tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18451634
Lý luận phê bình văn học
11.08.2009
Hoài Anh
Nguyễn Xuân Sanh - Vắt ngang thu cũ xuân hồng thơ nay (1)

Nguyễn Xuân Sanh quê gốc ở Dinh Mười, xã Gia Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Nhưng song thân ông đi vào miền Nam Trung Bộ làm ăn và sinh ông ra ở Đà Lạt ngày 16-11-1920, lúc Đà Lạt mới bắt đầu dựng lên thành phố núi trên một vùng rừng cây ôn đới cao nguyên nước ta. Sau lớn lên về đồng bằng, đi học ở Khánh Hòa, Bình Định, Quy Nhơn rồi ra Huế, ông viết bài thơ Gió thu, bài thơ được giới thiệu trên tờ tạp chí Văn chương bước đầu của học sinh, chép tay trên trang vở học trò, trong đó có những câu dung dị:


Chiếc lá cuối cùng vừa mới rụng


Thế là đã hết gió thu qua


Nhưng do chịu ảnh hưởng của thơ Pháp, năm 1936, Nguyễn Xuân Sanh viết trường ca Lạc loài, đầy sương mù và ảo mộng. Sau đó viết theo hướng ấn tượng, tượng trưng mà ảnh hưởng rõ rệt nhất là Mallarmé, Valéry như bài Đường xuân:


Bắt đầu tan tác mộng xanh xanh…


Nhạc mỏng lầu xuân rướm mượt cành


Gió trắng se mùa thơm dáng liễu


Xa vời nẻo nhạt xanh buồn xanh


 


Đồng men đây – với đó bình đời


Trầm chân mang ướt gió xa xôi


 


Thuyền hương én lá dịu dàng non


Trái ngọc du dương mở dặm hồn


Gió mới tuôn đàn xuôi bước dẻo


Đây nguồn nắng mật tủa thời ngon


 


Ánh ngọt mi hương lệ tóc mềm


Thơ vàng tưới lụa mướt chân êm


 


Mùa đàn bước lạnh tiếp duyên thơ


Dây cỏ buồn xa ấm mộng bờ


Hãy vớt mai trầm vang nắng gió


Đường xuân rồi khép với chiều tơ


 


Chen ánh mùa say đượm nét tranh


Hồn tươi giao má gởi duyên cành


Ông tham gia nhóm Xuân Thu nhã tập, trong tập này có in một số bài thơ của ông trong đó có bài Buồn xưa:


Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi


Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y


Rượu hát bầu vàng cung ướp hương


Ngón hường say tóc nhạc trầm mi


 


Lẵng xuân


Bờ giũ trái xuân sa


Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà


Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm


Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa


 


Buồn hưởng vườn người vai suối tươi


Ngàn mây tràng giang buồn muôn đời


Môi gợi mùa xưa ngực giữa thu


Duyên vàng da lộng trái du ngươi


 


Ngọc quế buồn nào gội tóc xưa


Hiến dâng trĩu sách nhánh say sưa


Hiến dâng quả bồng hường


Hoàng tử nghiêng buồn vây tóc mưa


 


Đường tàn xây trái buổi du dương


Thời gian ơi tưới hận chìm tường


Nguồn buồn lạnh lẽo thoát cung hơi


Ngọt ngào nhớ chảy tự trăm phương.


Lê Huy Vân trong bài Đọc Xuân Thu nhã tập (Thanh Nghị số 21.16 tháng 9-1942) có đoạn viết: “Trong các thi sĩ của Xuân Thu, thì có lẽ ông Nguyễn Xuân Sanh “thuần túy” nhất. Thơ ông Phạm Văn Hạnh tuy vậy còn dễ hiểu vì ông tuy mê mà vẫn tỉnh, một vòng dây vẫn còn nối chặt chẽ các chữ và các mẫu câu của ông lại. Thơ ông Nguyễn Xuân Sanh mới thật là bí ẩn.


Nhài đàn rót nguyệt đôi vú thơm


Không có một cái chấm câu và toàn vần bằng cả. Người ta có cái cảm giác rằng tác giả đã viết rất nhiều “chữ một” vào những mảnh giấy, gập lại để vào trong một cái mũ trắng rồi rút ra từng tờ, biến những chữ tìm thấy chữ nọ ở cạnh chữ kia, đủ bảy chữ lại xuống dòng. Nhưng đó chỉ là cái cảm giác, hiện biến trong chốc lát. Thật ra muốn hiểu cái hàm súc trong thơ Nguyễn Xuân Sanh phải gắng sức rất nhiều. Trước hết phải học thuộc lòng rồi ngâm đi ngâm lại kỳ cho tâm thần ở một trạng thái giao cảm mới lĩnh hội hết được ý thơ. Đó là một phương pháp mà một giáo sư người Pháp vừa trình bày cho chúng ta để đọc văn Paul Claudel. Tác giả mấy dòng này chưa có cái can đảm thực hành câu khuyên đó nên không thể nói được rằng thơ của nhóm Xuân Thu có giá trị hay không. Miễn cưỡng phê bình e tỏ ra mình vô lễ với thi nhân”.


Diệu Anh (Đinh Gia Trinh) trong bài Đọc Xuân Thu nhã tập (Thanh Nghị số 22, ngày 1 – 10 - 1942) có phần “Thơ của ông Nguyễn Xuân Sanh và Phạm Văn Hạnh”. Trong đó có đoạn viết: “Vì ngôn ngữ là lợi khí của trí não, mà thơ bắt buộc dùng ngôn ngữ, nên ngôn ngữ phải qua buồng của lý trí mới tới đập cửa được thế giới xúc động. Đã có một phần lý trí làm việc trong khi ta cảm xúc vì một chữ. Lý trí làm sáng sủa câu thơ không phải là đi xâm chiếm quyền lợi của ai, chỉ là khơi cho sâu và rộng nguồn cảm xúc.


Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y


Câu thơ làm tôi rung động bao nhiêu khi tôi tưởng tượng hồn mang chở xiêm áo mỹ nhân, khi tôi hiểu nghĩa xuôi của câu thơ.


Xét như vậy, thì muốn đuổi hết lý trí ra khỏi thơ thực là muốn một điều không sao thực hành được. Ngôn ngữ là lý trí, mà thơ bắt buộc dùng ngôn ngữ. Nghệ thuật âm nhạc thuần túy hơn vì âm thanh giáng thẳng vào thính giác rồi làm rung động thần kinh. Mỗi chữ trong câu thơ có một ý nghĩa thì nghĩa xuôi của câu thơ sẽ làm cho ý nghĩa từng chữ rõ rệt hơn lên, trong một hệ thống mà vẫn không mất sức khêu gợi không cùng.


Trong bài luận thuyết thơ, các tác giả dẫn câu:


Gió cây trút lá, trang ngàn ngậm sương


Câu thơ ấy làm rung cảm, nhưng ta hội ngay được ý xuôi của nó. Người ta thưởng thức câu của Nguyễn Xuân Sanh:


Tỳ bà sương cũ đựng rừng xa


vì nó không quá tối. Nhưng người ta chỉ cảm thấy cái hay của câu:


Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà


Khi người ta hiểu: hoa quả thay đổi luôn trên đĩa, mùa (thời gian) đi trên đáy đĩa theo một nhịp rộng lớn.


Vậy thì, nghĩa xuôi vẫn cần lắm trong thơ ông Xuân Sanh và khi hiểu nó rồi người ta mới xúc động hoàn toàn, mãn nguyện, thế thì nói sao được câu thơ trên kia “chiếm đoạt ta tức khắc, hoàn toàn, tất nhiên?”. Những trạng thái tâm lý thuộc về tính tình. Thơ ảnh hưởng đến tri giác (nếu người ta thường đọc thơ bằng mắt). Mỗi chữ gây một hình ảnh gợi một màu sắc và có những âm thanh ta nghe trong yên lặng gợi những cảm xúc.


Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu


“Quạnh”, “đìu hiu”, gợi buồn (gây một cảm giác vắng vẻ), “thu” mang tới một âm thanh nhẹ dịu, những hình ảnh buồn nhẹ nhàng; “hơi thu” một cái gì mong manh, phảng phất, “lau lách” gây hình ảnh những ngọn lau xơ xác, gió lay, và âm thanh của tiếng “lách” lại như cho những bông lau một thứ linh hồn cô quạnh. “Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu”, một ngọn gió buồn êm êm nao nao nhẹ thổi qua tâm hồn ta.


Vậy có thể làm một câu thơ với những chữ ghép lại với nhau, mỗi chữ khêu gợi một cách, để tâm hồn kẻ đọc xôn xao cảm giác, sống cả một trời xúc động. Không cần những chữ ấy thành một câu có một ý nghĩa gì dễ hiểu cho lý trí. Ta hãy đọc:


Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi


(Buồn xưa - Nguyễn Xuân Sanh)


Hoa quỳnh (hình ảnh), chiều (gây cảm giác: chiều xưa dĩ vãng và buồn), nhạc trầm mi (tiếng nhạc, hương trầm, mi mắt giai nhân). Câu thơ làm rung cảm các giác quan ta, làm rung cảm cả tâm hồn: hoa quỳnh, buổi chiều, nhạc êm, hương ngát, mi say đắm. Sau khi bị những chữ, những âm thanh chiếm đoạt và làm ta rung động, ta có thể tìm hiểu câu thơ: “Nhạc, trầm, mi như đọng trên hoa quỳnh, buổi chiều...”


Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi


Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y


Buổi chiều trông hoa quỳnh, vẳng nghe nhạc, ngửi thấy hương trầm, trông thấy mi mỹ nữ của cả một đời xưa. Hồn ta như say sưa vì đẹp dĩ vãng (hồn màu xanh tươi, ngát hương) chở mang dấu xiêm áo của các mỹ nhân thời xưa múa khúc Nghê Thường...


Nếu hai câu thơ ấy ta dùng để định giá trị nghệ thuật của ông Nguyễn Xuân Sanh thì chỉ có lợi cho thi sĩ. Hai câu thơ ấy có nhạc điệu và thực có giá trị. Lợi khí là thanh âm, hình sắc. Ta có thể tìm hiểu nghĩa xuôi của câu thơ có khi làm giảm cái độ giàu của cảm xúc đầu tiên: trước khi hiểu nghĩa xuôi, bao nhiêu cảm giác xảy đến trên hình ảnh “hoa quỳnh”, bao nhiêu xúc động rộng rãi bám vào hình: “chiều”, xôn xao vì “nhạc”, “trầm”, “mi”, khi hiểu nghĩa xuôi, tâm hồn ta chú ý vào nghĩa ấy, cảm xúc có lẽ thu hẹp lại (buổi chiều chỉ là chiều trông hoa quỳnh).


Nhưng xét kỹ ra thì thuyết thơ ấy không phải hoàn toàn là vững chắc. Đứng độc lập, những tiếng “nhạc, trầm, mi” gây nên cảm giác ấy thực ra hời hợt và bơ vơ như không tìm được bấu víu, vì tâm lý học đã cho ta biết cảm giác có liên lạc mật thiết với lý trí, một cảm giác mạnh và sâu là vì có những tưởng tượng (représentations), những liên tưởng (association d’idées, d’image), nghĩa là vì có hoạt động của lý trí. Không thể tách bỏ tình cảm ra một bên, chỉ nói chuyện thẳng với những dây cảm xúc. “Nhạc”, nhạc xưa, nhạc Nghê Thường, nhạc ở đáy thiên cung.


... Trong những bài thơ của ông Nguyễn Xuân Sanh ta nhận thấy một công phu kiến trúc rất lớn, một thận trọng đặc biệt để tìm lời, chữ. Ta gặp đó đây những câu thơ rất hay, những hình ảnh, màu sắc lạ lùng. Nhưng để rung động nguời ta thì ông Nguyễn Xuân Sanh chưa chắc đã luôn luôn đạt tới mục đích. Trong bài về “Thơ” có diễn cái quan niệm đại cương làm căn bản cho lối thơ mới, nhưng từ những lý thuyết trong bài ấy đến cái thực hành của ông Nguyễn Xuân Sanh người ta không trông rõ mối liên lạc mật thiết. Các tác giả bài ấy bảo thơ cổ Á Đông khi xưa hàm súc, gợi cảm vô cùng. Nhưng ta phải nhận thấy rằng thơ cổ Á Đông không có lối kiến trúc của ông Nguyễn Xuân Sanh, và phải nghĩ đến Paul Valéry, đến Jean Cocteau, đến các thi gia đăng thơ trong tập Réverbères ở Pháp mới tìm thấy nhiều thí dụ tương tự. Trong Xuân Thu nhã tập thiếu những tiểu luận để thanh minh với độc giả về những bí hiểm của lối kiến trúc mới. Bắt vào một căn nhà lại không cho ta chìa khóa mà thi sĩ lại cứ bảo lỗi tại ta!”.


Thực ra thì ngoài bài thơ ký tên Đoàn Phú Tứ - Phạm Văn Hạnh - Nguyễn Xuân Sanh (mà tôi đã đề cập đến trong bài viết về Phạm Văn Hạnh), Nguyễn Xuân Sanh còn viết một bài ký tên ông với đầu đề Thơ với nhạc đời.


“Tiểu luận này không phải lý thuyết về Thơ. Một cách lý thuyết đẹp đẽ nhất là sống thơ và làm thơ. Một lý thuyết chỉ sống được khi nào không phải là bông hoa dại thốt nhiên mọc trên một mớ vô bằng.


Nhạc đời: nguyên liệu để đúc nên thơ. Một chiếc lá dù đương rơi, hay nằm yên dưới đất, cũng dự một phần vào sự làm nảy nở lưu thông cái nhạc (một khóe cười, một viên sỏi, một chiếc sao băng, một tên người...) là bấy nhiêu cung trong bản nhạc đất trời”.


Nhưng phải có rung động nhịp nhàng, mới có thơ mới đến thơ, mới được thơ. Sức cảm xúc làm men nồng cho sáng tạo. Ta nhờ ngọn gió thổi vào chiếc lá. Và chiếc lá rung là chiếc lá thơ, vui lòng người liên cảm, có gió có thơ:


Gió lay nhẹ lá sương gieo nặng cành...


(Đất thơm, NXS)


Gió, đường tiết điệu con người. Hô hấp cái ngoài ta, để làm nên ta... Gió lại cũng là một giai điệu của sự sống, mà sự sống (tinh thần và thể chất) phả vào cái nhạc không bao giờ ngừng, đã phát huy được cái thơ muôn thuở.


Một vật rung động xa vời, là thơ.


Gió đẩy nhạc lên thơ, xốc được cái đẹp tiềm tàng trong tủy kín sâu muôn vật. Thi sĩ thấm thía nhịp đất trời, bắt gặp cái bản ngã kiều lệ muôn loài, cần phải tái tạo luôn luôn. Thi sĩ tạo mình trong tư tưởng, hành vi.


Đấy là kiến trúc đời. Đấy là sáng tạo


Đập vỡ những tư tưởng cũ, những hình ảnh cũ, yêu cho héo hon những mẩu đời đã vững vì đã thành.


Ta biết tâm hồn ta còn đẹp đẽ, vì ta còn biết sẽ đổi thay.


Thơ: con đường tự tu, nhịp nhàng và thắm thiết.


Thơ: tư tưởng trong tươi, cốt tủy, nhịp nhàng.


Thi sĩ vươn đến cái tôi cuối cùng của mình và sự vật.


Không nói đến những ý diễn trọn bằng lời, vì muốn trực giác đến gợn cuối cùng của tư tưởng, cảm tình, cảm xúc. Nên Thơ cũng vươn đến sự lặng lẽ hòan toàn. “Ta lặng lẽ theo lễ nghi cho trọn đường bông trái” (Đất Thơm, NXS).


Hiệu năng nỗi thầm lặng cuối cùng kia đã đưa thơ đến chỗ trong tươi, e dè, cao qúi.


Thơ kéo dài sức cảm xúc điều hòa, để hấp dẫn ta vào những bến trời rung động mới. Ở đây, người ngợp có lẽ vì không khí xung quanh quá trắng, nhưng dù sao, tâm hồn và trí thức cũng bớt đau hơn.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »