tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18982812
Lý luận phê bình văn học
13.08.2009
Hoài Anh
Nguyễn Xuân Sanh - Vắt ngang thu cũ xuân hồng thơ nay (3)

Đến thế kỷ XX trong bài Thơ và độc giả, Edward Hirsch viết: “Thi ca là một linh hồn tạo nên hoạt động và độc giả tham dự vào vai trò các tác giả trong hoạt động đó bằng cách đáp ứng trong việc tạo hình bài thơ, tạo nên hình dạng của bài thơ. Tôi có ý tưởng rằng một kiểu thơ mẫu mực nào đó hướng dẫn bạn đọc nó như thế nào. Nó chuyển tải những hướng dẫn được mã hóa thể hiện chủ đề, chỉ ra sự vận hành chính nó. Nó chứa đựng vai trò nó là gì - một vật được tạo chỉ định được những tính chất của chính việc tạo ra nó.


Thơ chuyển thông tin trước lúc nó được hiểu về cấu trúc vận hành theo hay bên trong người đọc trong việc thâm nhập vào ý thức. Hình thức là hình dạng của cách hiểu về bài thơ. Cách tái hiện trong thế giới và chính là hình dạng bài thơ tạo ra sự thể nghiệm của chúng ta.


Poièsis nghĩa là “tạo ra” và như nhận thức của con người Hy Lạp cổ đại, nhà thơ là người tạo ra trước hết, trước nhất. Người Hy Lạp không thấy sự mâu thuẫn (và tôi không nghĩ chúng ta cũng nên thế) giữa chân lý mà thi ca bằng cách này hay cách khác đòi được linh cảm và cùng lúc đó nghệ thuật, kỹ thuật đòi hỏi sự phối hợp tài năng khổ luyện và thực hiện lâu dài. Mở bách khoa toàn thư Princeton về thi ca và thi pháp với mục từ “Poesie” bạn tìm ra vào thời Phục Hưng từ “người tạo ra” cũng như “người sáng tạo ra nghi lễ” là tương đương đích xác với từ nhà thơ. Từ poem (bài thơ) trở thành tiếng Anh vào thế kỷ thứ VI và cùng với chúng ta qua thời gian từ ấy tạo nên sự chế tác, một loại sáng tạo một vật được tạo.


Tôi luôn luôn nhớ trong tâm trí tiềm năng ma thuật của vật được tạo ấy”.


Qua lý thuyết trên, ta hiểu được ý nghĩa câu thơ Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà.


Gaston Bachelard trong cuốn Thi học của mộng huyễn, viết: “Trong một thứ cảnh giới đột nhiên trong suốt, sự vật của quá khứ sự vật của hiện tại thành một thứ tồn tại sống sờ sờ, mà trong giờ phút tự ngã dần tiêu diệt chỉ còn lưu lại từng chút một liên quan với hiện tại, sự vật từ thời gian và không gian ở trung tâm ý thức tồn tại khác nhau, đột nhiên cùng với hoạt động tưởng tượng hiện tại của chúng ta, chộp lấy chúng ta mà thành một bộ phận của tồn tại của chúng ta, khiến chúng ta có năng lực cảm giác đặc biệt đem tình yêu nồng đậm ôm lấy âm thanh, hương vị, các thứ hoạt động, màu sắc và hình tượng”.


Đoạn lời này gợi cho chúng ta hiểu không khí xuất hiện đoạn thơ Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi


Trong bài Những kỷ niệm về đời và thơ (in trong cuốn Nhà văn nói về tác phẩm - NXB giáo dục, 2000) Nguyễn Xuân Sanh đã nói về bài thơ Xây mơ của mình: “Đây là một giấc mơ hay nhiều giấc mơ kết tụ lại. Lúc này tác giả tự xây cho mình một giấc mơ trầm mặc huyền cơ, nửa thực nửa hư. Bài thơ không có dấu chấm, phẩy nhiều câu nhiều đoạn dùng toàn vần bằng, thêm vào đó là những hình ảnh đậm màu lãng mạn: “sương lam”, “hồn hoa”, “giăng mơ”, “trăng”, “liễu” v.v... tạo cho bài một không khí Liêu trai. Bài thơ chỉ có năm khổ thơ, mỗi khổ tách ra làm hai vế, mỗi vế ôm gọn hai câu thơ đứng với nhau, kiểu cấu trúc bài thơ như vậy cũng giống như nội tâm tác giả, nó trẻ lại và không tách rời nhau mà quyện lại với nhau thành một cái nhạc điệu của tiềm thức và của ý tác giả đang “Nghe sương lam mờ đương giăng mơ” cũng có lúc nôn nao trong khoảnh khắc “Hồn nào lang thang trong đêm êm”, và cũng có lúc “Cúi đầu làm nũng trong trăng” cùng với mấy hàng thúy liễu đan mành bên bến vắng sông Hương. Rồi cũng có lúc đồng cảm là hồn thi sĩ tự hỏi mình “Môi ai bay dài qua đôi môi. Môi ai tìm tôi vai trên đồi” kết thúc bài thơ có bạn cho là một chút gì đó của huyền bí siêu thực nhưng cũng có thể vô cùng hiện thực: “Ghe mộng ngọt ngào xuôi bến mát – Đêm tàn hồn tôi đương buông tơ”.


Đến bài Người xuân, Nguyễn Xuân Sanh đã đi đến cùng tượng trưng:


Quay nhịp chiều tươi hương vút cao


Tay xuân chuốc rượu thuở xa nào


Phơi phới ngày vàng giăng mái tóc


Mi ướt rừng mùa sương buổi nao


Xe lá xuân hồn, hoa ngón tay


Mắt nghiêng cánh hạc mộng bờ ngày


Hương lên mi trầm mây biếc biếc


Ôi người mùa duyên men bốc say


Chén đàn xuôi trái ướt giăng không?


Môi ngát người xưa nhịp thắm hồng


Vườn lượn tay nghiêng xây trái rủ


Bờ xuân men nhạc múa tơ bông


Bâng khuâng vai ướt lệ sương ngời


Vòng xuân hoa mượt lộng nơi nơi


Nghe mạnh hương mùa khua trái giữ


Tay nao sương đất hạt lầu đời


Ở đây vẫn sử dụng hình ảnh như tóc, mi, mắt, môi, vai, tay, ngón tay... như trong bài Xuân tượng trưng của Bích Khê, nhưng trong thơ Bích Khê sự sắp đặt những chi tiết này còn có trật tự, đến thơ Nguyễn Xuân Sanh sự sắp đặt đã không tuân theo trật tự lôgic nữa mà theo liên tưởng từ những bộ phận trong thân thể người con gái với những sự vật, tình ý khác nhau theo cảm giác cảm xúc riêng biệt của nhà thơ. George Michaud trong cuốn Message poétique du Symbolism (Nizet, 1947) viết: “Tượng trưng đi tìm cái tinh tuý của thơ ca, tức là thơ thuần tuý, cái thứ thơ sẽ nói cho nó biết tinh thần và thế giới đã được tạo dựng ra sao bằng cách tiết lộ cho nó cách cấu tạo lý tưởng của vũ trụ. Và lúc đó nhờ trực giấc nó tìm cách đạt tới, qua bên kia tiềm thức, một thứ siêu ý thức cho phép nó hội thông với thực tại tối cao”.


Nhưng Nguyễn Xuân Sanh vẫn không ngừng tìm tòi sáng tạo, nhà thơ viết: “Đập vỡ những tư tưởng cũ, những hình ảnh cũ, yêu cho héo hon những mẩu đời và vững vì đã thành.


Ta biết tâm hồn ta còn đẹp đẽ vì ta còn biết đổi thay”.


Nguyễn Xuân Sanh năm 1940-1945 đã viết tập thơ văn xuôi Đất thơm đăng rải rác tạp chí Thanh Nghị và lần đầu in thành sách năm 1995 có nhiều rung động tình yêu đất nước.


CHIỀU GIỮA XUÂN


... Chiều nay ta chỉ yêu đồng xanh. Ta mộng cảnh đồng vàng. Đất say mê, đất tha thiết, đất tin tưởng, đất hiền từ. Cắn vào, chìm vào, mở rộng cánh tay.


HOÀNG HÔN


... Đất rộng lượng, đất thắm tươi vì nuôi dưỡng, vì ban ơn. Khi bông lúa trổ màu vàng ta dành buổi chiều nhớ cánh đồng vĩnh viễn.


Vĩnh viễn và sáng trong


Ngay bước đầu vào “Tháng lúa chín”, ông đã cảm nhận được cái “hồng của đất” và đã biết “nghĩ rằng một hạt cơm nếp mang nặng bao nhiêu hương đất, bao nhiêu tháng ái ân”. Từ những hạt thóc gạo gặp trong buổi “Trưa giữa mùa”, thơ đã “xui ta nhớ nhung những chùm dừa tay với tới. Trái tròn ơi, em mát mẻ trăng tròn”. Một viên đá long lanh “từ trên đường cái quê ta” cũng gợi cho ông cảm thức mênh mang về vũ trụ. “Nó là viên đá. Nó từ một ngôi sao nào đó xưa cũ hàng mươi triệu năm qua tách ra và rớt xuống mặt đất những thế kỷ ngày nay. Nó sẽ còn với mặt đất ta hàng triệu năm mai sau đây nữa. Ta cầm, ta mơn trớn viên đá của không gian bát ngát và của thời gian”.


Khi nhà thơ ngồi viết: “Nắng rơi trên bàn, Nó chạy trên chữ ta viết, trên dòng thơ ta ghi. Nó rung động giữa hai dòng thơ”. Và khi ngắm trăng:“Ta thích lắng nghe tiếng nhỏ, tiếng im. Có phút giây muốn không cần nghe tiếng. Sự lặng im toả muôn ngàn tiếng nói”. Nhà thơ sống trong đời thực mà có lúc sống trong đời... mơ: “Mơ được mà té ra chưa được” một chiếc lá rụng đúng lúc hai người yêu phải vĩnh biệt...” - Cái mơ dù chỉ nhỏ nhoi thế cũng là một phần biểu hiện của cái đẹp, của sự biết sống: “Không nhớ hoặc có một khoảnh khắc đẹp nào, thì hẳn chúng ta không biết sống. Không biết sống thì buồn biết bao”. “Biết sống” là sống đẹp cho mình và cho người khác: Cuộc đời của chúng ta có sống là phải có làm đi làm lại cho được cái đẹp tuỵêt vời. Nghệ thuật sống của người thơ không hề đơn điệu. Có khi lấy cô đơn làm bạn. Có khi “ta là một ta có trăm mình”, cái ta nhỏ (tiểu ngã) hòa đồng với cái ta lớn (đại ngã) là nhân sinh vũ trụ. Chương cuối tập sách có tiêu đề “Nghe tiếng đất” kèm niên điểm 1944-1945 và một dòng ghi chú “Viết trong những tháng tiền khởi nghĩa”. “Nghe tiếng đất” dường như nhà thơ nghĩ được một bản hợp tấu của quá khứ và hiện tại, của cái cực nhỏ và cái cực lớn, của cái Tôi và cái Ta: “Ngày ngày ta nghe tiếng khóc quen của suối nước. tiếng cười thân thiết của hoa đồng, nghe tiếng thầm thì của hồn ta”.


Từ cái Tôi cố gắng vươn tới cái Ta, nhà thơ tự nói với mình và nói với mọi người: “Tổ quốc là nơi anh. Tổ quốc là trong anh”, nhà thơ ngợi ca tiếng Việt: “Tiếng Việt đã mang mấy từ ân ái của xứ sở Việt Nam, tiếng nước tôi đã say sưa cái u tình của nàng Kiều, đã điều hoà được cái thanh phong nghìn năm của đất Việt, đã bồng bế được lòng tôi trong mến yêu. Tôi yêu và say tiếng nước tôi vì chỉ có tiếng nước tôi mới ôm ấp được tôi trong cõi bờ nước Việt. Lòng tôi có những ân tình chỉ thốt ra được bằng tiếng nói Việt Nam.


Cuối tập kết thúc bằng bài thơ “Những quyển sách” mà khúc thơ cuối cùng là:


Sách đậm hồn xưa trăm giấc mộng


Khi lòng bồng bế lửa đêm say


Tay ai cười mỉm bên đèn nhỏ


Khi ướp hồn thơm cạnh sách dày.


Khi viết những bài thơ cuối tập này. Nguyễn Xuân Sanh còn viết dưới đề mục Văn chương tin tưởng, một số bài đăng trong tuần báo Tự trị của Tổng Hội sinh viên Việt Nam. Bài Người Việt, tiếng Việt cũng viết theo cách này.


Những bài thơ của ông lúc đầu trong báo Gió mới của Tổng Hội sinh viên cứu quốc, trong tạp chí Tiên phong của Hội Văn hóa cứu quốc, tạp chí Sáng tạo hồi 1945-1946 không khác gì mấy lối thơ trước của ông. Tế Hanh đã nhận xét câu thơ:”Hôm nay rừng vui cái vui xanh” cũng như câu thơ “Bắt đầu tan tác mộng xanh xanh”, khác chăng là câu trên có chữ “vui” (viết sau cách mạng) và câu sau có chữ ”tan tác” (viết trước cách mạng).


Nhưng Nguyễn Xuân Sanh đi dần vào thực tế của cách mạng và cuộc kháng chiến chống Pháp. Bài thơ đáng chú ý nhất của ông thời gian ta mở đầu kháng chiên chống Pháp là bài thơ “Làng Nghẹt trong rừng đêm” - một làng của đồng bào dân tộc trên chiến khu Việt Bắc đi học bình dân học vụ:


Làng nho nhỏ cạnh rừng sương


Có khe nước chảy và vương mây trời


Ấm lòng Việt Bắc sáng ngời


Nơi đây cây núi với người thương nhau


Câu thơ của ông vẫn đẹp nhưng gần ta hơn, cởi mở hơn:


Anh từ Hà nội xa xa


Cắp dăm quyển sách là hoa đồng bằng


Thêm cây đàn ngọt như trăng


Màu mây tháng ấy cũng rằng thanh thanh


Bài Trước xuân thăm chùa Hương, thơ lục bát của ông đã nhuần nhuyễn hơn, phóng khoáng hơn:


Sáng trời Hương Tích gió hanh


Nắng thơm bên suối thung xanh vào mùa


Xuân chưa về núi chưa mưa


Nhưng bên ta khắp rừng mơ nở rồi


Khăn tơ xuân trải thung dài


Anh nghe xuân đến, bên đồi bước em


Đại già còn trắng sương đêm


Chờ ai hò hẹn bên thềm mùa xuân


Lối đi mấy đá chất chồng


Vắt ngang núi cũ xuân hồng ngày nay...


1965- khi giặc Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc, đó là bắt đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Xuân Sanh đi vào Quảng Bình – Vĩnh Linh, vùng biển chiến đấu dữ dội, một vùng làm cá làm muối dưới bom đạn quân thù. Trong bài Tiếng hát đồng muối, in trong tập Quê biển (1966) ông tả những đôi nam nữ thanh niên sản xuất, chiến đấu:


... Muối từ nghìn khơi đọng lại


hạt muối vàng


Tôi yêu những chàng trai ngực cháy vai ngang


Những o gái da hồng bánh mật


Tưới nước mặn sân phơi màu như vung tay gieo hạt


Trên giới tuyến vào đường mòn Hồ Chí Minh, Nguyễn Xuân Sanh đã suy tưởng bằng những bài thơ ngắn. Trong bài Sóng cát Cửa Việt, in trong tập Đất nước và lời ca (1978), Nguyễn Xuân Sanh viết:


... Sóng, cát ngày đêm làm võng ru


Ru doi cỏ lấp bãi tăng thù


Ru những giấc mơ người chiến sĩ


Đẹp như hè đang chuyển sang thu


Tế Hanh đã nhận xét: “Tôi nhận thấy, tuy có khác nhau, một số thơ trước cách mạng cũng như một số thơ sau cách mạng, là Nguyễn Xuân Sanh có thể không thiên về xây tứ, về cấu trúc thơ, mà thiên về gói ghém cảm xúc, ý thơ trong một số câu, một số đoạn. Cho nên một số bài thơ của Nguyễn Xuân Sanh ta dễ nhớ câu nhớ đoạn mà khó nhớ bài. Cái đẹp của câu thơ của đoạn thơ đôi khi chưa nâng được hết bài thơ lên.


Có thể nói là trong Nguyễn Xuân Sanh có chất thơ rất nhiều hơn bài thơ. Có lẽ vì thế mà Nguyễn Xuân Sanh cũng thích làm thơ – văn xuôi, thơ bút ký. Vì ở đây cần đến chất thơ hơn xây dựng thơ”.


Tháng 4-1997, cuối mùa xuân Đinh Sửu một số anh em nhà văn, nhà thơ đã tham gia một chuyến trở về nguồn: Thăm đất Tổ (Phú Thọ), Tân Trào (Tuyên Quang), và một số địa phương mà Hội Văn nghệ Việt nam đã đóng thời gian lâu để hoạt động trong kháng chiến ở Việt Bắc (Gia Điền bên Phú Thọ; xóm chòi bên Đại Từ – Thái Nguyên). Nguyễn Xuân Sanh đã viết chùm thơ nhật ký, dưới đây xin trích hai bài:


Mưa – Rửa – Đền


Sau bao ngày hội


- Xuân Đất Tổ


Ta đến vừa lúc Mưa – Rửa –Đền


Giọt nước nhẹ nhàng bay giọt nước


Tiếng chim rừng xa đâu vẳng lên


 


Là một cuối chiều giữa thiên nhiên


Cùng hát ca mấy tầng núi trúc


Cỏ ướt chưa buồn đi ngủ sớm


Quê hương giàu có lượn đồi nghiêng


Ta những nhìn vui vào tán lá


Ngồi im nghe đất vuốt ve mình


Nguồn cội trở về. Quê ta đã


Giao hoan trăm nẻo một bình minh


NỀN ĐÁ NGÔI NHÀ VĂN NGHỆ CÒN ĐÂY...


Sáng, hoa đại trên Tuyên


Chim họa mi đánh thức


Sơn ca hót đưa duyên


 


Tam Đảo, chút mù sương


Từ lòng ta, cứ hát


Trước, trèo nhiều tảng đá hoa cương


Nước reo, bảy dòng suối mát


 


Nay, khe hẹp đàn bướm bay


Khóm trúc đường mòn thanh tú


Đón ta:


- Nền đá ngôi nhà cũ


Năm mươi năm còn đây...


Vẫn giữ được đặc trưng phong cách trước đây nhưng cụ thể mà bớt trừu tượng, trong sáng chứ không bí hiểm, muốn đạt được điều đó phải trải qua phấn đấu gian khổ và lâu dài.


 


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 26.04.2017
Nhân tính và nhân phẩm trong tập truyện Ký thác của Bình Nguyên Lộc - Vinh Lan 25.04.2017
Lời trong đời sống và trong thơ - Voloshinov 22.04.2017
Nỗi đau trong văn chương - Trần Đình Sử 22.04.2017
Hai cách đọc bài thơ Khiển hoài của Đỗ Mục - Hà Văn Thùy 21.04.2017
Đồng thuận xã hội - Một số vấn đề lý luận - Chu Văn Tuân 18.04.2017
Nguyễn Đăng Na và những thành tựu nghiên cứu văn học trung đại - Trần Đình Sử 05.04.2017
Những giới hạn của lý thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam - Trương Đăng Dung 31.03.2017
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
xem thêm »