tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20524901
Lý luận phê bình văn học
18.08.2009
Hoài Anh
Nguyễn Quang Sáng & mô thức tự sự của truyện ngắn

Truyện ngắn có mấy thứ công năng: tính tự sự, tính trữ tình, tính phúng dụ. Từ năm 1954 đến năm 1957, những truyện ngắn mang tính phúng dụ như Ông Năm Chuột của Phan Khôi, Con ngựa già của Chúa Trịnh của Phùng Cung, Thi sĩ máy của Châm Văn Biếm (tức Như Mai)… bị phê phán, do đó truyện ngắn mang tính phúng dụ không còn đất phát triển. Còn nhớ năm 1972, Nguyễn Quang Sáng viết chuyện Con gà trống, kể chuyện con gà vì lý do bảo mật ở rừng mà người ta đã làm mọi cách không cho nó gáy, anh em biên tập bảo: “Vì muốn bảo vệ anh mà chúng tôi không in truyện ngắn này”, do sợ người ta cho rằng nó mang tính phúng dụ, mãi đến gần đây nhà văn mới đưa được nó vào trong một tập truyện. Một số truyện ngắn mang tính trữ tình như của Đỗ Chu xuất hiện, nhưng khuynh hướng đó cũng ít người theo, do số đông nhà văn lo đáp ứng yêu cầu phục vụ kịp thời, phản ánh những biến đổi mới xảy ra trong xã hội vì thế tất tính tự sự trong truyện ngắn được đẩy mạnh. Nguyễn Quang Sáng mới từ miền Nam ra tập kết miền Bắc, chưa có nhiều vốn sống về miền Bắc, do đó ban đầu anh đã dựa vào ký ức tuổi thơ để viết truyện ngắn Con chim vàng (1957), và vốn sống của anh về làng quê, gia đình, dòng họ anh, để viết tiểu thuyết Đất lửa (tập 1-1963) nói về bọn phản động đội lốt chức sắc Hòa Hảo đi với Pháp đánh phá Cách mạng; và tấm lòng độ lượng, quan điểm trong sáng của cách mạng đã hạn chế được bao nhiêu thương đau mất mát, làm cho chính nghĩa tỏa sáng dần trong đầu óc những người mê muội bị đầu độc bằng những luận điệu tinh vi xảo trá của kẻ thù. Tập 1 viết vào lúc ta đang đấu tranh với chính quyền Ngô Đình Diệm để thi hành hiệp thương thống nhất đất nước, có nhiều chuyện nội bộ nhân dân chưa thể đưa ra ánh sáng được, vì vậy Nguyễn Quang Sáng buộc phải tạm ngừng viết tập 2. Một thời gian sau, anh lên đường trở về Nam chiến đấu.


Ở miền Nam đánh Mỹ lúc bấy giờ, đúng là “ra ngõ gặp anh hùng”, không thiếu gì câu chuyện hay, lạ cho nhà văn khai thác. Sắc thái truyền kỳ của bản thân cách mạng, kháng chiến đủ để chống đỡ cho tuyến tình tiết gay go, dữ dội, hùng hồn, bi tráng, một mặt khác những “khoảnh khắc” rực rỡ chói lọi nhất của thời đại sử thi, đủ để trong phút chốc ngưng đọng thành một bức tranh sơn dầu hoặc một phù điêu thể hiện nội dung mang tính chỉnh thể của tiến trình lịch sử. Tính hoàn chỉnh giai đoạn về thời gian của nội dung lịch sử không chỉ có lợi cho hình thức lớn rộng như tiểu thuyết dài mà đối với sáng tác truyện ngắn cũng có lợi. Trên một bối cảnh lịch sử hoàn chỉnh, càng dễ phát hiện, xác định “điểm ngời sáng” đặc sắc nhất, lựa chọn “khoảnh khắc điển hình”.


Đúng như nhà nghiên cứu Vân Thanh đã nhận xét trong bài Truyện ngắn Nguyễn Sáng (in trong cuốn Tác giả văn xuôi Việt Nam hiện đại (từ sau 1945 -NXB Khoa học Xã hội, 1977):


“Tiếng súng trên đường phố Sài Gòn, Sài Gòn dưới những tầng khói là hai bút ký Nguyễn Sáng tranh thủ ghi nhanh trên đường phố. Tuy đấy chỉ mới là vài nét phác họa nhưng người đọc vẫn không sao quên hình ảnh mười ba cô gái đẩy lui cả một tiểu đoàn quân Mỹ. Cuối cùng các cô đều bị thương nặng. Biết rằng mình không thể sống được nữa, các cô bắn đến viên đạn cuối cùng rồi nằm bên nhau cất tiếng hát. Câu chuyện đẹp và kỳ diệu như một truyền thuyết.


Một chuyện khác: Một chuyện vui, kể chuyện anh Bảy Ngàn trên đồng nước bị trực thăng vây bố, sau hai lần hụt chết, ung dung đến ngồi bên một cây tràm bị tên lửa bắn, còn nghi ngút khói, hút thuốc, thở khói phà phà. Câu chuyện mấy lần hụt chết đó lại cứ như là”một chuyện vui”, chẳng mùi mẽ gì, thế nhưng cái điều kỳ diệu về tư thế ung dung, coi thường nguy hiểm, xem thường kẻ địch lại gây một ấn tượng sâu trong người đọc. Qua anh Bảy Ngàn ta thấy một nét tiêu biểu về tính cách anh hùng của con người miền Nam.


Nói được một cái gì thật kỳ diệu trong những điều tưởng chừng rất bình thường của cuộc sống, đó là đóng góp đáng chú ý ở Nguyễn Sáng.


Nhưng làm quen với Nguyễn Sáng, người đọc được tiếp xúc nhiều hơn với những câu chuyện được xây dựng trên những tình tiết ngẫu nhiên, bất ngờ, lắm khi gay cấn, căng thẳng, đầy kịch tính. Thật ra thì hai hiện tượng trên không có gì mâu thuẫn với nhau, vì nó cùng thống nhất trong mục đích chung của tác giả là nói cho được những điều lớn lao kỳ diệu của cuộc sống.


Người đọc thấy được điều đó qua những mẩu đời bình thường như trong Người đàn bà Đồng Tháp hay Một chuyện vui…


Nhưng người đọc sẽ càng thấy được điều đó trong những tình huống khác như Quán rượu người câm, Chiếc lược ngà…


Quán rượu người câm là câu chuyện anh Ba Hoành bị địch bắt năm 1956, tra tấn đến hóa câm. Anh về nhà, ở với vợ, dọn một hàng rượu. Ở quán rượu “người câm” được nghe đủ mọi thứ chuyện về tội ác của kẻ thù, về sức căm thù quật khởi của nhân dân. Cho đến ngày đồng khởi, nhân dân chờ đợi người lãnh đạo xuất hiện. Phút chờ đợi thật nghiêm trang. Nhưng không ngờ người đó chính là anh: “Bốn năm rồi tôi không nói, không phải tôi câm. Mà tôi im lặng. Đã đến lúc chúng ta không im lặng được nữa!”.


Bốn năm im lặng trong tư thế một người câm! Một tiếng nói cất lên đúng vào hôm đồng khởi, cùng với tiếng hò reo, tiếng súng nổ dậy trời của nhân dân phá thế kìm kẹp của kẻ thù! Cái thế giới mà người đọc được Nguyễn Sáng đưa vào quả là kỳ lạ! Thêm vào đó là chi tiết về một em bé gái mười sáu tuổi, em bé trước mặt một tên phản bội đến năn nỉ xin em đầu thú bỗng hất tóc ra sau vai và nói như nghiến: -“Chú Hai! Chú sợ chết hả! Chú hãy nhìn tôi đây này!”, rồi “thè lưỡi, mắt long lên, đưa quả đấm đánh vào cằm mình”. Quả là một câu chuyện bất ngờ đến làm ta nín thở vì căng thẳng, hồi hộp!


Cũng hồi hộp nhưng không đến nỗi căng thẳng như trên là những cuộc gặp gỡ như trong Chiếc lược ngà. Một người cha về thăm nhà, con không nhận mặt, vì anh có một vết sẹo, không giống như trong ảnh. Một cô con gái khi nhận ra cha, chỉ ao ước có một chiếc lược ngà. Người cha chưa kịp gửi quà cho con thì bị hy sinh. Một người bạn nhận lấy nhiệm vụ chuyển món quà kỷ niệm đó cho cô con gái. Một cô giao liên trên đường công tác. Một câu chuyện được kể lại… Tất cả khớp với nhau, tạo nên một bức tranh xúc động về tình cha con, về tình đồng chí, về những mất mát lớn lao mà chúng ta phải chịu đựng trong chiến đấu, và về những bù đắp quý giá mà cách mạng đem lại cho mỗi người…


Trong Bông cẩm thạch, Nguyễn Sáng cũng đã dựng được một câu chuyện gặp gỡ ngẫu nhiên và xúc động như thế giữa hai mẹ con cùng đi làm cách mạng, cho ta thấy tấm lòng thủy chung và thương yêu rất đẹp của con người miền Nam. Thiên truyện cũng đồng thời cho thấy những hiểu nhầm, những mất mát đau thương, những uẩn khuất chưa thể giải tỏa của con người, chỉ có thể giãi bày khi cuộc chiến nổ ra, khi đã chấm hết cái thời khắc nén lặng, chờ đợi trong bóng tối và kìm kẹp của kẻ thù, để cho tiếng súng cất lên…”


Nhưng nếu chạy theo tuyến tình tiết thì tuyến nhân vật thường hay bị sơ khoáng. Những nhân vật chính diện của Nguyễn Quang Sáng đều có những nét đẹp, nhưng mới là cái đẹp về phẩm chất, có giá trị luân lý, theo những chuẩn mực đạo đức phổ biến, dễ nhìn thấy ngay, mà chưa phải là cái đẹp ẩn kín trong chiều sâu tâm thức, có giá trị nhân bản, độc đáo trong cái đa dạng của nó, đòi hỏi nhà văn phải dày công phát hiện. Cũng trong bài dẫn trên, chị Vân Thanh viết:


“Nhưng phải chăng có thể xem đây là một nhược điểm của tác giả: trong truyện ngắn của anh, ta chưa hề thấy có một nhân vật phản diện nào. Chính anh đã từng khẳng định là những nhân vật chính diện trong các tác phẩm miền Nam đã trở thành những điển hình sống, phong phú, đa dạng, có sức chinh phục và thuyết phục lòng người, ngược lại, những nhân vật phản diện vẫn còn mờ nhạt, nó tàn bạo đó, nó giết người đó, nó ăn thịt người nữa, nó lố lăng, nó lưu manh, nhưng đọc rồi, ta vẫn cứ thấy nó mờ mờ. Bởi vì ta chỉ thấy cái bên ngoài. Qua ý kiến phát biểu trên của nhà văn, ta hiểu được sự băn khoăn chính đáng của anh và cũng thấy quý sự chân thật và tinh thần trách nhiệm của anh đối với người đọc. Nếu như trong một hai tác phẩm không có bóng dáng tên phản diện thì cũng chẳng sao, nhưng nếu là cả một chuỗi tác phẩm viết về hiện thực miền Nam mà không hề đả động đến bọn chúng thì điều đó không phải là không đáng tiếc”.


Theo tôi, điều đó có hai nguyên nhân: một là Nguyễn Quang Sáng ít có điều kiện quan sát trực tiếp kẻ địch, mà chỉ thông qua câu chuyện kể của bà con nên không xây dựng được nhân vật phản diện sắc nét, hai là trong “câu chuyện ngắn” (short story) không đòi hỏi xây dựng nhân vật phản diện độc đáo, đa dạng, cái đó bắt nguồn từ lối kể chuyện của văn học dân gian. Nhân vật phản diện trong truyện dân gian thường chỉ có một nét tính cách mang tính chất ước lệ, như tàn ác, nham hiểm, chỉ như vậy là đủ cho câu chuyện diễn tiến: kẻ ác tìm đủ mọi cách để hại người lương thiện, cuối cùng là cái thiện chiến thắng cái ác. Ngay cả những tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc nổi tiếng, như Thủy Hử, Tam quốc chí, nhân vật phản diện cũng chỉ có một nét tính cách như Cao Cầu trong Thủy Hử tham nhũng, đố kỵ người tài. Tào Tháo trong Tam quốc chí gian trá, đa nghi. Nhân vật Tào Tháo trong Tam quốc chí, để phục vụ cho tư tưởng “chính thống”, La Quán Trung đã biến ông thành một tên gian hùng xấu xa, trong khi trong thực tế Tào Tháo là một nhân vật lịch sử vĩ đại, một nhà thơ kiệt xuất, có chí lớn, tính giản dị, tiết kiệm, ham học, quý trọng người tài, lo lắng cho dân. Nếu viết tiểu thuyết, kịch theo quan niệm hiện đại thì không thể viết như Tam quốc chí, do đó Quách Mạt Nhược đã dựng một nhân vật Tào Tháo khác hẳn trong kịch Thái Văn Cơ.


Lỗ Tấn đã sáng tạo ra thể truyện ngắn (short-story) mang tính chất dân tộc Trung Quốc. Nhưng Lỗ Tấn không đi theo truyền thống viết “câu chuyện ngắn”. “Truyện ngắn” trên ý nghĩa hiện đại của Trung Quốc bắt đầu và thành thục từ tay Lỗ Tấn. Tám năm trước khi có phong trào Ngũ tứ, mùa đông năm 1911, cách mạng Tân Hợi qua chưa đến hai tháng, Lỗ Tấn lấy bút danh “Chu Xước” dùng văn ngôn viết truyện ngắn đầu tiên của ông là Hoài cựu (Nhớ chuyện cũ). Học giả Tiệp Khắc (cũ) Fucik luận chứng một cách sâu sắc truyện đó là “đối tượng thuần nghiên cứu”, là tiếng nói đầu tiên của văn học hiện đại Trung Quốc. Vừa khéo là về kết cấu tình tiết (cố ý coi nhẹ tính cốt truyện, sử dụng “hình thức hồi ức lục”, “trữ tình” v.v…), thể hiện sự “quyết tuyệt sâu sắc” của văn học hiện đại với văn học truyền thống. Fucik cho rằng, truyện ngắn này “toàn bộ không khí chứng tỏ tác phẩm của Lỗ Tấn rất có chỗ cộng đồng với khuynh hướng mới nhất trong văn học Âu châu”. Ông gọi thứ khuynh hướng mới nhất cộng đồng đó là sự “thẩm thấu” của tác phẩm trữ tình đối với tác phẩm sử thi, là sự phá vỡ hình thức sử thi truyền thống. Trong bài luận văn này ông nêu lên trong sự cách tân mà Lỗ Tấn tiến hành, tản văn cổ đại và thi từ cổ điển Trung Quốc đã gây được tác dụng. Fucik chỉ ra: Đồng thời với việc vứt bỏ hình thức văn học tự sự của Trung Quốc, Lỗ Tấn lại vận dụng phương pháp trữ tình truyền thống của Trung Quốc để tổ chức sáng tác của ông. Thứ tính chất trữ tình chủ quan, ấn tượng chủ nghĩa, phi đặc thù của thơ truyền thống Trung Quốc, ngay cả việc nó thiếu tuyến cốt truyện và kết cấu bố cục, tách rời hình thức truyền thống chết cứng được Lỗ Tấn vận dụng một cách tự do để biểu đạt quan niệm cách mạng của hiện thực xã hội.


Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng cho rằng trong quá trình nhảy vọt từ “câu chuyện ngắn”, sang “truyện ngắn”, “truyền thống thơ trữ tình” do thi từ cổ điển và tản văn cổ đại đã gây được tác dụng cực kỳ quan trọng. Do thứ biến đổi này được sự giúp đỡ của một truyền thống có lịch sử lâu đời, sức sống cực mạnh, trở lực mà sự hiện đại hóa truyện ngắn gặp phải rõ ràng là nhỏ hơn so với thơ mới nhiều. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cũng cho rằng Lỗ Tấn đã trữ tình hóa, thi hóa, tản văn hóa, hiện đại hóa truyện ngắn. Về vấn đề “thế nào là truyện ngắn” mỗi nhà văn Trung Quốc cũng có cách nói riêng của mình. Mao Thuẫn vẫn dùng cách nói từ Ngũ tứ đến nay: “Truyện ngắn lấy đề tài từ một mảnh đời sống, mà mảnh đó không những nêu lên một vấn đề có tính phổ biến, mà khiến người đọc từ mảnh đó liên tưởng đến vấn đề đời sống khác, dẫn tới sự suy nghĩ lại kỹ càng”. Hầu Kim Cảnh đồng ý với cách nói đó, nhưng ông nghiêng về mặt tính cách nhân vật: “Đặc điểm của truyện ngắn là cắt xén và miêu tả mặt cắt ngang của tính cách (mà là lựa chọn lấy một hai điểm từ trong tính cách phong phú của nhân vật chính) và mặt cắt ngang của đời sống tương ứng với nó”. Ngụy Kim Chi lại cho rằng cách nêu “mặt cắt ngang” là hàm hồ, bởi vì truyện dài cũng chỉ có thể lấy một bộ phận hữu hạn trong thời, không vô hạn: “Chúng ta chỉ có thể nói, quan hệ trong đời sống hiện thực là vô cùng phức tạp, mà luôn luôn chằng chịt với nhau… luôn luôn tự thành một nút thắt. Mà nút thắt này, cũng là một đơn vị hoặc cá thể, đối với tác giả mà nói, lấy dùng cái nút thắt lớn là một truyện dài, lấy dùng cái nút thắt nhỏ thì thành một truyện ngắn, ở đây không tồn tại sự phân biệt giữa mặt cắt ngang và thân cây của cả cái cây… “Nhưng nút thắt lớn nhỏ khu biệt ở chỗ nào, ông chưa nói được rõ ràng. Tôn Lê thì ngoài việc nhấn mạnh khuôn khổ nên hết sức ngắn nhỏ ra, đối với những định nghĩa khác nhất loạt tồn nghi: “Về truyện ngắn, từng có rất nhiều định nghĩa: mặt cắt ngang đời sống ư, chớp lấy một khoảnh khắc đặc sắc nhất ư, vặt đầu bỏ đuôi ư, tính cốt truyện mạnh ư, chỉ có thể tham khảo, không thể tin cả. Bởi vì có truyện ngắn viết mặt cắt dọc cũng rất hay. Truyện ngắn Trung Quốc lưu truyền lại, phần lớn đều có đầu có đuôi. Rất nhiều truyện của Tchékhov, tính cốt truyện đều không mạnh, nhưng đều là truyện ngắn hay. Tôn Lê cả quyết: “Truyện ngắn là một thứ hình thức trong tác phẩm văn học, quy luật cơ bản của nó hoàn toàn tương đồng với các hình thức văn học khác”. Lục Văn Phu cũng nói: “Truyện ngắn là một cái búa tạ, có thể xẹt ra tia lửa là được rồi, không thể đem rất nhiều cái đều viết ra rõ ràng. Truyện ngắn là cái viết ra ít, cái không viết ra phải nhiều hơn cái viết ra gấp mấy chục lần, cho nên gọi là trong nhỏ thấy lớn, cái lớn ấy không phải là có thể nhìn thấy, mà là có thể tưởng tượng thấy”. Uông Tăng Kỳ nói: “Có người nói tiểu thuyết của tôi với tản văn rất khó khu biệt. Tôi hồi trẻ từng muốn phá vỡ giới hạn giữa tiểu thuyết, tản văn, và thơ… Cái gọi là tản văn, tức không phải là trực tiếp tả bộ phận nhân vật. Không trực tiếp tả tính cách, tâm lý, hoạt động của nhân vật. Có khi chỉ là một chút không khí. Nhưng tôi cho rằng không khí tức là nhân vật. Một thiên tiểu thuyết phải giữ các dòng chữ đều thấm đẫm nhân vật. Phong cách của tác phẩm, tức là tính cách nhân vật”. Qua ý kiến này, thấy tính cách nhân vật mang tính quyết định.


Ở Nam Bộ trước đây có hình thức “nói thơ” và tương ứng với nó là tiểu thuyết chương hồi, đều theo mô thức tự sự “lấy góc nhìn biết hết tất cả, kể liền chuỗi một câu chuyện lấy tình tiết làm trung tâm kết cấu”.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »