tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20778440
Lý luận phê bình văn học
12.08.2009
Hoài Anh
Nguyễn Xuân Sanh - Vắt ngang thu cũ xuân hồng thơ nay (2)

Một khóe mắt nhìn yên, thế mà ôm một giọt lệ sắp rơi. Giữa cánh đồng im lặng, sự sáng tác nở bừng trong lúc trầm tư. Ấp ủ cái mầm thực kia bằng cái đợi chờ nọ:


Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt...


Để tiếp đón một sự sáng tạo đương sắp sửa dặt dìu:


Một vừng giăng trong vắt lòng sông...


Và đàn đêm giăng xanh đã lặng lại để đúc màu sắc mùa thu.


Ta thấy rõ một tính chất trong tươi trên đó sẽ lưu thông một dịch thể điều hòa:


Con bờ và dòng nước


Hai vai, và suối tóc mây...


Một chiếc nhìn nghiêng đã đầy đủ một bài thơ yêu: Thây ướp đã giữ lại bao nhiêu thế kỷ hương sắc và ái tình Ai Cập. Và trong quãng lặng giữa hai vế câu thơ, đã dựng lên bao nhiêu lâu đài tráng lệ?”.


Qua bài trên, ta thấy Nguyễn Xuân Sanh đã có một quan niệm rõ ràng về thơ: “Nhạc đời” nguyên liệu để đúc nên thơ... Sự sống (tinh thần và thể chất) phả vào cái nhạc không bao giờ ngừng, đã phát huy được cái thơ muôn thuở...


Thơ: con đường tự tu, nhịp nhàng và thắm thiết


Thơ: tư tưởng trong tươi, cốt tủy, nhịp nhàng.


Thi sĩ vươn lên đến cái tôi cuối cùng của mình và sự vật”.


Đối chiếu với thơ Nguyễn Xuân Sanh trong Xuân Thu nhã tập, những quan niệm trên nhà thơ đã đạt được một phần.


Như trong Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà, nhà thơ không diễn tả sự vật mà diễn tả cái đẹp tiềm tàng trong cốt tủy sự vật: chiếc đĩa đựng trái cây bốn mùa, mùa nào thức ấy, để nói lên cái ý nhịp thời gian hòa cùng nhịp sông biển trong cuộc vận động không ngừng của vũ trụ. Đó cũng là nhịp trời đất trong bản nhạc đời vang dội vào thơ.


Trong câu Hoàng tử nghiêng buồn vây tóc mưa, âm thanh, hình ảnh nhịp nhàng quyện chặt với nhau một cách thắm thiết trong trí nhớ, câu thơ mang tính chất trong tươi, e dè, cao quý. Có nhiều cách cảm thụ khác nhau, ở đây tôi chỉ xin giới thiệu cảm thụ của tướng Nguyễn Sơn đối với thơ của Xuân Thu nhã tập. Trong bài Một buổi loạn đàm của Bửu Tiến kể về cuộc trao đổi giữa giáo sư Đặng Thai Mai với Khu trưởng khu Bốn Nguyễn Sơn về việc mở một khóa bồi dưỡng văn nghệ khu hồi đầu kháng chiến chống Pháp, có đoạn viết: “Anh bỗng quay sang thầy Mai: “Các anh còn cái ông làm thơ “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” nữa kia mà”; Thầy Mai: “Xuân Sanh! Anh mới về nước mà cũng chịu khó đọc nhỉ?”. Nguyễn Sơn: “Cái dạo mình phải giấu mặt mấy thằng Tàu vàng, theo lệnh ông Cụ, nằm bẹp gí một chỗ, và xa nước lâu ngày, nhớ nước quá, nên cứ vớ được sách nào đọc sách ấy, chỉ văn nghệ mới phản ảnh bộ mặt của một đất nước, nên đọc bạt mạng, đọc nghiến ngấu, đọc “Đáy dĩa”... cũng như đọc “Hương thời gian thanh thanh - Màu thời gian tím ngát”. Thầy Mai: “Đoàn Phú Tứ! Anh có hiểu loại thơ đó nói gì không?”. Nguyễn Sơn tỉnh bơ: “Không. Dùi đục chấm nước cáy như mình làm sao hiểu nổi những cái vặn vẹo của thứ văn nghệ “hũ nút” đó được. Không hiểu nhưng cứ nhơ nhớ: nó thanh thoát, lâng lâng, như khi nhìn áng mây trôi, khi ngắm dòng nước chảy. Nói gì với mình cụ thể? Không hiểu nổi? Nhưng nó lung linh như một khúc nhạc thiều... nó chập chờn như một bóng Liêu trai”.


