tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18460267
Lý luận phê bình văn học
10.08.2009
Hoài Anh
Tế Hanh, Thơ nằm mãi bên sự sống (2)

Thí dụ câu “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng” của Tế Hanh là “sự trừu tượng hóa, đặc hóa và nội tâm hóa của trải nghiệm thuộc cảm giác”.


Còn “Thế giới tạo hình mà văn hóa truyền lại ở các mức độ khác nhau của nó”, lại bắt nguồn từ các tác phẩm mà nhà thơ đã từng đọc từ thuở ấu thơ, do đó đã được thừa hưởng “văn minh hình ảnh” mà nhân loại qua nhiều thế kỷ tạo nên.


Chính nhờ được thừa hưởng cái “văn minh hình ảnh” đó, mà khi sang thăm Trung Quốc, Tế Hanh đã viết được Bài thơ tình ở Hàng Châu:


Anh xa nước nên yêu thêm nước


Anh xa em càng nhớ thêm em


Trăng Tây Hồ vời vợi thâu đêm


Trời Hàng Châu bốn bề êm ái


Mùa thu đã đi qua còn gởi lại


Một ít vàng trong nắng, trong cây


Một ít buồn trong gió trong mây


Một ít vui trên môi người thiếu nữ


Lá phong đỏ như mối tình đượm lửa


Hoa cúc vàng như nỗi nhớ dây dưa.


Khi đi trên Bạch Đê, Tô Đê ở Hàng Châu hẳn Tế Hanh đã nhớ đến những câu thơ tuyệt diệu của Bạch Cư Dị, Tô Đông Pha viết về Tây Hồ và Hàng Châu, những bài thơ Đường Tống viết về lá phong, cúc vàng… như Đình xa tối ái phong lâm vãn, Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa (Rừng xa yêu nhất rừng phong muộn. Lá đỏ hơn hoa giữa tháng hai - Đỗ Mục); Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ (khóm cúc hai phen tuôn lệ cũ - Đỗ Phủ). Và khi nhìn tháp Lục Hòa trên sông Tiền Đường, hẳn anh nhớ đến những câu thơ Nguyễn Du trong Truyện Kiều: “Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san”, “Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai”. Nhờ “văn minh hình ảnh” đã tiếp thu từ sách vở, anh có thể viết được câu thơ: Lá phong đỏ như mối tình đượm lửa. Nhưng muốn viết được câu thơ: Hoa cúc vàng như nỗi nhớ dây dưa lại phải qua quá trình nội tâm hóa: Anh vẫn nhớ người vợ đầu tiên lấy ở miền Nam, mà vì hòan cảnh buộc lòng phải chia tay. Chính sự nội tâm hóa ấy đã khiến thơ Tế Hanh có dấu ấn riêng không lẫn với các nhà thơ khác. Do đó khi Chế Lan Viên làm bài thơ Liễu đưa Tế Hanh và bảo Tế Hanh cứ coi là thơ của mình, người đọc tinh ý vẫn nhận ra đó không phải là thơ Tế Hanh. Câu Chắc gì mắt em như lá liễu. Đã cắt lòng anh một nét dao hợp với Chế Lan Viên vì anh bị người vợ đầu tiên lấy ở miền Nam bỏ sau khi ra Bắc. Còn Tế Hanh khi viết về liễu lại viết Mắt đen một mí cười sau liễu, Vạn Lý trường thành hết cách ngăn, vì anh luôn nghĩ đến ngày mai đất nước thống nhất, sẽ được gặp lại con gái mà anh để lại ở miền Nam. Ở đây có cả vai trò của vô thức.


Có lẽ ít nhà thơ như Nguyễn Du đặt thiên nhiên rộng lớn và con người nhỏ nhoi trên cùng bình diện và khai thác cái vô tận ở cả hai đối tượng đó:


Nàng từ quán khách xa xăm


Bạc phau cầu giá đen rầm ngàn mây


Vi lô san sát hơi may


Một trời thu để riêng ai một người...



Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi.


Một con người phải chịu đựng nỗi buồn của cả một trời thu. Tiếng sóng của cả biển rộng mênh mông kêu ầm ầm quanh ghế một người con gái ngồi... Sự đối tỉ càng làm mạnh thêm tính khốc liệt của số phận con người.


Trong bài Sóng, Tế Hanh viết:


Biển một bên, em một bên


Ta đi trên bãi cát êm đềm


Thân buông theo gió, hồn theo mộng


Sóng biển vào anh với sóng em…


Ở đây thiên nhiên không thù địch mà hòa hợp với con người. Tế Hanh đã thử nghiệm nhiều lối thơ: có khi giản dị mà hàm súc như ca dao:


Không em, anh chẳng biết tình


Không ngày hôm ấy đời thành ra sao?


Có khi anh làm lối thơ lập ý kiểu traits d’esprit (trí khôn), cô đúc như thơ hiện đại phương Tây:


Nếu anh đi bên trái


Đường đời chắc đã gặp em


Nhưng anh lại đi bên phải


Mỗi ngày một xa thêm


Đọc bài này tôi liên tưởng đến bài thơ Ngả đường không đi của nhà thơ Mỹ Robert Frost.


Ở một nơi nào đó và nhiều năm sau đây


Tôi sẽ nói câu này kèm theo một tiếng thở dài


Trong khu rừng hai con đường chia hai ngả


Tôi đã đi theo con đường ít người đi hơn.


Và sự lựa chọn này đã thay đổi hẳn đời tôi.


Tế Hanh rất giống Chế Lan Viên ở chỗ cố gắng học tập thơ hiện đại phương Tây để làm mới thơ mình nhưng vẫn không xa rời cái gốc dân tộc.


Tế Hanh nhận xét về Chế Lan Viên: Cái nhìn mới giàu thêm sức sống, tiếng nói mới giàu thêm câu thơ. Chế Lan Viên lại nhận xét về Tế Hanh “chữ ít mà nghĩa rất nhiều”. Không phải nghĩa nữa, đó là hồn, tâm hồn, cái không thể đo bằng đơn vị hay chữ nghĩa.


Phố này đêm ấy có trăng


Cùng đi một quãng nói bằng lặng im


Phố này anh đến tìm em


Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây.


Anh theo các phố đó đây


Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em.


Vắng mà đầy, lặng im mà là tiếng nói, bóng cây mà chính là bóng người, thơ là cái đưa ta vào cái quãng “khả giải bất khả giải chi gian” ấy thực hư, hư thực.


Vẫn là câu chuyện mảnh hồn làng trên cánh đồng làng.


Khi con mắt thật nhìn không rõ, Tế Hanh phải cậy vào con mắt bên trong. Trong bài Cái nhìn, tặng Nguyễn Thành Long, 1979, Tế Hanh viết:


Mắt anh không được như xưa


Nhìn đêm bỡ ngỡ nhìn trưa bàng hoàng


Nhìn mai như thể xuân sang


Nhìn chiều như thể thu choàng cỏ cây


Anh nhìn em cũng đổi thay


Cái môi hơi mím, cái mày hơi cong


Mắt em ngày trước hồ trong


Anh nhìn đôi lúc ngỡ vòng sương rơi


Nói sao hết được em ơi


Anh không thể bắt cuộc đời đứng yên


Em không thể mãi là em


Dẫu anh còn mãi cái nhìn ngày xưa


Giữa Tế Hanh và Chế Lan Viên, Nguyễn Thành Long có sự đồng cảm trong hành động tinh thần, nhưng giữa Tế Hanh với Xuân Diệu lại có tình cảm thực trong đời thực, không văn chương hoa mỹ, như cái câu Xuân Diệu thường nhắc đi nhắc lại “chân chân chân, thật thật thật”. Bài Nhớ Xuân Diệu - 1996, Tế Hanh viết:


Mọi khi đến nhà anh


Tôi gọi to:


- Diệu ơi!


Nghe anh trả lời:


- Hanh đó hả?


Hôm nay đến nhà anh


Tôi gọi thầm:


- Diệu ơi!


Và chỉ nghe tiếng tôi


- Diệu ơi!


Khi anh Chế Lan Viên qua đời, anh Tế Hanh viết bài Nhớ bạn:


Bạn biết không? Từ khi vắng bạn


Tôi như một kẻ mất thăng bằng


Cũng cười cũng nói như thiên hạ


Nhưng nỗi buồn riêng chẳng hé răng


Nhiều đêm thức giấc tôi tự hỏi


Một người như bạn lại ra đi


Một người như tôi còn ở lại


Và những ngày sau sẽ có gì…?


Chúng ta có lúc hiểu lầm nhau


Nhưng toàn những chuyện chẳng ra đâu


Tôi vẫn giữ một hình ảnh đẹp


Người bạn thơ thân nhất lòng sâu...


Qua đó chứng tỏ, anh Tế Hanh đi với Xuân Diệu cũng được, đi với anh Chế Lan Viên cũng được. Nhưng giữa anh Xuân Diệu và Chế Lan Viên thì không phải như thế. Cái hòa của anh Tế Hanh không phải là “dĩ hòa vi quý”, mà là “hòa nhi bất đồng”, anh Tế Hanh có cái khác với anh Xuân Diệu và anh Chế Lan Viên. Về sự khác nhau giữa những con người, có thể nói như Pablo Neruda:


Có những người


Nửa cá, nửa gió


Có những người khác làm bằng nước


Tôi, tôi được cấu tạo bằng đất.


Anh Xuân Diệu hồn thơ luôn bay bổng như gió, anh Chế Lan Viên trí tuệ linh hoạt như nước, còn anh Tế Hanh có bản chất thật như người sống gần với đất. Cũng vì chính cái thật, nên trong các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Tế Hanh thích Phạm Thái, bài thơ khóc Chế Lan Viên của anh Tế Hanh cũng có cái thật, giản dị và cảm động như bài Văn tế Trương Quỳnh Như của Phạm Thái. Trong các nhà thơ hiện đại Pháp, anh Tế Hanh thích Éluard, bài thơ khóc Xuân Diệu của anh Tế Hanh cũng có cái thật, hồn nhiên và thấm thía như nhiều bài thơ Éluard. Trong khi đó Xuân Diệu, Chế Lan Viên nhắc đến nhiều nhà thơ cổ điển dân tộc nhưng không nhắc đến Phạm Thái, cũng như thơ hai anh gần với Aragon hơn Éluard. Giống như Éluard, Tế Hanh đã đưa ngôn ngữ thường ngày vào thơ, với những bài thơ bao giờ cũng rất bình dị và có nhạc điệu, thường rất nhiệt thành, và những hình ảnh đôi khi làm nổi bật cảm xúc bằng sự chính xác bất ngờ của chúng.


Cũng chính từ trên cái gốc thật, anh Tế Hanh đã tìm tòi những hướng đổi mới cho thơ, anh học tập nhiều ở các nhà thơ Pháp, thế kỷ 20. Trong số các nhà thơ Pháp đương đại, anh có quan hệ thư từ trao đổi với René Char, và chịu ảnh hưởng của nhà thơ này. Char xa lánh kiểu truyện thơ, thay thế nó bằng các mẩu thơ (đoạn thơ ngắn hoặc riêng biệt, khổ thơ giảm xuống còn một hai câu), chúng chứng tỏ những mâu thuẫn giữa con người, giữa sự vật và sự thiếu liên tục trong nhận thức của chúng ta về thời gian. Thế giới đầy nghịch lý ở mọi biểu hiện của nó. Char không dừng lại ở điều ghi nhận đó mà lúc nào ông cũng tâm niệm thông qua ngôn ngữ, tái tạo lại sự hài hòa vốn là kết quả của liên minh giữa các điều trái ngược, ông làm cho sự thật nảy sinh từ quá trình hòa giải đó.


René Char biết cách không cần phải miêu tả mới làm nảy sinh được xúc cảm hoặc mới xui khiến được hành động. Ông tin các ký hiệu được gắn bó với các sự vật và ngôn ngữ có được hiện thực cao quý nhất.


Phải nhận rằng làm thơ kiểu không cần miêu tả là rất khó khăn, bởi vì thơ Việt Nam vốn có truyền thống “đối cảnh sinh tình”, cho nên những bài thơ chỉ đưa sự việc vào thơ, chỉ khi nào gặp được thực tế cuộc sống cung cấp chất liệu để hình thành tứ thơ, và được cảm xúc mạnh đốt nóng và nâng bổng ý thơ lên thì bài thơ mới dễ thành công. Như thời kỳ đất nước mới bị chia cắt, nghe anh em cán bộ miền Nam tập kết nói: Tôi bây giờ sống cái cảnh ngày Bắc đêm Nam, anh Tế Hanh đã có cảm hứng viết những câu thơ:


Ban ngày bận công tác,


Ban đêm dành nhớ em.


Ban ngày ở miền Bắc,


Ở miền Nam ban đêm.


Tuy vậy, ở trước những câu thơ này vẫn cần có một đoạn tả cảnh, tả tình:


Chiêm bao bừng tỉnh giấc,


Biết là em đã xa


Trên tường một tia nắng


Biết là đêm đã qua.


Để tạo cái nền cảm xúc làm bệ phóng cho thơ bay lên. Ấy là chưa kể nhà thơ còn kết hợp sử dụng những biện pháp tu từ như lặp từ và phép đối, phép điệp…


Có khi không cần tả cảnh - tả tình, nhưng vẫn cần khai thác hiệu quả của ngôn ngữ như dùng phép đối chữ, đối tiếng, đối câu, đối ý, như trong bài Lê Mã Lương của anh Tế Hanh:


Khe Sanh thành bất tử,


Đường Chín mở con đường.


Từ trong khung cảnh ấy,


Cái nhìn Lê Mã Lương.


Ở đây sanh đối với với tử, chữ đường được lặp lại hai lần, khiến người ta có thể liên tưởng: trong cuộc chiến đấu sanh tử với giặc, chiến thắng Khe Sanh trở thành bất tử vì đã mở ra sanh lộ: mở thông con đường Chín, mở đường cho cuộc kháng chiến chống Mỹ đi lên. Chính từ trong khung cảnh ấy, nhà thơ đã đặt vào cái nhìn Lê Mã Lương, cái nhìn nhọn hoắt như mũi lê của ý chí quyết thắng, đó cũng là điểm ngời sáng của bài thơ.


Khi anh Tế Hanh chưa tạo được cái nền cảm xúc, hay chưa áp dụng những biện pháp tu từ cần thiết, mà đã đưa ngay sự việc vào thơ, thì thơ thành ra một bản liệt kê sự việc,đâm ra khô khan, trần trụi.


Nếu chỉ đơn thuần dùng yếu tố ngôn ngữ như thơ Char, thì phải thấy rằng trong thơ Char, nhà thơ hết sức khai thác sự đối nghịch giữa các từ, sự tương phản giữa ý thơ, như vậy cũng gây được hiệu quả tương đồng với phép đối chữ, đối tiếng, đối câu, đối ý trong thơ Việt Nam. Nhưng ngôn ngữ Việt Nam có những đặc tính khác với ngôn ngữ Pháp: ngôn ngữ Việt Nam phong phú về ngữ âm, có tính chất cụ thể, nhiều từ đồng âm và nhiều tiếng thuộc loại này có thể chuyển loại dễ dàng để dùng theo từ loại khác. Ngôn ngữ Việt Nam có những cách tạo từ thích hợp với đặc tính và khả năng riêng của nó, như phát triển bằng cách ghép, cách nói trại, cách đổi nghĩa. Muốn làm thơ mới bằng ngôn ngữ Việt Nam, cần nghiên cứu những đặc tính và khả năng này đã được biểu hiện như thế nào qua những mẫu mực được đúc kết từ truyền thống…


Cũng vì muốn cho thơ thật, anh Tế Hanh không thích gọt giũa cầu kỳ, nên có người chê một số bài thơ của anh quá thật thà. Phải làm sao cho thơ mộc mà không thô, đọc nghe dê dễ mà không dễ dãi, mới hợp với cái tạng của anh, và là cái đích để thơ anh nhằm vươn tới. Về mặt này, anh đã có những câu thơ hồn nhiên, trong suốt, mang tâm hồn của người sống hòa đồng với thiên nhiên và tạo vật, thơ ở đây có phong vị nguyên sơ:


Tôi đi để mặc cỏ may


Đôi bên bờ biếc ghim đầy quần tôi


Dừng chân trên một quả đồi


Gỡ từng sợi cỏ, tôi ngồi nhìn thu.


Cho nên, nếu có thể nói thơ Xuân Diệu giàu, thơ Chế Lan Viên sang thì thơ Tế Hanh thanh bạch, nhưng nhiều chất thi sĩ.


Viết đến đây, tôi không thể nào viết tiếp được nữa, khi nhớ lại lần ra Hà Nội, đến Hội Nhà văn, vô tình được góp hình ảnh trong cuốn phim tư liệu về anh, Nguyễn Thụy Kha bảo tôi và Phạm Tiến Duật dìu anh đi, khi máy quay phim quay, trong óc tôi cũng hiện lên từng cảnh: Hồi anh đến thăm tôi ở nhà phố Hàng Bồ - Hà Nội, quên mất số nhà, anh ngồi xuống thềm nhà bên hè, cạnh nhà trẻ, chờ tôi đến đón con ở đó; Lần tôi từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội, anh nghe tin tự động đến nhà chị tôi ở phố Ngô Thì Nhậm tìm, gặp tôi ở đầu phố anh không nhận ra vì mắt đã mờ; Những bức thư nét chữ nguệch ngoạc không ra hàng lối mà anh gửi cho tôi… Gần đây nghe tin anh bị tai biến mạch máu não phải nhập viện, tôi rất lo, gặp Thế Bảo hỏi thăm biết anh đã về nhà rồi nhưng hiện giờ không nói được, không nhìn thấy gì và phải nằm bất động trên giường. Đến khi ra Hà Nội, nhiều lần muốn đến thăm nhà anh nhưng lại không dám vì sợ gặp tôi anh lại khóc như các anh Đào Xuân Quý, Nguyễn Viết Lãm đến thăm anh. Dù anh chưa khóc thì tôi cũng đã khóc trước rồi khi nhớ đến câu thơ của anh Hỏng một mắt còn mắt kia nhìn giúp. Hỏng cả hai phải tập thấy bằng nghe. Tôi nhớ cả câu thơ đầu đời anh viết trong bài Trăng tàn: Và sau hết ta chỉ là ngấn lệ, Nằm rưng rưng trong mắt của đêm hờn… Nước mắt tôi đã ứa ra rỏ xuống trang giấy mà không hay… “Đoạn trường là số thế nào? Bày ra thế ấy, vận vào thế kia”…


 


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »