tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19002244
Lý luận phê bình văn học
14.08.2009
Hoài Anh
Anh Đức - Con người và cảnh sắc thiên nhiên trong tác phẩm

Đọc Anh Đức, tôi nhận thấy văn anh tươi tắn, tinh tế và có duyên hơn nhiều nhà văn quê gốc Nam Bộ khác. Quả thật nhiều nhà văn quê gốc Nam Bộ trước đây rất ít tả cảnh thiên nhiên trong tác phẩm của mình nên văn thường ít chất thơ. Trước đây tôi cho rằng vì Anh Đức đã có một thời gian ra tập kết miền Bắc, nên đã học tập được nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên trong văn Nguyễn Tuân, Tô Hoài... cũng như chịu ảnh hưởng của Pau xtôp ki, người đã từng chỉ ra “Văn xuôi chân chính bao giờ cũng thấm đượm chất thơ như chất nước ngọt ngào thấm trong trái táo. Văn xuôi là sợi cốt, còn thơ là sợi ngang. Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ sẽ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta đi đâu cả. Pha đê ép có lần nói rằng: “Văn xuôi cần phải có cánh”.


Đến khi đọc bài Tiếng vọng từ những cánh rừng (Tuần báo Văn nghệ số ra ngày 3-5-1997) tôi thấy Anh Đức viết: “Tôi ngồi xếp bằng kê giấy viết trên một cái nhà nhỏ có chân xếp. Cái bàn này do anh em đóng cho. Những bút ký và truyện ngắn như Bức thư Cà Mau, Đất, Đứa con, Con chị Lộc, tôi đều viết ra giữa rừng đước. Cho đến bây giờ, tôi nhận ra cái hoàn cảnh viết như vậy lại hóa hay. Giữa lúc tôi cất lên tiếng nói của chữ, tôi nghe tiếng hát của rừng, ấy là tiếng rì rào của những ngọn đước mỗi khi có trận gió thổi qua. Hoàn cảnh viết có khi cho phép mình lùa lên trang giấy những cảm hứng hoặc cho phép mình đưa thêm tình tiết, chi tiết sinh động mà nhiều khi mình chưa lường tới. Tỉ như khi tôi viết Bức thư Cà Mau gởi ông Nguyễn Tuân, nhờ biển ở cách chỗ tôi không xa, trong đêm thâu vọng về tiếng sóng nên tôi đã chen vô: “Giờ này biển nơi mũi đất Cà Mau đang động”. Hay là khi tôi viết truyện ngắn Giấc mơ của ông lão vườn chim thì tôi đang ở gần một rừng tràm giáp ranh với cái vườn chim kia, trong buổi chiều tà ngó lên thấy từng đàn cò, diệc bay ngang, nên việc miêu tả vườn chim là rất sát sao!”.


Tôi chú ý đến đoạn tự thuật này. Như vậy là hoàn cảnh viết đã cung cấp chất liệu thực tế cho Anh Đức miêu tả cảnh vật cũng như đã gợi chất thơ cho văn anh. Anh không những đã có vốn sống viết về những cái thực sự mình nếm trải mà còn có năng lực cảm thụ thiên nhiên, nhạy bén nắm bắt những đổi thay tinh tế trong cảnh sắc thiên nhiên ở vùng đất Rạch Giá, Cà Mau và nói chung là miền Tây Nam bộ. Chính vì vậy nên trong Bức thư Cà Mau, anh nói bầu trời Cà Mau không phải lúc nào cũng “ong ong tai tái” như nhà văn Nguyễn Tuân đã viết, cũng tùy mùa.


Năng lực cảm thụ thiên nhiên là một phẩm chất độc đáo của con người nhà văn. Người ta nhận thấy phần tốt đẹp nhất của Pasternak là phần dành cho sự mô tả hình thức thể chất của thế gian, những phong cảnh và hiện tượng thiên nhiên, mưa gió, ánh sáng, hoa nở. Thiên nhiên đến với ông với những hình thức cụ thể nhất, những biểu thị đơn sơ nhất và ghi vào tâm trí ông những nét thật sâu sắc, độc đáo, thấm vào tâm khảm vào nội tâm từ thuở ban đầu với “ngọn lửa xanh của lá cây như đốt cháy khu rừng với những cây cối tỉnh giấc đông miên”. Đến chiều thì “khu rừng như bị xuyên thủng bởi tia lửa mặt trời lặn”. Con người trước cảnh vật có cảm tưởng như “những cột ánh sáng ấy cũng xuyên qua mình, như sinh khí của đời sống ào vào ngực, chạy qua toàn thân làm mọc cánh sau lưng”.


Có hai loại văn miêu tả thiên nhiên: một loại bắt nguồn từ phong cảnh rồi sau mới đọng lại thành hình ảnh tượng trưng. Nhà văn để cho cảm giác ban đầu in dấu trinh trắng và chân thực vào tận ngọn nguồn rung cảm. Một loại khác đi từ một ý nghĩa tượng trưng để tìm đến phong cảnh và trả lời vào ý nghĩa đó. Pasternak khước từ thứ ngôn ngữ cứng đọng của xã hội để nghe tiếng nói không hình tượng của thiên nhiên, ông sống thân cận, cảm ứng với thiên nhiên và cố gắng nắm lấy cái sinh lực dẫn dắt nguồn sống của cỏ cây, hoa mầu cũng như động vật muôn loài và con người linh hơn vạn vật. Văn ông tái tạo ngôn ngữ và làm cho con người “sống lại lần thứ hai” với thiên nhiên và ẩn dụ của ông được “diễn tả dưới hình thức vắn tắt và hàm súc sự thán phục và sự kinh ngạc của con người đặt trước hiện tượng sống của mình”.


Hãy đọc một đoạn tả cảnh thiên nhiên trong truyện Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc, một cây bút quê gốc Nam bộ khác:


“Nơi đây, đất đã hết, mà chỉ có bùn, tràm mọc tới mé đất cuối cùng thì dừng lại, như là dân ở biên giới một nước kia dừng lại nơi bìa lãnh thổ mình.


Hết tràm thì có một khoảng trống nửa bùn nửa đất, trên ấy cỏ ống mọc rậm rì và chim cao cẳng đủ loại đáp đầy trong cỏ.


Tràm đứng trước bãi cỏ mà nhìn dân láng giềng mọc trên bùn đen. Đó là những cây ốm nhom, chen nhau mà vượt lên, cây này cách cây kia không đầy bốn gang tay.


Bờ biển thoai thoải dốc xuống, trông rừng cây lạ ấy như một đạo binh xuống núi, tuôn tràn từ trên cao xuống mé biển ngoài xa.


Xa xa lắm, có những cây mọc lẻ tẻ như những tên lính xung phong mau bước tiến tới để hãm thành lập công...”.


Chúng ta thấy văn tả cảnh ở đây đi từ một ý nghĩa tượng trưng chỉ mượn phong cảnh để trả lời cho ý nghĩa đó: “Đời mắm tuy vô ích nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu họ hưởng. Rừng mắm là một ẩn dụ chỉ để dẫn dắt đến mục đích giáo huấn: “Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hi sanh chút ít cho con cháu của con hưởng sao?”.


Ta hãy thử đọc một đoạn tả cảnh trong Hòn Đất của Anh Đức:


“Hòn Đất nổi lên trên Hòn Me và Hòn Sóc, gối đầu lên xóm, vào tháng này trông xanh tốt quá. Bây giờ vừa sang tháng chạp ta, đã nghe gió Tết hây hẩy lùa trong nắng. Cây cối trên Hòn và các xóm nằm liền Hòn vụt rạo rực, tràn trề nhựa sống. Vùng Hòn với những vòm lá của đủ các loại cây ăn quả đều sum suê, nhẫy nhượt. Những ngôi làng trong xóm, mái lá và ngói đỏ chen nhau coi đông đúc như một thị trấn. Nhà còn cất leo lên trên triền Hòn thoai thoải, ở xa ngó cứ như những chuồng chim câu, có cái nhà vách ván đã bạc thếch vì mưa nắng, có cái còn mới nguyên, vách lát bằng ván sao nổi lên đỏ sẫm. Xa quá khỏi Hòn một đỗi là bãi Tre, thấp thoáng những cây tre đằng ngà cao vút, vàng óng, những cây tre lâu nay vẫn đứng đấy, bình yên và thanh thản, mặc cho bao nhiêu năm tháng đã đi qua, mặc cho bao nhiêu gió mưa đã thổi qua.


Sau rặng tre ấy, biển cả còn lâu đời hơn, vẫn đang giỡn sóng, mang mang một màu xanh lục. Đứng ở đây, khi sóng sủi bọt âu yếm vỗ bờ, Ngạn thấy dưới chân bãi Tre như có một đường viền bằng ren, thỉnh thoảng lại dợn lên”.


Chúng ta thấy cảnh thiên nhiên trong truyện Bình Nguyên Lộc là thiên nhiên nhìn theo con mắt của tác giả, luôn luôn tìm ra ở đấy ý nghĩa tượng trưng, còn cảnh thiên nhiên trong tiểu thuyết Anh Đức, là cảnh thiên nhiên nhìn theo con mắt của nhân vật, hòa vào với cảm thụ của nhân vật, có khi ở cấp độ bản năng, nguyên sơ chứ không chăm chăm khái quát để tìm ra một triết lý, quá tầm suy nghĩ của nhân vật, tuy vậy vẫn không thiếu chất thơ chân chất mà gợi cảm.


Trong đoạn văn trên đã xác định cảnh trong hai trục không gian (Hòn Đất) và thời gian (vừa sang tháng chạp ta), vai trò của “thời gian” ở đây đã tác động vào cảm thụ của nhân vật. Không chỉ nêu rõ thời gian cụ thể của cảnh trước mắt, còn đặt không gian vào trong một quãng thời gian nhất định: “Từ ngày Đồng khởi tới nay chưa đầy một năm mà cảnh đã thay đổi hẳn. Trận càn giữa năm, nhờ quần chúng đấu tranh gắt nên nó cũng không phá được gì”. Như vậy ý nghĩa triết lý tự nó toát lên từ cảnh sắc, không cần tác giả phải chen vào bình luận.


Đoạn sau tác giả viết:


“Xóm Hòn Đất ở liền ngay chân Hòn. Cuối xóm là bãi Tre, cách biển vài trăm thước. Sau lưng xóm, còn một quãng vườn cây sum suê, rồi tới sông Vàm Răng. Sông không rộng cho lắm, ngày hai lần, nước sông lớn và ròng theo triều biển, theo tiếng bìm bịp kêu nghe tợ tiếng tù và thổi giục. Nhà cửa ở Hòn Đất san sát bên đường, xen vào giữa những vườn mít trái treo vàng xám, giữa những vườn dừa, vườn cau, và những cây ăn trái khác như mãng cầu, li ki ma, măng cụt. Ở đây có nhà cất trệt, nhưng cũng có nhà sàn phải đi lên bậc thang. Tùy theo lối vào nhà mà bậc thang đó bắc bên trái hoặc bên phải. Những nhà lớn lợp ngói thường có bậc thang ở hai bên, lên xuống bên nào cũng tiện.


Người ta bảo ngày mùa đứng ngoài Tri Tôn trông về Ba Hòn thấy giống như hình một cô gái tỉnh giấc nồng nằm trên chiếc chiếu vàng, chân cô gái duỗi ra và đầu nhổm tới phía một dải lụa xanh phơ phất.


Chiếc chiếu vàng là đồng lúa chín tới. Và tấm lụa xanh ấy là dòng sông đó chăng?”.


Góc nhìn của tác giả luôn biến đổi, từ miêu tả trung cảnh Hòn Đất lại chuyển đến cận cảnh xóm Hòn Đất, cuối cùng lại mở ra toàn cảnh từ Tri Tôn nhìn về Ba Hòn. Chính vì ở đoạn trên miêu tả chi tiết với phong cách hiện thực nghiêm nhặt nên đoạn dưới tả theo phương pháp lãng mạn huyền ảo, người đọc vẫn thấy xuôi thuận.


Pau xtốp ki từng khuyên: Nhà văn “chết” khi ở anh ta cạn kết nguồn dự trữ những quan sát sinh động. Sức mạnh của tưởng tượng không phải để tạo ra một thực tại không bao giờ có thực, mà là để có thể có được một quan niệm cụ thể về con người trong hoàn cảnh cụ thể. Có những yếu tố khó lòng mang ra phân tích. Có những khi nói chung là không sao có thể dùng lối biện giải lý lẽ để truyền đạt những điều cần nói. Trong mỗi sự vật đều có cái phần sâu xa không cho phép một sự phân tích nào xâm nhập vào được. Nó đến với tác phẩm một cách trực tiếp, gợi ra cảm tưởng dường như một cuộc sống đang trôi qua trước mắt chúng ta vậy”.


Đoạn tả cảnh trên của Anh Đức có câu: “Chiếc chiếu vàng là đồng lúa chín tới. Và tấm lụa xanh ấy là dòng sông đó chăng?”, lại làm cho tưởng tượng nối liền thực tại; đồng lúa chín tới chẳng phải là mơ ước nằm sâu xa trong tiềm thức của người nông dân không cần biện giải lý lẽ, do đó nó đến với tác phẩm một cách trực tiếp, hay sao?


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những cuộc trở về của thơ Việt hải ngoại - Thanh Thảo 29.04.2017
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 26.04.2017
Nhân tính và nhân phẩm trong tập truyện Ký thác của Bình Nguyên Lộc - Vinh Lan 25.04.2017
Lời trong đời sống và trong thơ - Voloshinov 22.04.2017
Nỗi đau trong văn chương - Trần Đình Sử 22.04.2017
Hai cách đọc bài thơ Khiển hoài của Đỗ Mục - Hà Văn Thùy 21.04.2017
Đồng thuận xã hội - Một số vấn đề lý luận - Chu Văn Tuân 18.04.2017
Nguyễn Đăng Na và những thành tựu nghiên cứu văn học trung đại - Trần Đình Sử 05.04.2017
Những giới hạn của lý thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam - Trương Đăng Dung 31.03.2017
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
xem thêm »