Phải nhận rằng nửa thế kỷ trước ở Việt Nam không mấy người hiểu về thơ tượng trưng. Hoài Thanh không dám bén mảng vào vườn thơ tượng trưng đã đành, ngay cả Diệu Anh cũng chỉ hiểu lơ mơ.


Tượng trưng - nguyên ý của từ này trong chữ Hy Lạp là chỉ một sự vật chia làm hai nửa mà nhấn mạnh nên biểu hiện thế giới ý niệm ẩn giấu đằng sau thế giới tự nhiên; nó gạt bỏ lý luận di truyền và hoàn cảnh có ảnh hưởng quyết định đối với con người mà những người theo chủ nghĩa tự nhiên coi trọng, mà đòi hỏi dựa vào nhạy cảm và tưởng tượng của con người để sáng tạo nghệ thuật của tự nhiên. Đặt trên cái nền đó, người theo chủ nghĩa tượng trưng về đề tài nặng về tả cảnh và cảm thụ nội tâm của cá nhân, ít dính dáng đến đề tài xã hội. Về thủ pháp nghệ thuật họ phủ định tu từ trống rỗng và thuyết giáo cứng nhắc, nhấn mạnh thông qua các thủ pháp như ám thị, so sánh, liên tưởng v.v... tiến hành sáng tác.


Ngoài những đặc trưng chung nói trên, chủ nghĩa tượng trưng ở tác giả khác nhau ở quốc gia khác nhau chiết xạ ra ánh sáng khác nhau. Ở Pháp chủ nghĩa tượng trưng lấy Mallarmé, Valéry làm đại biểu là chủ nghĩa tượng trưng thuần túy, mà chủ nghĩa tượng trưng hậu kỳ Anh Mỹ lấy Yeats, T.S.Eliot làm đại biểu thì phức tạp hơn nhiều, càng hiện đại hóa.


Tính chất tượng trưng trong thơ Xuân Thu nhã tập, chịu ảnh hưởng quan niệm của chủ nghĩa tượng trưng thuần túy của Mallarmé, Valéry.


Nhưng tính chất thơ của từng nhà thơ trong Xuân Thu nhã tập cũng có khác nhau. Tính chất tượng trưng trong bài Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ là của chủ nghĩa tượng trưng thế tục (Human Symbolism) khai thác ý nghĩa tượng trưng trong phạm vi kinh nghiệm. Mallarsmé trách các nhà thơ Thi sơn nắm bắt sự vật trong toàn bộ và trình bày ra hết, do đó đã xóa mất bí ẩn, họ tước bỏ cái niềm vui lớn nhất của tâm hồn người đọc tức là tin vào những gì họ sáng tạo. Gọi tên đối tượng có nghĩa là phá hủy ba phần tư lạc thú được đoán ra dần dần. Khêu gợi (sugiérer) đó là ước mơ và mục đích tượng trưng cho phép sử dụng hoàn toàn cái bí ẩn đó, nó gợi ra một phần nhỏ cái vật thể tượng trưng để cho thấy một trạng thái tâm hồn hay ngược lại chỉ ra đối tượng rồi sau giải mã nó, để giải thoát ra một trạng thái tâm hồn cần phải có. Đừng bắt gọi ra một vật thể và như thế là phơi bày một tình cảm hay nói ngược lại. Đó là nghệ thuật lựa chọn một vật thể để từ đó rút ra một tình cảm, quá trình đó không lộ liễu mà thông qua ám thị.


Trước hết hãy nói về xuất xứ của bài thơ Màu thời gian. Trong tập hồi ký Nhớ bạn, một bạn thân của Đoàn Phú Tứ, ông Nguyễn Lương Ngọc viết: “Khi bài thơ này được công bố, anh Hoài Thanh, tác giả của quyển Thi nhân Việt Nam có viết thư hỏi anh Đoàn Phú Tứ về ý tứ của bài thơ này. Anh Tứ có trả lời. Anh Hoài Thanh đã cho đăng đoạn trả lời này trong tác phẩm của anh.


Song vẫn chưa rõ hết ẩn ý của bài thơ Màu thời gian. Ngày ấy, tôi có đi học ký xướng âm ở Nhạc viện (cũng ở Nhạc viện bây giờ). Tôi cùng học với một thiếu nữ con nhà sang, người mềm mại, mặt đẹp,đặc biệt nàng có đôi mắt mở tròn, toàn lòng đen, đôi mắt bồ câu. Tôi đã nói chuyện với anh Tứ về sự hội ngộ này. Và chúng tôi thường đạp xe lên hồ Tây nghe nàng dạo đàn. Được ít lâu sau chúng tôi nghe tin nàng ốm nặng. Anh Tứ bạo dạn xin được vào thăm. Không biết ý tứ ra sao mà nàng khước từ. Anh Tứ liền nghĩ đến điển xưa, có một nàng cung phi đã từ chối không tiếp quân vương, có lẽ không muốn để lại trong con mắt của quân vương hình ảnh tàn tạ của mình. Điển cố này đã làm nảy ý thơ:


“Người xưa, làm nghĩ đến người nay


Người nay,xử sự như người xưa”.


Cho nên màu thời gian không xanh màu xanh bình nhật,


Mà nay thời gian tím ngắt, bất thường. Cho nên hương thời gian chỉ thanh thanh thôi, thoang thoảng, xa vời, trong trắng”.


Trong Văn học sử thời kháng Pháp (Trí Đăng - Sài Gòn 1974), Lê Văn Siêu viết về bài Màu thời gian: “Thời gian vô hình, vô ảnh, làm sau có màu, màu đã từ con mắt của thi sĩ nhuốm vào. Và đó là sự sáng tạo đúng nghĩa của chữ ấy”.


Màu tím ngan ngát mà tác giả nói ở đây là màu hoa Myosotis, còn có tên khác là “Đừng quên nhau” (Ne m’oubliez pas) do một giai thoại Đức nói về câu chuyện tình giữa đôi vợ chồng sắp cưới, dắt tay nhau dạo chơi trên bờ sông Danube, nước cũng tím ngát (nên gọi là Danube Blue). Giữa lúc yêu đương nồng thắm ấy, một cành hoa rơi và trôi lềnh bềnh trên sóng nước. Người con gái khen sắc đẹp của hoa nhưng lại thương cho số kiếp của nó. Vị hôn phu vội cúi nhặt cành hoa, và vì sơ ý ngã xuống nước. Vùng vẫy mãi để bơi mà không lên được chàng kiệt sức ném cành hoa lên bờ, rồi chìm lỉm, miệng nói: “Xin đừng quên nhau”.


Màu tím ngắt, màu kỷ niệm không phai mờ, câu chuyện xa xưa ấy bên trời Tây, qua con mắt Đoàn Phú Tứ cũng vẫn là màu kỷ niệm, nhưng rộng lớn hơn và phảng phất trên trời mây thành cả một trời thương nhớ, nó là tình không phai nhạt của chàng đối với Tần Phi.


Ngày xưa không lạnh nữa Tần Phi


Ta lặng dâng nàng


Trời mây phảng phất nhuốm màu thời gian


... Ông Hoài Thanh đã hiểu lầm khi viết: Ta lặng dâng nàng là “Thi sĩ muốn nói dâng hồn mình cho người yêu. Song nói thế nó sỗ sàng quá. Vả người thấy mình không có quyền nói thế. Vì tình yêu ở đây chưa từng được san sẻ, nên phải mượn cái hình ảnh Trời mây phảng phất nhuốm màu thời gian để chỉ hồn mình”. Sở dĩ ông lầm là vì ông không quen đọc thơ tượng trưng và trừu tượng.


Tần Phi không phải là một cung phi mà rất có thể chắc là một cái tên mà thi sĩ ước định cho người yêu quá cố của mình. Ta lặng dâng nàng, không phải dâng hồn mình cho nàng mà là dâng cả một trời nhớ thương.


Mà quả vậy, thời gian ở đây là cái màu thời gian vĩnh biệt nhau, nó xa rồi, nên không còn nồng nàn nữa mà chỉ còn man mác.


Hương thời gian không nồng


Hương thời gian thanh thanh


Những câu kết thật là có hậu:


Duyên trăm năm đứt đoạn


Tình muôn thuở còn hương


Ấy là cái hương tình man mác, thanh thanh nhuốm vào thời gian đến thiên vạn cổ.


Tác giả còn có bài thơ nhan đề là Tủi (Tinh hoa 4, 17-4-1937) để ta bằng chứng bài Màu thời gian này là để nói lên lòng thương nhớ không nguôi đối với người đã khuất


Nhắm mắt ôm vùi chiếc gối bông


Bâng khuâng tìm giấc phấn hương nồng


Phấn hương chưa ủ tình yêu lạnh


Em chết! Trời ơi! Anh tủi lòng”.


Ngay cả Lê Văn Siêu cũng lầm. Người con gái nói đến trong thơ là cô Vân, con ông Nguyễn Văn Vĩnh, giữa cô với Đoàn Phú Tứ chưa có gì với nhau cả, chẳng qua Đoàn Phú Tứ chỉ mượn cái chết của cô làm nguồn cảm hứng để làm thơ, khóc tất cả các giai nhân đã bạc mệnh qua đời từ ngàn xưa mà ông gọi gộp chung là Tần Phi. Lê Văn Siêu chú thích: “Đoạn thơ nhắc đến giai thoại Dương Quý Phi bị giam lãnh cung, cắt tóc dâng vua và chuyện một cung nhân lúc gần mất không để vua thấy mặt tiều tụy đã cắt tóc dâng để đáp lại trong muôn một mối tình trìu mến của đấng quân vương, thì ông Hoài Thanh nói đúng”. Thật ra không có chuyện Dương Quý Phi bị giam lãnh cung, cắt tóc dâng vua, còn chuyện sau là của Lý phu nhân, vua là Hán Vũ Đế. Bài thơ của Đoàn Phú Tứ cũng giống như bài Ballde về các nàng ngày xưa của Franois Villon với điệp khúc Nhưng còn đâu những bông tuyết năm xưa, không phải khóc một người yêu cụ thể. Đoàn Phú Tứ sống độc thân mãi đến khi ông đi dạy học, một nữ sinh của ông, kém tuổi ông nhiều, yêu ông, muốn kết hôn với ông, ông mới lập gia đình.


Còn bài thơ Buồn xưa của Nguyễn Xuân Sanh thì lại chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng siêu nghiệm (transcendental symbolism) hướng tới một ý niệm của thế giới và cuộc đời. Ở đây, tượng trưng gắn liền thế giới biểu tượng – biểu đạt thấy được với thế giới đằng sau vô hình không được chỉ ra mà người đọc phải đoán nhận.


Mallarmé cho rằng ngôn ngữ thông thường không thể nói được bản chất thật sự của sự vật mà câu thơ phải tạo ra từ ngữ mang tính “tổng thể, mới, xa lạ với ngôn ngữ thông thường và giống như thần chú”. Bù đắp cho sự khiếm khuyết của ngôn ngữ, theo Mallarmé, “chính là dự tính bổ sung cho sự bất lực cố hữu ở mọi ngôn ngữ của con người để thiết lập một sự liên hệ và sự tương đồng của ngôn ngữ và thế giới, giữa ngôn ngữ và sự vật, giữa các ký hiệu đã được tổ chức trong các hệ thống và sự kiện được mang tính chất vật lý, vật chất cụ thể của con người, của các đối tượng, các cảm giác mà chúng làm thức dậy”. Tạo ra từ ngôn ngữ một công cụ có khả năng gọi hồn và gợi nhắc. Thơ không được kể chuyển, “không phải miêu tả sự vật mà là kết quả cái sự vật được sản sinh ra”.


