tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18451607
Lý luận phê bình văn học
17.08.2009
Hoài Anh
Anh Đức - Con người và cảnh sắc thiên nhiên trong tác phẩm (3)

Anh Đức thường chuyển tiểu thuyết, truyện ngắn của mình thành kịch bản phim theo yêu cầu của đạo diễn và xưởng phim. Trong bài Từ tiểu thuyết đến kịch bản phim truyện (Tuần báo Văn nghệ Tp.HCM số 238, ngày 20-8-1982), Anh Đức viết: “Trong kịch bản phim, ngoài nhân vật và sự phát triển hành động, tôi còn rất yêu thích miêu tả thiên nhiên. Thật sung sướng khi đưa được nhân vật của mình vào bối cảnh tươi đẹp đầy bản sắc của Tổ quốc chúng ta, nơi có biển dài, sông rộng, nơi có bao cánh đồng vàng mơ, bao vườn quả biếc xanh chói chang dưới ánh mặt trời. Tôi ham muốn sao kết hợp cho được một cách nhuần nhị, giữa nhân vật của mình với rừng đước kia, sông rạch nọ, ngọn khói tràn đồng, triều dâng nơi cửa biển... Ngoài ý nghĩa kết hợp ngoại cảnh với nội tâm con người, khi viết kịch bản, tôi còn có ý định để mọi người nhìn thấy, với một đất nước đẹp đẽ nhường ấy, dân tộc chúng ta đâu có dễ dàng để cho kẻ thù nào động đến. Trong văn học, ý định và khả năng của mỗi nhà văn về mặt miêu tả thiên nhiên vốn không phải ai cũng như nhau. Có người lại không mấy chú trọng. Tôi thì chú trọng, và càng chú trọng hơn khi viết kịch bản phim, vì tôi nhận thấy về mặt này, phim có khả năng đặc tả tuyệt vời. Văn học cũng có khả năng ấy, thậm chí còn có sâu hơn, xét về mặt chỉ đạo và sức mạnh từ ngữ nhưng bao giờ phim cũng truyền được thụ cảm mau lẹ hơn”.


Tôi nhớ lại hồi quay bộ phim Chị Tư Hậu theo Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái (tức Anh Đức) do tác giả biên kịch, đạo diễn Phạm Kỳ Nam đã phải đi lùng cho bằng được một chiếc xe thổ mộ và một con ngựa ô, nhưng tìm không ra ngựa ô, chỉ có con ngựa xám, thành ra phải sơn nhuộm lông con ngựa thành màu đen. Đến khi quay phim Khói, đạo diễn đã mời tôi đóng vai nhà thơ, chỉ cốt lợi dụng ngoại hình của tôi, nhưng tôi không dám nhận lời vì không biết diễn xuất phim. Đến khi quay phim Hòn Đất, đạo diễn Hồng Sến lại rủ tôi cùng đi. Để rình quay cảnh mặt trời từ từ mọc trên mặt biển, bốn giờ sáng trời còn tối, máy đã đặt xong, chỉ chờ “nhân vật” mặt trời diễn xuất là quay thôi. Bốn giờ mười lăm, bốn giờ ba mươi, rồi năm giờ... Một màu hồng từ từ hiện lên, những tia nắng hình rẻ quạt nổi rõ trên màu biển xanh đen. Máy chuẩn bị quay. Một đường viền vành cung đỏ nổi lên trên mặt biển. Máy bắt đầu quay rè rè. Vòng cung càng ngày càng lớn. Màu hồng càng ngày càng hồng hơn. Bỗng máy quay phim tắt. Anh đạo diễn hô quay tiếp. Qua ống kính, ông mặt trời lên thực nhanh mới đó đã nửa vòng tròn, ánh sáng hình rẻ quạt rộng hơn. Chợt anh kỹ thuật hình la lên: “chỉ có 18 hình thôi”. Máy bấm tiếp, kim chỉ số mười sáu. Bình hơi yếu rồi, lấy bình khác. Mọi người cuống quít vì “diễn viên” cứ diễn xuất tiếp tục mà không nghe lệnh đạo diễn nữa... Bình ắc quy khác lắp vào, máy tiếp tục chạy. Một khối hình tròn đỏ giờ như treo tầng tầng trên mặt biển, trông như nó đang bay lên khỏi những đợt sóng biển trắng xóa. Vẫn mười tám hình, rồi mười sáu hình. Thế là buổi quay tạm dừng lại... Những lời trách móc, những tiếng xuýt xoa tiếc rẻ, biết ngày mai ông mặt trời có diễn xuất đẹp như hiện nay không. Được xem cảnh này tôi càng hiểu thêm lời Pa-u-xtốp-ki: “Một số nhà văn coi nhẹ màu sắc và ánh sáng, vì thế mà những tác phẩm của họ để lại ấn tượng ta nhìn thấy hiện thực trong vẻ đa dạng đầy đặn của sắc màu và ánh sáng... Ánh sáng vào ngày u ám trước lúc mưa khác xa với lúc cũng vào ngày ấy nhưng sau mưa. Tán lá ướt nước đem lại vẻ trong suốt lấp loáng. Ánh mặt trời phản chiếu trên bìa rừng thông hoàn toàn khác với ánh sáng ở xa bìa rừng. Nó ấm áp hơn. Nó mang ánh phản chiếu màu đồng hun của mỗi thân cây. Trong mỗi phong cảnh với chân trời xa thoáng đãng có một số những lớp tầng ánh sáng khác nhau...”.


Trong tác phẩm của Tringhiz Aitmatôp, biểu hiện lãng mạn của thiên nhiên đã hòa nhập làm một với hiện thực đời sống.


Trong mối quan hệ với các nhân vật ở tác phẩm của nhà văn, thiên nhiên không chỉ là cái nền mang chất thơ với vẻ đẹp như “sờ thấy được” của hồ nước xanh Ixưccul, những cánh bay rực sáng của bầy thiên nga trắng – thiên nhiên cũng là một nhân vật. Hơi thở nồng ấm của thiên nhiên sống động, khả năng đối thoại với con người, hòa nhập với tình cảm con người là biểu tượng văn học nghệ thuật tràn đầy sức sống, nâng cao thêm tầm cao tinh thần. Ta hãy nhớ lại cảnh Tanabai nhân vật chính của Vĩnh biệt Gulxarư, trong phút có những ý nghĩa tiêu cực, tác giả đã viện dẫn đến hình tượng thiên nhiên: “Ông không muốn chết như con chim đơn độc, lạc khỏi bầy đang sải cánh bay mau. Ông muốn chết giữa lúc đang bay để những con chim kia lượn vòng trên thi thể ông, kêu gào vĩnh biệt ông, bởi ông đã cùng với chúng lớn lên trong tổ, bay chung một đường”. Tanabai quyết định xóa bỏ giận hờn, tìm thấy sức mạnh trong bản thân để trở về với cuộc sống. Kết thúc cuốn truyện, chúng ta lại chứng kiến hình ảnh Tanabai cô độc đang khóc con ngựa Gulxarư của mình – những dòng chữ của tác giả tạo ra niềm hy vọng tươi sáng: “Qua hàng lệ, ông già nhìn hừng đông vừa rạng, nhìn con ngỗng xám đơn độc đang lao nhanh trên triền núi. Con ngỗng xám vội đuổi cho kịp bầy”. Hình tượng thiên thiên ở đây đã góp phần thể hiện niềm tin vào sức mạnh tinh thần của con người. Trong Con tàu trăng, tác giả đã viết về cái chết của nhân vật Chú Bé, qua đó nhằm khẳng định sức mạnh tinh thần của con người tích cực chống lại cái ác: “Em đã sống như một tia chớp, lóe lên một lần rồi tắt lịm. Nhưng chớp lại từ bầu trời mà lóe ra. Và bầu trời thì vĩnh cửu”. Hình tượng thiên nhiên ở đây lại ngân lên âm hưởng sử thi của truyền thuyết của dân tộc Kirghiz, và ẩn chứa bề sâu triết học của tác phẩm hiện đại.


Anh Đức cũng tỏ ra khách quan khi nhận xét: “Thật là mỹ mãn, khi người viết đặt đúng nhân vật của mình vô cái thổ ngơi, khí hậu của nó. Khi đó, sẽ thấy mũi miêu tả môi sinh cảnh sắc gây nên tác động tương hỗ lớn như thế nào, gây nên ấn tượng thấm thía như thế nào. Vì vậy trong sáng tác mà không vận dụng hoặc bỏ qua mũi miêu tả này thì uổng quá. Lẽ tất nhiên, năng lực miêu tả này ở mỗi người viết lại cũng khác nhau, và chủ định cũng có khác nhau. Ví dụ như ở Turgênép hay Sôlôkhốp thì tận dụng tả cảnh và tả rất hay, nhưng ở Đôtxtôiepky thì hầu như rất ít, ông này chỉ tập trung phân giải nội tâm đồng thời tỏ ra rất chú trọng sắp xếp tình tiết và theo tôi có lẽ phần nào do vậy mà nhiều lúc đọc khá nặng nề. Không phải là tôi không nghĩ chính Đốt cố ý tạo nên sự nặng nề đó, vì bối cảnh cũng như không khí ở thời điểm câu truyện của Đốt, Đốt muốn cần phải như vậy”. Đúng như vậy, nhân vật Đốt không có thì giờ để ăn và ngủ nữa, chứ đừng nói đến ngắm cảnh thiên nhiên. Nhưng không khí ở nhà mụ già cho vay nặng lãi, ở quán rượu, ở ổ điếm, ở phòng khách của quý tộc, địa chủ, thương nhân, ở tòa án, ở tu viện... Đốt đều miêu tả hết sức thành công. Đốt có kỹ thuật thu hẹp thời gian xảy ra câu chuyện trong vòng mấy ngày. Nhưng ở Anh Đức, kết cấu của truyện thường xây dựng theo tuyến thời gian đảo nghịch. Yếu tố thời gian và không gian đan bện với sự kiện nhằm thể hiện tính cách, tâm hồn nhân vật, là một nét không thể thiếu được trong tác phẩm của Anh Đức.


 


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »