tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19375735
Lý luận phê bình văn học
15.08.2009
Hoài Anh
Anh Đức - Con người và cảnh sắc thiên nhiên trong tác phẩm (2)

Đoạn tả chị Sứ bị bắt, Anh Đức viết:


“Sợi dây dù thít chặt hai bắp tay trần của chị Sứ vào cây cọc. Cứ mỗi lúc, Sứ có cảm giác sợi dây ấy càng thít chặt bắp tay mình hơn. Chị quỳ trên đất sỏi, mái tóc ướt đẫm sau lưng chị rủ đầy, xõa che kín phủ cả hai gót chân. Đêm bỗng nhợt dần, vì trăng sắp lên. Từ chỗ bị trói, Sứ có thể nhìn ra biển cả. Trước đó một chút thì chị chẳng thấy gì đâu, nhưng bây giờ chị đã nhìn thấy biển trước mặt mình. Chị tự nhủ: “Trăng lên rồi” và mở to đôi mắt, chị nhìn sóng biển chợt hiện ra, lao xao. Bây giờ, hầu như chị đã quên phắt ngay lưỡi dao của thằng Xăm, quên mình đang bị trói, quên cả tên lính gác đang đi đi lại lại kia. Giờ chị chỉ trông thấy có mỗi mặt biển đang nhấp nhô sáng rộng ra đó, chị chỉ trông thấy cái ánh biếc ngời như tự lòng biển thẳm đang xô dậy trên đầu các ngọn sóng đó.


Vầng trăng mười tám ngoi lên, vàng rực. Rồi trăng treo cao lên mãi. Đến lúc màu trăng đọng lại vàng ối, Sứ liền thấy mặt trăng giống hệt trái xoài Hòn chín, không có cuống, treo lơ lửng giữa không trung xanh nhạt.


Đêm nay trời lặng. Sóng biển rì rầm như kể chuyện không bao giờ hết. Thỉnh thoảng, gió biển tự ngoài khơi lùa qua bờ bãi, thổi vào hơi thở âm ấm mang vị muối. Tấm áo lụa mỏng ngắn tay của Sứ se se khô lại. Tóc chị rồi cũng dần dần được gió biển vuốt cho ráo đi. Ánh trăng đổ tràn trên bờ suối, làm nổi rõ bóng Sứ đang quỳ, nổi rõ cây cọc nhú lên qua đầu chị một gang tay. Lát sau, tóc Sứ chợt vờn nhẹ. Thế rồi mái tóc ấy bồng lên, bay xõa theo chiều gió. Chẳng còn thấy đầu cây cọc kia đâu nữa. Chỉ có áng tóc tắm ánh trăng của Sứ đang bay lượn. Đêm càng khuya, gió thổi càng nhiều. Sứ không nhìn vầng trăng nữa. Chị ngoảnh về Hòn Đất đen sẫm một vòm, ở sát kề bên chị. Lòng chị rối bời lên vì không biết sự thể trong đó bây giờ ra sao. Có lẽ anh em đồng chí đều bị trúng độc cả rồi cũng nên. Đang khát mà gặp cà om nước của Năm Nhớ đem về ai lại không uống. Trời ơi, anh em có biết đâu nước trong cà om có thuốc độc. “Năm Nhớ ơi, chúng nó giết em rồi”. Sứ kêu lên trong lòng và rùng mình nhớ lại ban nãy chính chị cũng đã định vốc nước đó lên uống. Nhìn xuống dòng suối đang loang loáng chảy xiết, Sứ giật mình sực nhớ lại quãng suối nước ban nãy hình như không chảy. Phải rồi, nước ở đó không chảy như ở đây. Chúng nó ngăn lại để bỏ thuốc độc mà! “Anh San ơi, anh ở ngoài đó có thấu không, tụi Mỹ Diệm nó ác độc thế đó, anh có biết không”.


Trong đêm thâu bàng bạc ánh trăng, chị Sứ gọi chồng mà nói. Chị nói với chồng từ xa, lòng đau đớn không ngờ mình lại nói ra những lời ấy tại lòng suối mà tám năm về trước đã có lần chồng chị đứng dưới khoát nước lên cho chị gội đầu. Rồi chính tay anh ấy cầm lược chải gỡ từng mớ tóc rối cho chị. Tại bên bờ suối này đây, chị đã từng có những phút giây sung sướng. Bây giờ thì trái ngược hẳn. Bây giờ, sợi dây dù buộc chặt đến đỗi từ bắp tay chị trở xuống đã tê đi không còn có cảm giác gì nữa. Lưng chị loi lói thốn đau vì cái báng súng thằng thiếu úy đánh chị ban nãy. Nhưng bây giờ cái làm chị khổ sở nhất vẫn là nỗi lo đang vò xé lòng chị. Chị lo cho mình thì ít mà lo cho anh em đồng chí trong hang, lo cho em gái và nhất là đứa con bé nhỏ thương yêu của chị.


Suốt đêm, Sứ mở mắt trao tráo. Vầng trăng lên cao đến đỉnh đầu, rồi khuất ra sau lưng chị mà nỗi lo của chị vẫn không vơi.


Gần sáng, mỏi mệt, Sứ ngoẻo đầu ngủ thiếp đi, trong lúc dòng suối bên dưới vẫn chảy, reo lên khe khẽ. Và gió biển khơi vẫn lùa vào, thổi bay tóc chị về phía sau như những làn sóng”.


Nếu đoạn trên tả từ trung cảnh, cận cảnh thoắt lại tả hoàn cảnh thì đoạn này là một đoạn phim quay chậm, có những cảnh đặc tả. Thời gian chỉ có một đêm, nhưng tác giả tả từng chi tiết của cảnh vật, từng động tác nhỏ của nhân vật, kết hợp với cảm thụ và suy nghĩ của nhân vật trong hoàn cảnh không gian và thời gian nhất định. Ở đây, vầng trăng và dòng suối cũng đều trở thành nhân vật đồng cảm với con người. Không gian lòng suối lại gợi lại quãng thời gian tám năm về trước khi chồng chị đứng dưới khoát nước lên cao cho chị gội đầu, như vậy là có cả những cảnh phục hiện, hồi tả, không gian cố định còn thời gian đẩy ngược lại phù hợp với tâm trạng của nhân vật. Cảnh gió biển khơi lùa vào thổi bay tóc chị ra phía sau như những làn sóng, lại là cảnh đồng hiện rồi mờ chồng, không gian và thời gian đan bện vào nhau lúc trời gần sáng.


Cách xử lý thời gian dài, ngắn, nhanh, chậm ở đây rất khéo léo và tự nhiên, cái đó cũng chính là tài nghệ đưa đến sự thành công của tác phẩm.


Anh Đức có ý thức rõ rệt về điều này. Trong bài Câu chuyện về công việc của người viết (Tuần báo Văn nghệ Tp.HCM, số 368, 15-2-1985), Anh Đức viết: “Việc miêu tả cảnh vật, thiên nhiên là một mũi miêu tả cần thiết, nếu làm tốt thì nó phối hợp với việc miêu tả nhân vật và sự việc rất đắc lực, gây nên tác dụng tương hỗ mạnh mẽ. Thiên nhiên, bối cảnh, đồ vật ở trong truyện chúng ta xuất hiện bởi một lẽ rất tự nhiên. Vì đó là phông, là nền hiện thực, vì con người được sinh ra trong đó, bởi ở trong đó, có quan hệ với nó hết sức chặt chẽ. Miêu tả bối cảnh, miêu tả thiên nhiên cũng là vì con người, ngoài sự kết hợp thể hiện tâm trạng con người ta còn có cơ hội đem đến cho người đọc sự thụ hưởng mỹ cảm dạt dào tươi mát của mặt đất, của bầu trời, nơi chốn nhân vật nghĩ suy, đi lại, hoạt động. Sức mạnh của mũi miêu tả này thật đáng kể, nếu người viết biết kết hợp triển khai đúng mức, nó có thể gây nên những ấn tượng kỳ diệu khó quên. Sáng tác văn học tuy không làm được như nghệ thuật tạo hình là trưng ra trước mắt ta những cảnh trí, hình khối và màu sắc, nhưng sáng tác văn học lại có khả năng tạo nên không khí, cảnh sắc ở bất kỳ chỗ nào cần thiết và nó còn làm được điều này xuyên suốt qua thời gian, qua cả quá vãng”.


Tôi cho rằng đoạn văn trên không chỉ đẩy ngược thời gian về quá vãng, mà khi chị Sứ nói với chồng trong ánh trăng, như muốn nhờ vầng trăng chuyển giùm lời chị đến với chồng, không gian cũng được đẩy ra ngoài miền Bắc, còn thời gian cũng được mở rộng đến tương lai.


Đến đoạn văn sau đây thì không gian cũng càng được đẩy xa hơn nhiều:


“Ngạn nhìn cái lối mòn ngoằn ngoèo ngoài miệng hang mỗi lúc một đẫm bóng chiều hôm. Nắng đã tắt từ lâu, và ngày cũng sắp không còn nữa. Xa xa ngoài kia, vườn dừa bỗng rì rào. Những tàu lá dừa ngả sang màu biếc sẫm, lả lay trong gió, trong lúc âm vang của sóng biển vẫn mạnh mẽ, ầm ã. Vườn dừa ngan ngát như đắm mình trong sương khói. Chẳng mấy chốc, cả vườn dừa nổi gió và cái lối mòn ngoằn ngoèo ấy nhòa đi. Đêm tối tràn ngập. Địch bắt đầu bắn súng. Bây giờ Ngạn nghe tiếng sóng rõ hơn. Anh thấy bóng đêm như cái bàn tay có phép vỗ im được mọi tiếng động nhỏ khác để cho biển, chỉ mỗi mình biển là được cất cao giọng nói. Triệu triệu lớp sóng từ ngàn khơi vỗ vào bờ lộng đó, muôn đời vẫn là cái tiếng nói lớn lao bền bỉ nhất của quả đất”.


Dù không gian chỉ thu hẹp trong ngoài một cái hang, nhưng cuộc kháng chiến chống Mỹ là một kỳ tích làm chấn động thế giới, nên nó đã mang tầm cỡ vũ trụ, ý nghĩa tượng trưng bật lên từ đây là có cơ sở từ hiện thực.


Đoạn cuối cùng, sau khi địch buộc phải rút, anh em du kích ra khỏi hang, tác giả viết: “Bước chân của họ đi hơi loạng choạng trong buổi sớm nắng hửng. Và đây là những tia nắng đầu tiên mà họ bắt gặp lại. Nắng chiều lóng lánh các giọt sương đọng trên ngọn cỏ. Ánh nắng chớm sáng ven vườn, rọi hực hỡ các vòm lá. Hòa vào trong nắng ấy là làn gió đương xuân, hây hẩy lao xao. Ngoài kia, sau những thân tre vàng óng đang chới với đu đưa, sóng biển đẫm nắng vỗ rối rít và ngoan ngoãn trườn nhẹ vào bãi”.


Với những từ vỗ rối rít, ngoan ngoãn trườn nhẹ... thiên nhiên ở đây được nhân cách hóa, cho thấy một thiên nhiên không còn thù địch mà hài hòa với con người. Trong cuộc chiến đấu giữa ánh sáng với bóng đêm, cuối cùng ánh sáng được tượng trưng bằng ánh nắng đã thắng. Hình ảnh tự nó nói lên không cần tác giả đưa ra bài học giáo huấn. Pau xtôp ki cũng từng khuyên: “Hình tượng cũng như hình dung từ cần phải chính xác, tươi mới và hàm súc”. Đoạn văn này của Anh Đức đã đạt được yêu cầu đó.


Thời gian và không gian là “tọa tiêu”, của tiểu thuyết. Về thời gian Hòn Đất thu hẹp trong một cuộc chống càn, bắt đầu là kế hoạch phục kích đón đánh địch ở vườn mãng cầu rồi sau đó là việc rút vào hang và sự phân công bố trí các lực lượng ở trong hang để chống lại những trận tấn công của địch từ ngoài vào. Và một khâu quan trọng nữa là việc tổ chức và lãnh đạo nhân dân bên ngoài giúp đỡ anh chị em du kích trong hang về mọi mặt: tiếp tế gạo nước, đấu tranh chính trị và binh vận. Cuối cùng là cuộc chống càn thắng lợi, địch thua phải rút, anh em du kích ra khỏi hang. Thời gian thu hẹp như vậy nhưng đã khái quát được toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của quân dân ta ở miền Nam với ba mũi giáp công, có sự kết hợp giữa hai lực lượng: nhân dân và du kích. Về lực lượng vũ trang chỉ gồm mười bảy anh chị em du kích và hai cháu nhỏ, được trang bị bằng mấy chục quả lựu đạn và dăm khẩu súng trường cùng súng ngựa trời tự tạo, chọi lại với trên một nghìn quân chính quy của địch được trang bị bằng vũ khí tối tân hiện đại, mà cuối cùng ta vẫn thắng vì có sự ủng hộ của quần chúng nhân dân rộng lớn. Qua đó có thể thấy thời gian và không gian thu hẹp, đan xen với nhau, đã tạo nên hoàn cảnh điển hình làm trường sở hoạt động cho những nhân vật điển hình.


Hégel trong Mỹ học từng đem thế giới hiện thực chung quanh mà loài người nhờ vào đó để sinh tồn, gọi một cách hình tượng là một “bức tranh có định tính”. Chúng ta trong bất kỳ cuốn tiểu thuyết nào, đều có thể nhìn ta một không gian “có định tính” không thể thiếu được. Phạm vi không gian đặc định trong tiểu thuyết là một thủ đoạn cực kỳ quan trọng để biểu hiện tính cách nhân vật, nếu rời khỏi không gian đặc định ấy nhân vật không thể nào hoạt động được. Không gian đặc định trong Hòn Đất cũng được thu hẹp trong Hang Hòn, qua đó biểu hiện tài trí, dũng cảm của các nhân vật trong Hòn Đất. Nếu mở quá rộng thì lại làm loãng chủ đề, ý nghĩa khái quát, tính điển hình và hiệu quả nghệ thuật của tác phẩm cũng giảm sút. Việc rút vào hang đã thể hiện được thực tế cách mạng tạm thời thoái trào, để tích trữ lực lượng chờ cơ hợi phản công dành thắng lợi quyết định. Kỹ thuật “thu nhỏ” của khoa học hiện đại giảm bớt khối lượng, trọng lượng vật lý và áp lực, chính là nhằm làm cho máy móc càng tinh vi hơn. Truyền thống văn học cũng đã chứng minh nhiều tác phẩm ưu tú đã sử dụng kỹ thuật “thu nhỏ”: Trong Thủy Hử, một trăm lẻ tám nhân vật trước đây ở những nơi khác nhau, hoàn cảnh riêng khác nhau nhưng vì bị bọn vua quan áp bức, bóc lột cuối cùng đều lên Lương sơn bạc tụ nghĩa chống lại nhà Tống, và ở không gian đặc định Lương sơn bạc, mỗi người đều thể hiện được tài trí, dũng cảm phù hợp với tính cách, sở trường của mình. Truyện vừa Người đàn bà trên cồn cát của Kobo Abe, không gian được thu hẹp trong một cồn cát, ý nghĩa tượng trưng và hiệu quả thẩm mỹ đều được nâng cao gấp bội.


Lâu nay, đối với “hoàn cảnh điển hình” mà Ăng ghen nói, người ta thường thường lý giải là bối cảnh xã hội, cái đó đương nhiên không sai. Nhưng “hoàn cảnh điển hình” mà Ăng ghen nói, nếu có thể lý giải là “không gian” của tiểu thuyết lại có thể bao hàm nội dung hết sức rộng rãi. Tức không những bao hàm không gian địa vực, bối cảnh xã hội mà tiểu thuyết miêu tả, đồng thời còn bao quát cả cảnh vật tự nhiên mà tiểu thuyết miêu tả. Đặc sắc không gian địa vực, nội hàm bối cảnh xã hội của tiểu thuyết, thường thường trong sự miêu tả cảnh vật của nhà văn, được thể hiện ra một cách hình tượng hóa cao độ, cho nên cảnh vật ở đây cũng chứa đựng hàm ý, góp phần tăng cường nội dung.


Hégel trong Mỹ học viết: “Nói tóm lại, các nhà nghệ thuật vĩ đại đều có một đặc trưng, tức là khi tả hoàn cảnh tự nhiên bên ngoài, đều chân thực, hoàn toàn minh xác. Bởi vì tự nhiên không chỉ là trời và đất chung chung và người cũng không phải là treo lơ lửng trong hư không mà là cảm giác và hành động ở một địa điểm nhất định nào đó như khe nhỏ, dòng sông, hồ biển, ngọn núi, đồng bằng, rừng rậm, khe sâu...”. Cái đó đối với việc chúng ta nhận thức đầy đủ về hàm ẩn không gian to lớn mà miêu tả cảnh vật trong một số tiểu thuyết thể hiện ra, có sự gợi ý nhất định.


Không chỉ trong tiểu thuyết, trong truyện ngắn Anh Đức có những đoạn tả thiên nhiên, cảnh vật đặc sắc.


Cảnh Đồng Tháp Mười trong “Xôn xao dòng nước”:


... Biển cỏ dầm mình trong làn nước nửa chua nửa ngọt. Nước trên đồng có chất phèn nên trong veo, có thể thấy rõ từng đàn cá chạy, từ con cá rô, đen mun tới con cá sặc anh ánh sắc tím. Trên mặt đồng nổi nhiều ốc bươu ốc lác, con ốc nào cũng đóng rêu xanh rờn... Mưa đã ngớt. Tôi đi ngang qua những bụi bông súng to như hoa quỳ, và những cọng bông súng màu vàng rêu lả lay dưới làn nước bị khuấy động làm cho tôi cứ như ngửi thấy mùi mắm kho từ ven xóm bên kia phất tới.


Cảnh đốt đồng trong “Khói”:


... Sau độ mươi phút chạy băng đồng, tôi nghe hình như có tiếng máy bay Khu trục từ xa vọng tới. Đồng thời cánh đồng trước mặt, khói cuồn cuộn bốc lên... Trung đội đi đầu và toán tù binh trong đó có hai tên Mỹ đã lẩn vào trong khói. Chúng tôi cũng nhanh chóng vượt tới trước, biến mình vào lớp khói ngày một dày đặc... Một chốc sau, nước mắt nước mũi giàn giụa cả ra. Tất cả chạy trong khói, tiến vào ven vườn. Máy bay địch đã đến, lồng lộn trên đám khói. Chúng không biết bắn vào đâu, vì khói che phủ khắp cánh đồng. Sau đó tôi nghe hàng tràng đại liên và bom nổ. Mặt đất rung lên.


Cảnh rừng tràm trong “Giấc mơ ông lão vườn chim”:


... Nay ông Tư Vườn Chim tuổi đã dư sáu mươi, thế mà cái vườn chim ông coi giữ đây còn cao tuổi hơn ông nhiều... Khi ông cùng vợ vác nóp tới cặm chòi, cụm rừng tràm nầy chim cò đã tới ngụ. Trong buổi đi kiếm đất khai khẩn bị lạc lối, ông leo lên cây cao nhắm hướng, xảy thấy giữa rừng tràm xanh ngăn ngắt nổi lên một cụm rừng nhấp nhô những cánh chim lên lên xuống xuống, và ông thấy tất cả những ngọn tràm ở đó đều nhuốm trắng, trắng xóa...


Chi tiết cô Quế đưa tay vuốt sạch những giọt máu tươi của mình ở đầu mũi chĩa trong “Khói”:


... Kế đó một mũi chĩa thứ hai xom xuống. Mũi chĩa này đâm trúng vai Quế. Trong ánh sáng mờ mờ của gian hầm, tôi thấy Quế bặm chặt môi. Tình thế này chỉ còn có cách là mở tung cửa hầm xông lên nổ lựu đạn rồi giải thoát. Nhưng tôi vừa mới chồm dậy thì Quế đã kéo nhẹ tôi lại. Quế bình tĩnh rút chiếc khăn sọc quàng cổ, áp nhẹ tấm khăn vào mũi chĩa đang cắm phập trong vai cô. Đợi chúng rút chĩa lên, Quế đưa chiếc khăn khéo léo vuốt sạch máu ở đầu mũi chĩa. Đến lúc mũi chĩa rút lên khỏi nắp hầm rồi, tôi mới nghĩ là hầm chưa bị lộ. Sau đó không có mũi chĩa nào xom xuống nữa. Tôi đỡ lấy Quế, mặt Quế tái lại. Tôi sờ vai Quế, liền thấy tay mình ướt máu... Máu Quế chảy ướt nóng cả ngực tôi. Lâu sau không nghe động tĩnh gì, Quế thì thào: “Nó đi rồi”.


Đoạn kết trong “Miền sóng vỗ”:


Không, dù anh có mù, em không thể khác. Tôi không bỏ anh, anh nghe chưa, anh Hai Chí?


Dường như sau mấy tiếng nói của người con gái, sóng biển đang cuồn cuộn trườn mình vào bờ cát cũng lên tiếng bảo rằng sóng đã nghe. Cửa Xoài Rạp ở trước mặt hai người giờ đây vẫn như tự thuở hoang sơ trời sinh đang mênh mông một vùng gió dập sóng dồi vô cùng vô tận kia như cũng thề rằng đã nghe cô gái nói. Và chiếc ghe cũ bể nằm úp sấp mà hai người tạm làm chỗ tựa nương nầy nữa, nó vẫn cứ mở mắt nhìn, vẫn cứ để cho gió lùa qua mạn sườn hở nứt mà hu hú cất lên cái tiếng kêu của kẻ làm chứng.


Và đây, ta hãy nghe Anh Đức phác họa chân dung ông Tám Xẻo Đước trong “Đất”:


Ông Tám là một ông già trạc ngót bảy mươi, hãy còn gân guốc, và là người duy nhất ở Xẻo Đước còn để đầu tóc. Ông già này tới Xẻo Đước hồi thuở heo rừng còn vô ỉa trong chòi, lúc cọp còn rình rập những người tới khẩn đất và con chim đi theo cọp đêm đêm cứ kêu nghe “boong boong... Krỏi.... Krỏi”. Nói không ngoa ông Tám chính là một cuốn trong bộ sử biên niên của xứ U Minh Hạ này đó vậy. Ông là một tay bẫy heo rừng và chồn cáo thật kỳ tài. Trời ban cho ông một cái mũi thính nhạy đến đỗi chỉ cần ngửi nước rạch buổi sáng thời ông cũng cũng biết ngay là có heo rừng hay là chồn đến đây uống nước hồi đêm. Đứng gần ông, lắm lúc tôi cứ nghe từ ông toát ra mùi vị của rừng nê địa, của cây đước, dòng kinh biển, ngọn lửa không bao giờ tắt dưới đất xếp mỡ màu...


Ngoài ra, trong nhiều chuyện ngắn khác như: “Con chị Lộc”, “Mùa gió”, “Người góa phụ phố Sinh Từ”, Anh Đức đều có những đoạn văn miêu tả đầy ấn tượng giữa người và cảnh.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
Nghiệp thơ - Lê Đạt 15.05.2017
Franz Kafka: Nỗi lo âu mang tên ngoại biên - Lê Thanh Nga 12.05.2017
Chỉ nhà thơ “Bên thắng cuộc” mới có cách tân? - Lại Nguyên Ân 10.05.2017
Nhà thơ Việt Phương: Thơ làm chết người như bỡn... - Ý Nhi 06.05.2017
xem thêm »