Nắm vững những lý thuyết về thơ tượng trưng, chúng ta mới có thể hiểu được đúng và sâu những bài thơ của nhóm Xuân Thu nhã tập. Để trả lời những ai kêu là thơ mình khó hiểu, vì không giống thực tại, Apollinaire đã nói: “Khi muốn bước đi, con người đã phát minh ra bánh xe không giống chân mình. Tương tự, con người tạo ra chủ nghĩa siêu thực mà không biết”.


Còn chất nhạc mà tướng Nguyễn Sơn cảm thấy trong thơ Xuân Thu nhã tập thì lại xuất từ quan niệm của Edgar Poe. Ông cho rằng thơ nên lấy cái đẹp làm mục tiêu, nên tuân thủ nghiêm ngặt cách luật. Ông nhấn mạnh văn nghệ vừa không phải là phản ánh hiện thực khách quan, vừa không phải là phơi bày thế giới nội tâm của nhà văn, mà là một thứ gọi là “nghệ thuật thuần tuý”. Những chủ trương này của ông ta và trong tác phẩm của ông biểu hiện ra chủ khách mỗi bên ở một phía, khi gặp lại nhau ghép thành một cái, để tỏ ý hữu nghị, sau khi trải qua mấy lần diễn biến dần dần mở rộng nghĩa làm đại biểu cho một thứ quan niệm nào đó hoặc sự vật nào đó. Nó không giống với tỉ dụ thông thường, giữa cụ thể của tỉ dụ với bản thể chưa chắc đã có quan hệ thực chất, tượng trưng lại yêu cầu thể hiện thực chất của bản thể.


Do người theo chủ nghĩa tượng trưng cần biểu đạt tình cảm phức tạp quanh co, mông lung mờ mịt, bởi thế âm nhạc lấy “tính không xác định” làm đặc điểm trở thành thủ đoạn biểu hiện. Verlaine hết sức chú trọng đến hiệu quả âm nhạc trong nhịp điệu thơ ca, trong bài thơ nổi tiếng Nghệ thuật thơ của ông, ông từng viết: “Cái cần thiết đầu tiên trong mọi sự vật là âm nhạc, vĩnh viễn là âm nhạc”. Ngoài ra ông còn đề xướng ngôn ngữ thơ nên kết hợp giữa tính chính xác của miêu tả cục bộ với tính mông lung của toàn thể tình ý thơ, đề xướng chủ trương đừng màu sắc mà cần hòa sắc, đừng cách ngôn mà cần giễu cợt, đừng nói thẳng mà cần liên tưởng... Cái ông theo đuổi là thứ không khí tràn lan thẩm thấu, đó chính là đặc điểm của nghệ thuật âm nhạc.


Nhà thơ Anh Coleridge trong Tự truyện văn học từng viết: “Chúng ta đem tên gọi “tưởng tượng” chuyên dùng để gọi thứ sức mạnh tổng hợp giống như ma thuật đó, biểu hiện của thứ sức mạnh đó là khiến phẩm chất đối lập hoặc không hòa hợp có được cân bằng hoặc khiến chúng hòa hợp... đem cảm giác mới mẻ, thanh tân và sự vật cũ kỹ, thường thấy; đem trạng thái tình cảm khác thường và mạch lạc lớp lang khác thường; đem sức phán đoán không chút trễ nải, sự giữ mình chắc chắn đúng đắn và tình cảm nồng nhiệt, sâu sắc hoặc nóng bỏng hòa hợp lại!” “Ý thức được một thứ khoái cảm của âm nhạc... và còn có sức mạnh đem sự vật rối bời rút gọn làm hiệu quả đơn nhất, dùng một thứ tư tưởng hoặc tình cảm chủ đạo nào đó để biến đổi một loạt tư tưởng”. Những cái đó là cái mà tưởng tượng có thể ban cho. Trừu tượng chính là nguồn sức mạnh của thơ tượng trưng.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »