tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20229744
Lý luận phê bình văn học
08.08.2009
Hoài Anh
Tế Hanh, Thơ nằm mãi bên sự sống

Đầu những năm 60 thế kỷ 20, khi tôi bắt đầu chuyển sang làm thơ, trước mắt tôi xuất hiện ba mẫu mực về thơ, tôi thấy cần học tập cả ba, nhưng lại không thể chỉ học riêng một thầy nào đó được mà phải thâu lượm lấy tinh hoa của cả ba để điều chỉnh, bổ sung cho nhau, ba nhà thơ đó là Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, “tam vị nhất thể” đối với thơ tôi.


Từ đó tôi nghĩ đến sự kỳ diệu của con số 3 trong vũ trụ và nhân sinh. Như tam nguyên: thiên, địa, nhân (trời, đất, người). Nếu như hoàn toàn học theo Xuân Diệu thì có thể đạt được cái cao (Nó cũng như trời vậy-Quả sấu non trên cao- Xuân Diệu) nhưng lại không học được cái sâu của Chế Lan Viên (Khi ta ở chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn), tuy vậy vẫn cần học cái rộng ở tình người trong thơ Tế Hanh (đầu đời anh viết: “Lòng ta lạc giữa dòng đời. Như con chim nhỏ giữa trời mông mênh”. Khi có hướng rồi anh viết: “Nông trường ta rộng mênh mông, Trăng lên trăng lặn vẫn không ra ngoài”). Người ta thường nói thiên thời, địa lợi, nhân hòa, phải có đủ cả ba cái. Nhưng thiên nếu gắn với thời, thì trời cũng có lúc nổi gió bão, địa nếu đã gắn với lợi thì đất cũng có lúc sụt lở, lúc bấy giờ lại phải dựa vào cái hòa của nhân để đứng chân trên đời. Như tam quang: nhật, nguyệt, tinh. Thơ Xuân Diệu như ánh mặt trời ban mai, tươi sáng, tôi còn cần ánh trăng soi những miền u uẩn của thơ Chế Lan Viên, nhưng khi trăng lặn thì chỉ còn có cách dựa vào ánh sao của Tế Hanh (đầu đời anh viết: “Ta yêu biển rộng muôn vàn, Long lanh đáy ngọc chói vàng dòng sao” để nhận ra phương hướng ngay cả khi ánh sao chỉ tỏ mờ. Cái tỏ mờ day dứt ấy trong thơ Tế Hanh có rất nhiều: “Nhớ khu Năm tôi đi vào khu Bốn; Ban ngày ở miền Bắc, ở miền Nam ban đêm; Đêm nay chắc có văn công múa, Trời rộng chiều xanh sắp mở màn; Trời vẫn xanh một màu xanh Quản Trị. Tận chân trời mây núi có chia đâu; Góc sân ánh nắng như lưu luyến, Dừng lại trên chùm hoa báo mưa…). Chỉ có cái hòa của nhân mới nối liền được những khoảng cách giữa thiên và địa. Bài tam cúc có bộ ba: Tướng, Sĩ, Tượng, anh Xuân Diệu như con Tướng, anh Chế Lan Viên như con Sĩ, anh Tế Hanh như con Tượng. Hai anh Xuân Diệu, Chế Lan Viên không thể đi đôi với nhau được, nhưng anh Tế Hanh vốn hòa, đi với anh Xuân Diệu cũng được, đi với anh Chế Lan Viên cũng được. Biết thế nên trong tiệc cưới tổ chức ở gia đình, tôi chỉ mời anh Chế Lan Viên, anh Tế Hanh vì biết hai anh có thể ngồi chung với nhau trong trường hợp intime (hoàn toàn riêng tư). Anh Chế Lan Viên tặng chúng tôi một lọ nước hoa anh mua từ Paris về, anh Tế Hanh tặng chúng tôi một bông hồng hái từ trong vườn anh; Ngày Tết, anh Chế Lan Viên mừng tuổi tôi năm đồng (tiền đầu những năm 60), anh Tế Hanh cho tôi một cái bánh chưng, những chi tiết ấy nói lên tính cách của hai anh và tình cảm của từng anh đối với tôi. Tam đạt đức có nhân, trí, dũng. Tôi học cái dũng của anh Xuân Diệu, cái trí của anh Chế Lan Viên, nhưng cũng cần học cái nhân của anh Tế Hanh. Tam bất hủ có lập đức, lập công, lập ngôn. Tôi ao ước lập công như anh Xuân Diệu, được coi như ngôi sao sáng chói của phong trào Thơ mới, cũng khao khát lập ngôn như anh Chế Lan Viên, ngôi sao sáng chói của Thơ trong những năm 60,70 thế kỷ 20, nhưng cũng muốn lập đức như anh Tế Hanh khi chăm sóc đến những người làm thơ trẻ chúng tôi nói chung. Tam giáo có Nho, Lão, Phật. Anh Xuân Diệu nhiều chất Nho khi anh trọng tam cương, viết rất hay về cha mẹ, Tản Đà, Thế Lữ, về các thơ cổ điển. Anh Chế Lan Viên nhiều chất Lão khi anh thích dùng nghịch lý giống Nam hoa kinh của Trang Tử (anh viết: Anh đóng giỏi trăm vai, lại đánh mất mình; Dù là một chiếc hoa dại trong vườn nhỏ nhặt; Ở trong cõi không màu, ta vẫn thấy nó từ xa), anh Tế Hanh nhiều chất Phật hơn khi anh thật hơn, thương người hơn, thấy “chúng sinh nhất thiết bình đẳng”. Thấy “không nên lụy vào sắc tướng” (anh viết: Nước xanh màu vối như lồng ánh trăng, lại viết Nước ôm trăng như điện chảy trong mình; Sắc, tướng từng lúc một có khác, nhưng bản thể vẫn là Nước). Trong bài Chùa (Tập thơ tìm lại, 1942) anh viết: “Hồn thanh thoát chưa hề vương vật chất, Đồng vọng xa cùng nhịp tiếng chuông bay”, chứng tỏ thơ anh sớm mang Phật tính.


Đối với ba bậc thầy người thiên về Nho, người thiên về Lão, người thiên về Phật này, tôi chỉ còn có cách học theo Mạnh Tử, Mạnh Tử nói cái gì cũng phải thí dụ để tiện bề so sánh, hầu làm bật lên ý của mình qua sự triển khai giữa các mặt đối lập. Tam thế có quá khứ, hiện tại,vị lai, Xuân Diệu rủ tôi về quá khứ, Chế Lan Viên đưa tôi đến vị lai, bây giờ tôi chỉ muốn nói đến Tế Hanh trong hiện tại, người “đa thọ” trong bộ tam đa Phúc, Lộc, Thọ, bởi vì nếu cứ tán về ba hoài thì không ba phải cùng thành ba hoa.


Tôi muốn đi vào hình tượng trở thành biểu tượng trong thơ Tế Hanh như Tế Hanh viết: “Biết bao huyền diệu trong đời trái, Từ cõi hư vô đến tượng hình” (Trái chín, 1942).


Wallace Stevens viết: “Bài thơ là sự khám phá cái thỏa vọng và có thể có, đề tài một người đàn ông đang quay cuồng, một người đàn bà đang khiêu vũ, một người đàn bà đang chải tóc. Thơ là của hành động tinh thần” (the act of mind). Hành động tinh thần trong thơ Tế Hanh thường được thể hiện trong những hình tượng: Dòng sông quê hương, vườn xưa, tiếng sóng, phượng, trái cây, con đường…


Do chú ý đầu tiên đến hành động tinh thần, chứ không phải kỹ thuật làm thơ, nên xếp Tế Hanh vào trường phái nào cũng không thỏa đáng. Để thực hiện hành động tinh thần, anh đã vận dụng bút pháp của đủ các trường phái cổ điển, lãng mạn, hiện thực, tượng trưng, siêu thực, hiện đại chủ nghĩa… để làm thơ. Do đó thơ Tế Hanh không đều tay, không thuần nhất, mà có sự biến hóa trong phong cách.


André Maurois viết: “Các nhà thơ, nhà văn Pháp luôn luôn có cái “gu” thích trường phái. Luôn luôn họ thích tụ tập chung quanh một danh từ trừu tượng: cổ điển, lãng mạn, hiện thực, tự nhiên, tượng trưng, hiện sinh”. Nếu coi những nhà “Thơ mới” 1930-1945 là lãng mạn, thì chữ “lãng mạn” ở đây phải hiểu như Albérès trong cuốn Tổng kết văn học thế kỷ 20: “ Cần một loại văn học lãng mạn trong vấn đề chỉ được cảm thấy, nhưng mỗi người có thể ý niệm một lối giải quyết riêng”.


Trong số các nhà “Thơ mới”, ít nhà thơ chú ý đến tả cảnh sông, biển và lao động. Sông trong thơ Xuân Diệu, Huy Cận là sông chung chung, nhưng sông trong thơ Tế Hanh là sông quê hương ăn thẳng ra biển, có dân chài ra khơi đánh cá. Vũng Quít (bây giờ gọi là Dung Quất) là nơi tám mươi năm về trước Tế Hanh đã từng sống. Lúc ấy vùng Dung Quất được gọi là Tuyết Diêm, là nơi diêm dân (người làm muối) phải làm lậu để kiếm sống. Thời ấy, thực dân Pháp thu thuế muối rất hà khắc, mà muối lại là thứ hàng hóa rẻ tiền. Con sông Trà Bồng chảy qua vùng quê Bình Dương êm lặng, phải có con mắt tinh của nhà thơ mới nhận ra cái nắng, cái mát rượi được hắt lên từ dòng sông. Trong bài Quê hương (trong tập Hoa niên, 1938-1941), Tế Hanh viết:


Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới


Nước bao vây cách biển nửa ngày sông


Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng


Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá


Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã


Phăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang


Cánh buồm, giương to như mảnh hồn làng


Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…


Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ


Khắp dân làng tấp nập đón ghe về


Nhờ ơn trời, biển lặng cá đầy ghe


Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.


Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,


Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;


Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm


Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.


Qua câu thơ của phụ thân mà Tế Hanh lấy làm tiêu đề “Chim bay dọc biển đem tin cá”, thì biết Tế Hanh có chịu ảnh hưởng của trường thơ cổ điển. Nhưng đoạn tả cảnh dân chài đánh cá mà không tự nhiên chủ nghĩa kiểu Zola thì chỉ có thể xếp vào trường phái hiện thực. Câu “Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm, Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ” có phong vị lãng mạn, nhưng lại có một thoáng tượng trưng phong “ Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng, Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”.


Các nhà thơ miền Trung như Tế Hanh đã mở rộng địa lý của thơ Việt Nam ra đến biển, cũng đã đưa hình ảnh lao động vào diện xã hội của thơ.


Trong bài: “Nhớ con sông quê hương” (tập Lòng miền Nam, 1956) anh viết:


Quê hương tôi có con sông xanh biếc


Nước gương trong soi tóc những hàng tre


Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè


Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng.


… Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu


Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy


Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy


Bầy chim non bơi lội trên sông


… Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng


Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc;


Tôi nhớ cả những người không quen biết…


Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây


Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy


Hình ảnh con sông quê mát rượi


Lai láng chảy, lòng tôi như suối tưới.


Bài “Trở lại con sông quê hương” (tập Giữa những ngày xuân, 1977) anh ghi lại những nét đổi mới trên dòng sông xưa:


Thuyền máy dọc ngang tỏa trắng lòng sông


Nhà dân chài giăng những lưới ni lông


Màu xanh đỏ ngời ngời ánh nước


Kìa bãi sú nơi sáu năm về trước


Giặc Mỹ bao vây sát hại một trung đội dân quân


Cây mù u không còn ngả bóng trên cồn


Cây sanh trước đình thân chỉ còn một nửa


Tôi đi dọc bờ sông bỡ ngỡ


Quên cả khúc quanh lối rẽ vào nhà.


Đến Bài thơ mới về con sông xưa (tập Con đường và dòng sông, 1980), anh ghi tiếp những đổi thay:


Nước mặn không theo thủy triều lên


Dọc sông lúa tốt cả hai bên


Năm trăm mẫu đất liền năm xã


Thoát khỏi từ đây cảnh ruộng phèn


Nghề nông vui, nghề biển thêm vui


Thuyền máy đi nhanh nhiều cá tươi


Chiều về con đập đông như chợ


Bờ dưới bờ trên sóng rạng ngời.


Quê hương anh trước đây: “Nước biển tràn lên đất mặn chua”, nên dân không thể trồng trọt được, mà chỉ có thể làm nghề đánh cá, đến nay đã đắp đập, đào mương máng, cả nghề biển và nghề nông đều phát đạt, nên anh: “Tâm tư trăn trở theo làn nước, lại lắng sâu thêm với luống cày”. Bài thơ đẹp nhất là sự sống, nên anh viết: Ta vẫn tin mãi nằm bên sự sống.


Bài Vườn xưa (tập Gửi miền Bắc, 1958), anh viết:


Hai ta như sen mùa hạ, cúc mùa thu


Như tháng mười hồng tháng năm nhãn


Em theo chim em đi về tháng tám


Anh theo chim cùng với tháng ba qua


Một ngày xuân em trở lại nhà


Nghe mẹ nói anh có về hái ổi


Em nhìn lên vườn cây gió thổi


Lá như môi thầm thĩ gọi anh về


Đến bài Vườn cũ (tập Giữa những ngày xuân, 1977), khi anh trở về, cây ổi không còn nữa “Chỉ còn cây lựu già, từ thời ông để lại, đỏ chói một chùm hoa, tuy từ lâu không trái”. Bởi vậy nên trong bài Cây nhót (tập Bài ca sự sống, 1985), anh nghĩ về quả nhót: “Nhót chẳng bao giờ có vị cay, một ít chua thôi tựa cuộc đời, nỗi buồn xen lẫn với niềm vui, cũng như (em nhỉ) tình yêu vậy, nước mắt song song với nụ cười”. Triết lý trong thơ anh bao giờ cũng bật lên từ đời sống. Khi đưa người ra sân bay anh nghĩ: Lòng tôi cũng mênh mông như vũ trụ, khi bóng người bỗng chốc hóa thành mây, chính cái thật bám chặt vào sự sống này làm cho thơ Tế Hanh khác với thơ triết lý của Chế Lan Viên và vũ trụ ca của Huy Cận, nhưng phần nào giống Xuân Diệu ở chỗ triết lý đều bắt nguồn từ sự sống thực. Tuy vậy vẫn còn chỗ khác, Xuân Diệu nhìn đời bằng con mắt thực (Hãy nhìn đời bằng con mắt xanh non), Chế Lan Viên nhìn đời bằng con mắt ảo qua lớp màng tư duy (Huy Cận viết: Cá song lấp lánh đuốc đen hồng, Chế Lan Viên viết: Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về), nhưng Tế Hanh nhìn đời bằng con mắt bên trong (Hồn muốn bay cao thân xuống thấp; Bé nằm ngửa mặt tròn xinh, ngủ trong tiếng hát của mình dưới trăng).


Cái con mắt nhìn vào bên trong ấy, anh đã có từ lúc bắt đầu làm thơ. Trong bài Lời con đường quê, Tế Hanh viết:


Tôi, con đường nhỏ, chạy lang thang


Kéo nỗi buồn không dạo khắp làng,


Đến cuối thôn kia hơi cỏ vướng


Hương đồng quyến rũ hát lên vang,


Từ đấy mình tôi mọc cỏ dầy


Dọc làng hoa dại ngát hương lây;


Tôi ôm đám lúa quanh nương sắn


Bao cái ao rêu nước đục lầy


Những buổi mai tươi nắng chói xa,


Hồn tôi lóng lánh ánh dương sa.


Những chiều hư ảo tôi thư thái


Như kẻ nông dân trở lại nhà.


Tôi đã từng đau với nắng hè


Thịt da rạn nứt bởi khô se;


Đã từng điêu đứng khi mưa lụt


Tôi lở, thân tan rã bốn bề


Tôi sống mê man tránh tẻ buồn,


Miệt mài, hể hả, đắm say luôn


Tôi thâu tê tái trong da thịt


Hương đất hương đồng chẳng ngớt tuôn.


Trong bài Thơ tôi là tấm lòng với quê hương đất nước (in trong tập Nhà văn nói về tác phẩm), Tế Hanh viết:


“Trong bài Lời con đường quê cái tứ gợi cho tôi là từ bài thơ Con tàu say của nhà thơ Pháp Rimbaud khi con tàu thoát khỏi ràng buộc nó trôi từ sông ra biển, rồi gặp biển mênh mông. Tương tự như vậy, con đường thôn xóm quanh co và thật nhỏ bé. Khi nó bắt đầu ra cánh đồng, nó bắt gặp không gian rộng lớn ngát hương khác hẳn với không khí chật hẹp trong thôn xóm.


… Năm 1936 tôi từ Quảng Ngãi ra Huế học và trọ ở vùng Phú Cam gần ga xe lửa Huế. Ngày nay những chuyến tàu xuôi ngược gợi cho tôi nỗi nhớ nhà và mơ ước những phương trời xa xôi. “Tôi thấy tôi thương những chiếc tàu, Ngàn đời không đủ sức đi mau, Có chi vương víu trong hơi máy, Mấy chiếc toa đầy nặng khổ đau”- Những câu thơ được viết từ tấm lòng dự cảm băn khoăn, có lần tôi đọc được một ý thơ gợi cảm tả cảnh biệt ly trên một bến tàu thủy, lòng người đưa tiễn là những sợi dây muốn kéo con tàu đi chậm lại trong bài thơ của nhà thơ Pháp cuối thế kỷ XIX Sully Prud’homme.


Cái con mắt nhìn vào bên trong cũng có thể là “khả năng suy tư bằng hình ảnh” mà nhà văn Italia Italo Calvino đã nói tới trong bài Những bài giảng Mỹ - sáu điểm ghi nhớ cho thiên kỷ tới:


“Nếu tôi ghi từ Rõ lên danh sách các giá trị cần quan tâm, thì là để dè chừng trước mối nguy mà chúng ta phải gánh chịu về việc đánh mất một khả năng cốt yếu của con người. Cái cảnh tượng rõ nét của những con mắt nhắm, cái quyền lực làm trào ra màu sắc và hình khối của một hàng dài chữ cái đen trên một tờ giấy trắng, khả năng suy tư bằng hình ảnh. Tôi nghĩ đến một thứ giáo học pháp trí tưởng tượng cần có bằng cách quen thuộc với việc kiểm soát cái nhìn bên trong của chúng ta mà không tìm cách bóp nghẹt nó đi, và cũng không làm điều ngược lại, để nó rơi vào trong một cơn mộng vì mơ hồ và không bền lâu, nó có thể cho phép các hình ảnh kết tinh hoa dưới một hình thức rõ ràng, đáng nhớ, tự thân, “nicastica” [1]


… Có thể nói rằng nhiều yếu tố cùng tụ hợp lại để tạo nên trí tưởng tượng văn chương. Ở khía cạnh thị giác của nó: quan sát trực tiếp thế giới thực sự thay đổi hình dạng mang tính phóng túng và mộng mị, thế giới tạo hình mà văn hóa truyền lại ở các mức độ khác nhau của nó, và không thể bỏ qua tiến trình trừu tượng hóa, đặc hóa và nội tâm hóa của trải nghiệm thuộc cảm giác, cái đóng một vai trò quyết định cả trong hiển thị hóa lẫn trong ngôn ngữ hóa tư duy”.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 


 







[1] Thuật ngữ tiếng Ý, nghĩa là nghệ thuật miêu tả thực tại bằng phương tiện hình ảnh (có thể hiểu là tính chất miêu tả hiện thực)



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trở lại với Thạch Lam - Khuất Bình Nguyên 10.08.2017
Có một tâm hồn thức trở với thi ca - Quang Hoài 04.08.2017
Giải huyền thoại hay phỉ báng Tổ tiên, xúc phạm dân tộc? - Hà Văn Thùy 02.08.2017
Về hai văn bản của vua Lê Thánh Tông đối với Nguyễn Trãi - Trần Nhuận Minh 27.07.2017
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
xem thêm »