục vụ đó người ta dùng tiền đền trả, có thể là thứ phương pháp đền trả đó không tốt”.


“Chú của con cần hay không cần thứ phục vụ của con?”.


“Cần. Nếu không chú ấy sẽ phải tốn nhiều tiền hơn”.


“Khoản thu nhập của chú ấy nhiều hơn chúng ta. - Julia nói - Nhưng một đời họ đều ở cái nhà khó coi này”.


Thứ đối thoại này tuyệt đối không phải là thủ đoạn khắc họa tính cách. Bạn sẽ nhìn thấy, trong bất kỳ tiểu thuyết nào của Burnett, tất cả mọi nhân vật nói chuyện đều nhiều nhiều ít ít có phần giống nhau, bất luận là người trẻ hay là người già, có thế lực hay là địa vị thấp kém. Bản thân đối thoại rõ ràng là mục đích. Trên điểm này, Henry Green cũng rất tương tự. Đối với hai nhà văn này mà nói, tiểu thuyết là mục tiêu cuối cùng của tác giả. Khi kết thúc một tiết nhỏ văn chương này, tôi nêu ra một vấn đề: chúng ta nên nhìn như thế nào thứ phương thức và biến hóa của sử dụng của thứ đối thoại này: Cái đó có phải tiêu chí và tượng trưng cho sự biến đổi của hình thức tiểu thuyết hay không? Hoặc giả cái quan trọng hơn là, sự biến đổi của ý đồ tiểu thuyết đương đại? Cái đó có phải là có nghĩa giai đoạn tiến hành nghiên cứu (chỉ nghiên cứu bản thân cá nhân) đối với nhân vật có cá tính đã chấm dứt hay không? Chúng ta có chính đang quay về con đường của người kể câu chuyện tượng trưng, đeo mặt nạ hay không? Thứ khuynh hướng thoát ly chủ nghĩa tự nhiên có phải có nghĩa hứng thú đối với con người cá biệt đã suy giảm hoặc đứt đoạn, mà tính nghiêm trọng của nguy cơ hoặc giả ý nghĩa của cảm giác quần thể, tình tự quần thể đối với chúng ta biến thành càng thêm quan trọng hay không?


Dù nói thế nào chăng nữa, có một việc là khẳng định - “con người” là cái mà tiểu thuyết quan tâm nhất, cái mà tiểu thuyết muốn viết vĩnh viễn là “con người”, tuy theo thời gian mà biến đổi, theo với nhân thời gian và phương pháp biểu hiện tương ứng biến đổi, tiểu thuyết sẽ tả con người như thế nào, những người này sẽ đóng vai trò gì cũng có thể xảy ra biến hóa.


III. THỜI GIAN, THỜI KỲ VÀ HIỆN THỰC


Thời gian là một bộ phận tổ thành chủ yếu của tiểu thuyết. Tôi cho rằng thời gian cùng câu chuyện và nhân vật có giá trị quan trọng ngang nhau. Phàm là nhà văn tôi có thể nghĩ là đích thực hiểu được, hoặc giả hiểu được một cách bản năng kỹ xảo tiểu thuyết, rất ít có người không lợi dụng thời gian một cách mang tính kịch. Chúng ta hãy xem thủ pháp về phương diện này của nhà tiểu thuyết.


Đầu tiên, ở trong một số cuốn sách, thời gian và nhân vật cơ hồ ở vào địa vị ngang nhau, thậm chí có thể nói thời gian cũng là vai trò chủ yếu. Chiến tranh và hòa bình là một thí dụ điển hình. Trong bộ sách này, thời gian gây tác dụng trên nhân vật, nhân vật lại tiến hành phản ứng đối với thời gian. Chúng ta nhìn thấy rất nhiều nhân vật đang biến động trước mặt thời gian, đạo diễn và kết thúc từng vở kịch một dưới sự chi phối của thời gian, tụ hợp với nhau. Chính bởi vì như vậy, bộ tiểu thuyết đó hoàn toàn khác với những tác phẩm nông cạn, kiểu tán gẫu, nhẹ nhõm, xuất từ giả tưởng của tác giả. Mấy năm trước đây chúng ta cũng rất có thể có một bộ tiểu thuyết nhan đề là “Gia đình Jones trong những năm tháng chiến tranh và hòa bình”; nếu chúng ta có một bộ sách như vậy, nó chẳng qua cũng là miêu tả đối với một số người trong hoàn cảnh xáo động rất là biểu tượng mà thôi.


“Một chuỗi liền “hiện tại” hiệu quả cực mạnh”.


Một cách dùng khác của thời gian là ở trong huyền niệm, tức khi kể câu chuyện không thể thiếu tác dụng quan trọng do “đoạn văn sau như thế nào” gây nên. Khi đọc một cuốn tiểu thuyết kinh hiểm hay, bạn cơ hồ nghe được tiếng tích tắc giống như bom hẹn giờ của đồng hồ; trong một cuốn tiểu thuyết bạn gọi là nghiêm túc, chúng ta cũng cùng cảm thấy, hoặc giả nên cảm thấy đồng hồ từng giờ một reo lên, lịch tường tờ một bóc đi. Ngoài ra, thời gian còn buộc chặt độc giả vào “hiện tại” to lớn; mà nếu chúng ta đối với một cuốn tiểu thuyết cảm thấy quan tâm, cảm thấy có cảm giác hiện thực, điểm này hết sức quan trọng. Một truyện hay là một chuỗi liền “hiện tại” hiệu quả cực mạnh - nếu bạn thích, gọi nó là lớp cảnh cũng được - mà những “hiện tại” đó là do một số tình tiết mang tính trung gian liên hệ với nhau. Chúng ta có thể di động trước sau trên thời gian, nhưng giờ khắc hiện tại này phải nắm chặt lấy chúng ta, như vậy, khi chúng ta đọc một cuốn sách, “hiện tại” trình hiện trong sách quan trọng như giờ khắc chúng ta ngồi trên ghế tựa trong nhà xem sách, hoặc giả càng quan trọng hơn.


Cá nhân tôi cho rằng một bậc thầy giỏi biểu hiện “hiện tại” mang tính kịch là Virginia Woolf. Tôi ở đây muốn nêu một thí dụ, xem xem bà vận dụng như thế nào một phương pháp đồng hiện hết sức đặc thù, khiến mấy sự kiện cơ hồ xảy ra trong cùng một thời gian, nhân đó mà sáng tạo ra hiệu quả tính kịch cực mạnh. Bên dưới là một mảnh đoạn trong Bà Dalloway. Địa điểm là phố lớn Bonte London; thời gian là một buổi sớm tháng sáu. Trong một cảnh tượng rối ren lộn xộn, một chiếc xe hơi không biết tại sao dừng lại trước một quầy hàng bán hoa.


- Ủa, trên phố vang lên một tiếng súng!


“Bà thân mến, đó là những chiếc xe hơi”. Cô Pim vừa nói, vừa đi đến trước cửa sổ nhìn ra ngoài. Lúc cô ta quay người lại, tay bưng hoa uyển đậu thơm, cười xòa xin lỗi, dường như những xe hơi ấy, những săm xe hơi ấy đều là lầm lỗi của cô ta.


Cái đó khiến phu nhân Dalloway sợ đến nhảy nhổm lên, tiếng nổ dữ dội khiến cô Pim đi đến trước cửa sổ nhìn, mà còn luôn miệng xin lỗi, đến từ một chiếc xe hơi dừng lại bên lối người đi đối diện với cửa kính cửa hàng bán hoa Morbely. Người qua đường đương nhiên đều đứng vững chân, chăm chú nhìn. Nhưng khi người ta vừa kịp nhìn thấy một bộ mặt của nhân vật lớn cực kỳ hiển hách dựa trên lưng ghế tựa màu xám tro, lập tức có một cái tay của người đàn ông kéo màn trên cửa sổ xe lên; ngoài một khối vuông màu xám nhạt ra không nhìn thấy gì hết.


Tuy nhiên như vậy, lời đồn vẫn lan truyền ra. Từ đoạn giữa phố Bonte một đầu truyền đến phố Oxford, một đầu khác truyền đến cửa hàng nước hoa Etkinson, giống như một đóa mây trôi chụp lấy ngọn núi nhỏ, nghe không thấy cũng nhận không ra bay tản mác, lại giống như mây nổi đột nhiên biến thành an lành, yên tĩnh, hạ xuống trên bộ mặt mọi người một giây trước còn hoảng loạn bất an; họ đã nghe thấy tiếng nói của quyền uy: thần của tôn giáo nhắm nghiền mắt, há miệng một cách kinh ngạc lang thang khắp chốn. Nhưng không một người nào nhìn rõ bộ mặt trong xe hơi quả thực thuộc về người nào, là hoàng thân Wills? Là nữ hoàng? Hay là thủ tướng? Không người nào nói đúng.


Edgar J. Valtegis trên cánh tay buộc một ống chì nhỏ, lên tiếng nói: “Xe hơi của thủ tướng”. Đương nhiên, giọng nói của anh ta rất khôi hài.


Septims Valin Smith bị một đám người chặn đường, nghe được câu nói đó.


Septims Valin Smith khoảng hơn ba mươi tuổi, bộ mặt nhợt nhạt, mũi mỏ chim ưng, đi giày da màu nâu và áo ngoài tồi tàn, trong cặp mắt màu nâu nhạt có một thần sắc sợ hãi bất an, dù là người không quen biết ông ta nhìn thấy ánh mắt của ông ta cũng sẽ bị lây cảm giác sợ hãi của ông ta. Thế giới đã giơ roi muốn quất lên người nào chăng?


Tất cả mọi hoạt động đều ngừng lại. Tiếng động cơ xe hơi nghe giống như tiếng đập không có quy tắc của trái tim, rung chuyển toàn bộ thân thể, dường như bởi chiếc xe hơi đó dừng lại ở bên ngoài cửa sổ cửa hàng Morbely, mặt trời cũng biến thành hết sức nóng nực, bà già ngồi trong xe buýt công cộng hai tầng đều dương ô cán đen lên lách ta lách tách, chỗ này một cái xanh, chỗ kia một cái đỏ. Bà Dalloway hai tay bưng hoa uyển đậu thơm đi đến phía trước cửa sổ nhìn ra ngoài, kinh ngạc không hiểu, phồng lên khuôn mặt nhỏ vừa đỏ vừa trắng. Mỗi một người đều nhìn dò xét chiếc xe hơi đó. Septims cũng đang nhìn dò xét. Thanh niên từ xe đạp nhảy xuống. Xe qua lại càng lúc càng nhiều, mà chiếc xe hơi ấy vẫn không hề động đậy dừng lại đó, kéo màn cửa sổ, hình vẽ trên màn cửa sổ giống một cái cây. Septims nghĩ, tất cả mọi sự vật dần dần ngưng tụ trên một điểm nào đó trước mặt ông ta, dường như việc rùng rợn nào đó đã nổi lên đến bề mặt, sắp lập tức cháy lên vậy, thứ cảm giác đó đúng là khiến ông sợ chết khiếp. Toàn thể thế giới đều đang lay lắc, rung chuyển, lập tức sẽ bốc lên ngọn lửa. Là tôi chặn đường ư, ông ta nghĩ. Người ta có phải là đang chăm chăm nhìn, chỉ ông ta? Ông ta có phải là bởi một mục đích gì giống như chân mọc rễ đứng trên lối người đi không sải nổi bước hay không? Nhưng, bởi vì mục đích gì?


“Chúng ta đi thôi, Septims”, vợ ông ta nói. Bà ta là một người đàn bà gầy nhỏ, sắc mặt không vui, trên khuôn mặt cằm nhọn mọc một đôi mắt to. Bà ta là một phụ nữ Italia.


Thứ miêu tả đan xen, xuyên cắm của tác giả, ấn tượng mang lại cho bạn nhất định rất sâu. Người không giống nhau, trào phúng, đối tỉ, vẻ hồn nhiên vô tri an phận của bà mua hoa uyển đậu thơm, vẻ mặt tươi cười của người con gái bán hoa bởi sự quấy nhiễu của âm thanh mà tỏ ý lấy làm tiếc. Người tinh thần vĩnh viễn bị giày vò - ngoài vợ ông ta ra không ai quan tâm đến ông ta - sợ vỡ mật vì chiến tranh, nơm nớp không yên sống trong thế giới lạ lùng đặc biệt, bất hạnh của ông ta. Sự thần bí cao quý, lý tưởng hóa, cảm thương chụp lên chiếc xe hơi, lại thêm tác giả có ý phú cho vị trào phúng nhẹ nhàng: đằng sau màn cửa sổ màu tro của xe hơi quả thật xảy ra chuyện gì? Ý nghĩ của độc giả còn theo với ngòi bút của tác giả rời khỏi phố Bonte, dường như một đóa mây trôi bay lâng lâng qua nóc nhà, lúc tin đồn lan ra, vẫn cứ dời về phía núi xanh Hampstead đứng ở ngoại ô London. Đó là đem số phận và tư tưởng của nhân vật không giống nhau - theo với sự dời chuyển của thời gian một ngày và sự phát triển của câu chuyện, chúng ta sắp tiếp tục đọc đến đoạn văn dưới - tập hợp vào giờ khắc trước mắt, tập hợp vào một thứ bút pháp đặc thù trên thực tế trước mắt.


Dickens - bậc thầy giỏi về bố trí lớp cảnh.


Khi tôi từ trên ý nghĩa sáng tạo “hiện tại” sáng rõ sắc bén thảo luận về thời gian, điều tôi muốn nói rõ là, ý nghĩa quan trọng của thời gian đối với chế tạo lớp cảnh hiện thực. Thời gian của một ngày, mùa của một năm, hoặc tạnh hoặc mưa, đều có thể cấp cho giờ khắc xảy ra lớp cảnh mà tác giả miêu tả cái mà tôi gọi là tính sáng rõ và cảm giác hiện thực. Chúng ta trên trình độ rất lớn dựa vào thông tin có liên quan đến thời gian mà nhà tiểu thuyết cung cấp cho chúng ta. Thử nghĩ một chút, một đường phố và đầu phố đem khuya, một thị trấn ven biển và thị trấn ven biển trong gió thu lạnh ngắt, nên là khác nhau biết bao! Một bậc thầy giỏi về bố trí lớp cảnh là Charles Dickens. Ở đây hãy dẫn chứng một đoạn trong Căn nhà lạnh lẽo khiến bạn nhớ lại tài năng về phương diện này của Dickens:


Nước sông của quận Lincoln đã chảy tràn ra. Một cống ngầm của một cây cầu trong trang viên đã rệu rã, bị nước lớn cuốn đi. Chỗ đất thấp gần đó nước mênh mông, biến thành sông lớn rộng nửa dặm Anh, ngọn cây thê thảm lộ ra trên mặt nước, hình thành từng cô đảo một. Mà nước mưa, vẫn từ sớm đến tối mau hạt gõ xuống mặt nước giống như biển. Cảnh tượng nhà bà Dedlock ở hết sức thê lương. Bao nhiêu ngày nay, khí trời ẩm thấp đến cực điểm, cây cối dường như đã bị nước mưa ngấm ướt, khi búa của người đẵn gỗ bổ nhẹ vào cành cây cũng không phát ra tiếng lanh canh trong trẻo nữa. Đàn hươu trong khu vườn khắp mình bị nước tưới ướt đầm đìa, đi qua mặt đất biến thành một mảnh ao bùn lỏng. Tiếng súng trường của người đi săn trong không khí ẩm thấp tỏ ra hết sức trầm đục, khói súng ngưng tụ xuyên qua màn mưa chi chít di động một cách chậm chạp về rẻo đất cao màu xanh mọc đầy bụi cây nước ở chỗ xa. Từ cửa sổ nhà bà Dedlock nhìn ra, không phải là một mảng than chì, thì là nửa trời mực đậm. Mấy chum nước trên sân thượng bằng đá trước nhà suốt ngày hứng nước mưa, mà giọt mưa nặng nề lại suốt đêm không ngừng tí ta tí tách gõ trên con đường lát đá rộng rãi xưa nay được gọi là “con đường u linh”. Ngày lễ, đi vào nhà thờ nhỏ trong trang viên, người ta phát hiện khắp chốn đều lên mốc. Trên giảng đàn gỗ cao su phủ một lớp giọt nước, giống như toát mồ hôi lạnh. Trong không khí tràn đầy một mùi thối rữa, ẩm thấp, lại giống như mùi của tổ tiên chôn trong phần mộ tỏa ra. Trong một ngày sắc chiều xuống quá sớm, bà Dedlock (bà không có con trai) từ trong phòng ngủ nhìn ra ngoài, nhìn thấy ánh lửa trong nhà người gác vườn hắt lên cửa sổ ô vuông, trong ống khói nhẹ. Bà lại nhìn thấy một đứa trẻ: bị một phụ nữ đuổi theo, chạy đến vùng mưa bên ngoài. Một người đàn ông y phục nịt chặt, toàn thân ướt dầm dề từ bên ngoài cửa vườn đi vào. khi thấy cảnh tượng đó, nộ khí của bà Dedlock bất giác trào lên. Bà Dedlock nói bà sắp “chán đến chết được”.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử - Triệu Xuân 31.05.2017
Truyện Dị sử của Ngọc Toàn - Triệu Xuân 31.05.2017
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
xem thêm »