tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21078269
Lý luận phê bình văn học
05.08.2009
Hoài Anh
Thomas Mann bàn về nghệ thuật tiểu thuyết

Xin cho phép tôi tiến hành một báo cáo thẳng thắn (hoàn toàn là cá nhân, không mang bất kỳ mùi học viện nào), tức sức sáng tạo thể tài văn học tôi yêu mến, môn loại nghệ thuật đó chính là chỗ mà tôi hứng thú, và còn, nếu một báo cáo “bàn về nghệ thuật tiểu thuyết” ở tôi bất tri bất giác biến làm sự ca ngợi đối với tinh thần văn học nghệ thuật của thể kể chuyện, thì đành kính xin thông cảm cho. Tinh thần của văn học thể kể chuyện lớn mạnh lại uy nghiêm, mênh mông to tát, tràn đầy sức sống, giống như biển phì nhiêu đang cuồn cuộn, tuy hơi có vẻ đơn điệu lại không thiếu hùng vĩ và tinh xác, đáng được tán tụng lại hết sức thận trọng. Cái mà tinh thần đó quan tâm không phải là mảnh đoạn cục bộ, không phải là một đoạn sự kiện ngẫu nhiên, nó yêu cầu chỉnh thể, yêu cầu thế giới chứa đựng vô số sự kiện và chi tiết trong đó. Trong thế giới đó, nó quên mình lưu liên, dường như mỗi một chi tiết trong đó đều vô cùng quan trọng đối với nó. Bởi vì nó không bị hạn chế của thời gian, không có cảm giác cấp bách, nó là tinh thần nhẫn nại, trung thành, dẻo dai, đàng hoàng thư thả, nhờ vào tinh thần có thể biến tẻ nhạt làm thú vị khiến tất cả biến thành rất có hứng vị. Nó chỉ biết bắt tay từ nguyên thủy của sự vật, muốn hoàn kết lại không có năng lực - lời gan ruột của nhà thơ chính là phát ra đới với nó: “Bạn không thể hoàn kết, cái đó chính khiến bạn vĩ đại”. Nhưng vĩ đại đó lại là cái ôn hòa, yên lặng, sáng sủa, trí tuệ... “khách quan”. Vĩ đại của nó cũng ở, cách sự vật khoảng cách nhất định, dựa theo tự nhiên giữa nó và sự vật cũng có khoảng cách, nó vượt lên trên sự vật, hướng xuống bên dưới gật đầu cười mỉm, cuốn người ngưng thần lắng nghe và chuyên tâm đọc vào trong sự kiện, dệt vào trong lưới của sự kiện. Nghệ thuật thể tự sự là “nghệ thuật của Apollon”, giống như thuật ngữ mỹ học trình bày vậy; bởi vì thần Apollon cách tất cả mọi sự vật xa xôi như vậy, đối với sự vật lại hiểu rõ như trong lòng bàn tay, xa cách cõi người, thần quả là cách xa, thần của tính khách quan, thần của trào phúng. Tính khách quan là trào phúng, mà còn tinh thần nghệ thuật của thể tự sự là tinh thần phúng thích.


Ở đây, bạn sẽ hoang mang không hiểu, tự hỏi mình, cái gì, khách quan và trào phúng? Chúng có liên can gì với nhau? Chẳng lẽ trào phúng không chính là mặt đối lập của tính khách quan hay sao? Chẳng lẽ trào phúng không phải là một thứ cực kỳ chủ quan, không chính là tự buông thả của chủ nghĩa lãng mạn hay sao? Mà thứ buông thả đó đem tất cả tĩnh lặng và khách quan của cổ điển coi như địch thủ, bình đẳng với nó... Hoàn toàn chính xác, trào phúng có thể có thứ ý nghĩa đó. Nhưng ở đây, tôi đang phú cho hàm nghĩa của từ này so với chủ nghĩa chủ quan lãng mạn rộng rãi hơn nhiều, càng là trên ý nghĩa vĩ đại sử dụng từ này, hàm nghĩa đó bề ngoài tựa như bình bình, lại đã gần như lớn đến kinh người: đó chính là hàm nghĩa của từ trào phúng trong bản thân nghệ thuật, nó khẳng định tất cả, chính bởi vì như vậy, nó phủ định tất cả; nó là một thứ ánh mắt sáng như mặt trời, sáng rõ, khinh khoái, bao gồm tất cả, xứng đáng là ánh mắt của nghệ thuật, thà rằng nói là ánh mắt khách quan, tự do tối cao, tĩnh lặng và không bị bất kỳ đạo học nào làm hoang mang. Đó là ánh mắt của Goethe..., về trào phúng ông nói ra một châm ngôn kỳ diệu, mà khiến người vĩnh viễn không quên, chính là trên trình độ đó ông xứng đáng gọi là nhà nghệ thuật: “Nó (trào phúng - người dịch chú) là một hạt muối nho nhỏ, thông qua nó món ăn mới thành ngon”. Ông suốt đời đều là người sùng bái của Shakespeare vĩ đại như vậy, cái đó quyết không phải là không có nguyên do; bởi vì trong sáng tác kịch mênh mông như biển khói của Shakespeare, cái đứng hàng đầu chính là thứ nghệ thuật trào phúng đối với thế giới, mà khiến Tolstoð hết sức muốn thành loại nhà đạo học ấy lại hết sức chán ghét đối với Shakespeare. Chủ nghĩa khách quan của trào phúng của nghệ thuật thể tự sự mà tôi bàn đến, là thứ trào phúng đó. Bạn đừng liên tưởng giữa lạnh lùng với vô tình, trào phúng với chế nhạo. Cái chủ yếu hơn của trào phúng của nghệ thuật thể tự sự là một thứ trào phúng phát từ tâm linh, một thứ trào phúng đáng yêu, là một thứ vĩ đại tràn đầy tình cảm ấm áp đối với sự vật nhỏ bé.


Nhà thơ Ba Tư Firdousi sinh năm 1000, viết sử thi Schân nâme, tức Sách của các vị vua, đem truyền thuyết và các vua chúa Ba Tư sửa lại. Ông ở nước Tus hăng hái viết 26 năm, dốc sức vào soạn bộ sử thi này. Lúc 58 tuổi, ông đi Casna gặp Sultan. Sultan hứa, mỗi nghìn dòng thơ câu phức trả cho ông một nghìn đồng tiền vàng. Firdousi lại nói: “Tôi đành lòng đợi viết xong mới nhận ban thưởng”. Đợi đến khi ông hoàn thành, thời gian thấm thoát, lại qua mấy chục năm, mà ông cảm thấy vẫn chưa hoàn thành, không ngừng đề ra yêu cầu mới. Ông ngồi đó, không ngừng đan dệt, đem sử thi dệt trên tấm thảm lớn. Trên thảm đầy hình tượng nhân vật, xuất xứ điển cố, từng trải mạo hiểm, công tích anh hùng, ma pháp quỷ quái và hàng dệt lá cây dây leo đủ mọi màu sắc. Lúc đó ông đã tám mươi tuổi, tuyên bố tác phẩm hoàn thành. Khuôn khổ của tác phẩm đó lớn gấp tám lần Iliad, tính ra có sáu vạn dòng thơ câu phức. Nhưng Sultan lại lừa ông, mỗi nghìn dòng thơ câu phức sai nhân đưa đến cho ông không phải là một nghìn đồng tiền vàng, mà là một nghìn đồng tiền bạc. Khi tiền thù lao bản thảo đưa đến, ông già đang tắm, ông đem tiền coi làm tiền thưởng nhỏ cho sứ giả mang thù lao bản thảo đến và người đầy tớ trong nhà tắm.


Đó là một giai thoại lưu truyền trong giới sử thi, một giai thoại tuyệt diệu; tiết tấu nhanh gấp, vội vã kết thúc, trong những thể tài nghệ thuật gần với sử thi như kịch hoặc thơ trữ tình, không có cái giống như loại này. Tác phẩm sử thi, biển lớn uống không cạn đó, một kỳ tích trong sự nghiệp của nhân loại. Vô số nỗ lực nghệ thuật của đời sống, nhẫn nại, thâm thiết, một thứ thành thật của linh cảm tiếp nối, mỗi ngày mỗi giờ đều gọi dậy, đều kéo vào bên trong... mà còn, mỗi một việc nhỏ, mỗi một chi tiết đều vẽ được tỉ mỉ tinh vi, giống hệt, dường như đối với chi tiết như mê như say, tựa hồ sự vật tế vi là tất cả, đồng thời lại không chút dao động chăm chú nhìn chỉnh thể - nếu tôi ở trước mặt các vị bàn về “nghệ thuật tiểu thuyết”, tôi liền suy nghĩ tất cả cái đó; tôi bất giác nghĩ đến Firdousi và áng thơ về các vua thần kỳ của ông, cũng nghĩ đến, bởi vì người ta không dùng vàng mà là dùng bạc để đền bù cho thơ của ông, cho nên ông đem tiền thù lao bản thảo cho đi cho xong. Giả sử cái ông viết là văn xuôi, thế thì ông nhất định, như tôi tưởng tượng, cũng không vì thế mà không cần vàng tiếp nhận bạc. Tình cảm của tôi bất lực, cũng không muốn tiến hành khu phân về bản chất giữa sử thi và tiểu thuyết, giữa Thần khúc và Tấn trò đời, để phân biệt cao, thấp. Balzac phú cho tòa nhà lớn tiểu thuyết của ông một tên gọi hợp rất nhiều lĩnh vực vào một thể, lại bảo hộ địa vị ngang hàng của mình, tôi cho là hết sức trác việt.


Lev Tolstoð cũng là người viết tiểu thuyết - mà còn đại khái là một người vĩ đại nhất trong tất cả các nhà tiểu thuyết. Có rất nhiều tình hình dẫn dụ chúng ta đi đem quan hệ của tiểu thuyết và sử thi mà mỹ học kiểu thầy đồ bảo hộ, đảo ngược lại, không phải là đem tiểu thuyết lý giải thành một trong những biến chủng của sử thi, mà là trong sử thi thấy được hình thức thời kỳ đầu của hình hài ban đầu có của tiểu thuyết. Tolstoð thuộc vào thứ tình hình như vậy.


Thứ phương pháp quan sát lịch sử đó hoàn toàn là có khả năng, bởi vì thứ hiện tượng tan rã và thoái hóa đó, cái gọi là biến chất lột xác hoàn toàn là chuyện không thể tưởng tượng được. Thông thường mà nói, đó là một vấn đề phức tạp, một vấn đề thuộc sinh vật học tinh thần và không ăn khớp giản đơn với tự nhiên. Trong phạm vi đó, tan rã và lột xác có khả năng biến thành chữ trống rỗng, hoặc ngược lại với ý nghĩa miêu tả chúng vốn nên miêu tả trên ý nghĩa thuần sinh vật học tự nhiên: chúng miêu tả một giai đoạn tương lai tức miêu tả một giai đoạn cao cấp hơn, phát đạt hơn; “lột xác”, nó cũng có thể hướng về tế nhị, đi sâu, biến thành càng thêm cao thượng; nó bất tất có bất kỳ liên hệ nào với chết và hoàn kết, mà có thể thành sự thăng hoa, nâng cao và hoàn thiện của đời sống.


Trong thứ quan hệ như vậy để khảo sát quan hệ của tiểu thuyết và sử thi, là có khả năng, cũng có thể là cần thiết. Hai cái đó, một cái thuộc về thế giới hiện đại, một cái khác thuộc về thế giới cổ đại. Thể thơ sử thi đối với chúng ta, mang dấu ấn của cổ đại, chính như thơ trong tự thân của nó mang sắc thái cổ đại vậy, và còn vốn là một thứ bộ phận tổ thành của tình cảm thế giới thần bí. Sử thi thượng cổ không phải là cung cấp cho đọc hoặc kể, nó là một thứ nghệ thuật ngâm hát dùng nhạc dây hòa tấu. Tên gọi “người ngâm hát” lưu truyền thời gian dài dặc, mãi đến trung thế kỷ, đến thời đại tình ca dưới trăng, vẫn là chữ đúng nghĩa sát. Sử thi đầu tiên là một thứ ngâm hát ám dụ sự việc. Nhà thơ Homer là một ca sĩ mù, mà mù không trở ngại đến “bản hát” của Iliad Odyssey của ông giống như bản mà ngày nay đọc vậy, Eda và Bài ca Nibelungen cũng là như vậy.


Nói sử thi phát triển đến văn xuôi không nghi ngờ gì nữa có nghĩa là sự thăng hoa và tế nhị hóa của sinh mệnh của văn thể kể chuyện, là một cách đề cập táo bạo. Ban đầu, tiểu thuyết đúng là bị cục hạn bởi một sự biến hóa tạp loạn, tùy ý, mạo hiểm của sử thi. Bản thân tiểu thuyết là chứa sâu các thứ tính khả năng, trong quá trình phát triển dài dặc của nó từ ngụ ngôn đồ sộ của Hy Lạp thời kỳ sau và Ấn Độ đến Giáo dục cảm thương và Ái lực, sự thực hiện những tính khả năng đó cung cấp cho chúng ta lý do như thế này: đem sử thi coi thành hình thức vượt lên trước ở cổ đại của tiểu thuyết.


Nhưng nguyên tắc khiến tiểu thuyết đi theo con đường có ý nghĩa quan trọng đối với nhân loại, lại là nguyên tắc nội hướng hóa. Triết gia Đức Adorf Schopenhauer không chỉ quen coi làm nhà tư tưởng, mà quan hệ với nghệ thuật cũng rất chặt chẽ, ông từng nói lời phóng ra bốn biển mà đều đúng như thế này: “Một cuốn tiểu thuyết càng là miêu tả nhiều đời sống bên trong, càng miêu tả ít đời sống bên ngoài, thì càng cao cấp và có tính chất cao cấp; tình huống đó coi làm tiêu chí vạch rõ đặc tính, đem các giai đoạn đi kèm với sự phát triển của tiểu thuyết, từ Tristram Shandy cho đến tiểu thuyết kỵ sĩ hoặc tiểu thuyết cường đạo đầy chất man dã nhất, hành động của nhân vật phong phú nhất, đều là như vậy. Đương nhiên, Tristram Shandy cơ hồ không có tình tiết gì, nhưng Nàng Héloðse mới và Wilhelm Meister tình tiết nào có bao nhiêu; thậm chí tình tiết của Don Quixote đem so sánh cũng là lèo tèo, suốt tác phẩm đầy dẫy chủ yếu là những tình tiết không quan trọng, gần như chuyện cười, nhưng bốn cuốn tiểu thuyết đó lại là vương miện trong thể tài tiểu thuyết. Sớm hơn một chút, chúng ta nhìn thấy tiểu thuyết thần kỳ của Jean Paul, nhìn xem, trên nền đài chật hẹp nhất, bao nhiêu đời sống bên trong do cái bên ngoài thúc đẩy, thậm chí ngay cả đời sống bên trong mà tiểu thuyết Walter Scott viết, cũng nhiều hơn đời sống bên ngoài gấp bội, đời sống bên ngoài chỉ là thúc đẩy đời sống bên trong mà xuất hiện, mà trong tiểu thuyết hạng kém, đời sống bên ngoài chỉ là vì tự thân nó mà xuất hiện. Nghệ thuật viết tiểu thuyết là ở, cố hết sức ít viết về đời sống bên ngoài, mà thúc đẩy mạnh mẽ nhất đời sống bên trong. Bởi vì đời sống bên trong mới là đối tượng căn bản của hứng thú của chúng ta... Nhiệm vụ của nhà tiểu thuyết, không phải là kể sự kiện quan trọng, mà là đem chuyện nhỏ biến thành hứng thú tràn trề.


Đó là danh ngôn chí lý mang tính kinh điển, nhất là châm ngôn ở chỗ kết thúc tôi luôn luôn yêu thích, bởi vì nó nói đến vấn đề biến tầm thường thành có thú vị. Bí mật của kể câu chuyện - bởi vì có thể nói đó là bí mật - tức là, đem cái vốn khẳng định là tẻ nhạt biến làm dào dạt ý hay. Muốn vạch rõ và giải thích bí mật đó, sẽ là uổng phí tâm cơ. Lời khẳng định biến sự vật nhỏ thành có thú vị của đoạn thảo luận của Schopenhauer, cùng luận đoán sự nội hướng hóa của nghệ thuật kể chuyện của ông liền với nhau, cũng không phải là ngẫu nhiên. Khi chúng ta nín hô hấp lắng nghe những chuyện vốn không quan trọng cho lắm, mà hoàn toàn quên đi thứ thú vị đối với tiểu thuyết kinh hiểm rúng động tâm hồn, bỗ bã mạnh mẽ, nguyên tắc nội hướng hóa nhất định gây tác dụng trong bí mật đó.


Tiểu thuyết văn xuôi từ khi tách rời sử thi, văn thể kể chuyện đi trên một con đường thông đến nội hướng hóa và đặc sắc hóa. Con đường đó dài dặc xa xăm, khi nó bắt đầu, căn bản không thể dự đoán khuynh hướng đó. Tạm nêu một thí dụ của dân tộc tôi, tiểu thuyết giáo dục và tiểu thuyết phát triển Đức, Wilhelm Meister của Goethe chẳng phải chính là sự nội hướng hóa và cao thượng hóa hay sao? Cái nội hướng hóa đó trên trình độ lớn biết bao là thi triển ma pháp đối với sự vật nhỏ, chất phác, là thị dân hóa của thơ, điểm đó có thể từ phê bình đối với Wilhelm Meister của thiên sứ nghệ thuật thi ca; nhà văn phái lãng mạn Novalis thấy ra được một cách rất rõ ràng. Đoạn bình luận đó chứa giàu bài học có ích, hết sức ác độc lại đánh trúng chỗ yếu hại. Novalis không thích cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của người Đức đó, gọi là “bình thường không có gì lạ, ý ở phản đối thơ”, cuốn sách “hết sức thiếu ý thơ” đó, bất luận nó về miêu tả giàu ý thơ biết bao; cuốn sách đó là phúng thích đối với thơ, tôn giáo; là đồ ăn ngon thơm phức dùng rơm và vỏ bào trộn vào với nhau, dù cho xem ra màu sắc sặc sỡ, phía sau tất cả đều là náo kịch. “Tiết kiệm tự nhiên là cái chân thực, cái trường tồn. Lãng mạn ở trong đó đi tới hủy diệt, đương nhiên thơ và những cái kỳ dị đó cũng như vậy. Nó chỉ nói về sự vật nhân gian tầm thường, thiên nhiên và chủ nghĩa thần bí đều bị quên. Đó là một câu chuyện của thị dân, của nhà cửa đô thị hóa... Tập thứ nhất Meister chứng tỏ, sự tình thấp kém, hàng ngày, nếu đem biến đổi khiến người yêu thích mà kể ra, trang sức bằng ngôn ngữ cao nhã, trôi chảy, cấp cho nó tiết tấu vừa độ, thế thì dù cho là sự tình như vậy cũng sẽ nghe lọt tai...”!


“Goethe là nhà thơ hết sức chú trọng hiệu quả thực tế”, Novalis ở một chỗ khác nói, “Tác phẩm của Goethe mộc mạc, đáng yêu, đọc lên khiến người vui vẻ thoải mái, lại đứng được lâu bền, giống như thương phẩm của người Anh vậy. Ông trong văn học Đức làm chuyện mà Wordsworth làm trong giới nghệ thuật Anh. Giống như người Anh, ông có một thứ tự nhiên, tinh tế, một thứ thú vị cao thượng thông qua lý trí mà có được... Sở thích của ông là ở, làm được một số sự tình nhỏ nhặt không đáng kể khiến chúng biến thành lộng lẫy lại hợp với lòng người, chẳng thà khai sáng một trời đất mới, làm một số sự tình người khác đã biết trước mình không có sức hoàn thành”.


Người ta phải học biết nghe lời trái ngược, và tin chắc chỗ có ích của sự vật tà ác mang lại cho nhận thức, để tiện giống như tôi, coi trọng đoạn phê bình này. Nó dìm dập Goethe về mỹ học đi sùng bái người Anh, mà chủ nghĩa đó khiến người nghĩ đến tiểu thuyết thị dân của Richardson, Fielding, Goldsmith đúng là đã sản sinh ảnh hưởng đối với Goethe. Mà còn cái người ta thấy thông qua phê bình của Novalis đối với Wilhelm Meister, chính là tính thị dân, chủ nghĩa dân chủ sinh trưởng ở bản thổ, khiến tiểu thuyết trên hình thức, tính tư tưởng và tính lịch sử có khác với tính phong kiến của sử thi, khiến tiểu thuyết hình thành hình thức nghệ thuật đứng hàng đầu của thời đại chúng ta, thành đồ đựng linh hồn hiện đại. Thế kỷ 19 trên đất Âu châu, ở Anh, Pháp, Nga, ở Scandinavia, nở rộ bông hoa tiểu thuyết rực rỡ. Đóa kỳ hoa đó tuyệt đối không phải ngẫu nhiên; nó với tính dân tộc sinh ra đúng thời của tiểu thuyết, với năng lực biểu hiện thiên phú của tiểu thuyết, tương quan mật thiết với đời sống hiện đại, nó cũng liên hệ chặt chẽ với tình cảm mạnh mẽ về xã hội và tâm lý của tiểu thuyết, thứ tình cảm mạnh mẽ đó khiến tiểu thuyết thành hình thức nghệ thuật có tính đại biểu của thời đại, khiến những nhà tiểu thuyết thậm chí chỉ có tài liệu mức trung bình thành điển hình của nhà nghệ thuật hiện đại trong văn học. Trong bình thuật của Nietszche đối với văn hóa, có rất nhiều chỗ có thể tìm được thứ hình thức đem nhà tiểu thuyết lý giải làm hiện tượng hiện đại căn bản nhất của nhà nghệ thuật, sự hiếu kỳ và nhạy cảm đối với sự vật về xã hội và tâm lý của nhà tiểu thuyết, về khí chất là vật hỗn hợp do tình cảm và nhạy cảm tổ chức thành, có phú bẩm có sức sáng tạo và phê phán triết học. Nietszche, vật hỗn hợp cao độ của nhà nghệ thuật và người nhận thức đó, bản thân là một thứ loại hình “nhà tiểu thuyết”, một cách trước chưa từng có khiến nghệ thuật và khoa học hai cái càng thêm dựa vào nhau, càng thêm thẩm thấu lẫn nhau, hòa tan với nhau. Thứ công cụ tiếp thụ và truyền bá chuyện lạ tế nhị nhất và sự kiện mới nhất không giống nhau, trong bức tranh linh hồn Nietszche khắc họa cho thời đại gây tác dụng kiệt xuất.


Ở đây, đặc biệt là nhìn vào tiểu thuyết, xét ở chỗ nó coi làm hình thức nghệ thuật có địa vị thống trị trong thời đại chúng ta, cần phải đề cập đến tính quan trọng này, nó nhất trí với sáng tác thi ca hiện đại, với tác phẩm văn học và thành phần phê bình của thời đại này.


Tôi lại một lần nhớ đến lời nhà triết học Nga Dimitri Megeshikovski đã nói khi ngẫu nhiên bàn đến Puskin và Gogol do “phê bình” mà thoát ly “thơ” thuần túy, “quá độ từ sáng tạo vô ý thức đến ý thức mang tính sáng tạo”. Đó chính là mâu thuẫn nêu ra trong bài luận văn của Schiller thảo luận về công thức “cái chất phác” và “cái cảm thương”. “Phê bình” hoặc “ý thức mang tính sáng tạo” của Gogol so sánh với “sáng tạo vô ý thức” của Puskin mà Megeshikovski nói, theo ông nhìn càng là cái hiện đại, cái tương lai. Chính là “cái cảm thương” đối lập với “cái chất phác” mà Schiller lý giải, Schiller cũng đem cái cảm thương, ý thức và tính sáng tạo của phê bình gọi là giai đoạn phát triển mới hơn, hiện đại hơn.


Đề mục của chúng tôi, tức đặc tính của tiểu thuyết hoàn toàn xứng đáng hưởng vinh dự đó. Tiểu thuyết coi làm tác phẩm nghệ thuật hiện đại, sau khi nối theo giai đoạn của “thơ”, đại biểu cho giai đoạn “phê bình”. Quan hệ của tiểu thuyết và sử thi, chính như quan hệ của “ý thức mang tính sáng tạo” và “sáng tạo có ý thức”. Cái đáng đề cập đến là, tiểu thuyết coi làm sản phẩm dân chủ của ý thức mang tính sáng tạo, không thiếu chút nào cái vĩ đại của sử thi.


Sáng tạo tiểu thuyết vĩ đại của Dickens, Thackeray, Tolstoð, Dostoðevski, Balzac, Zola, Proust... chính là nghệ thuật có ý nghĩa bia kỷ niệm của thế kỷ 19. Ở đây chỉ có tên người Anh, Nga, Pháp - tại sao không có người Đức? Cống hiến của nước Đức đối với nghệ thuật kể chuyện Âu châu, ở những phương diện nào đó là kiệt xuất: chủ yếu là tiểu thuyết giáo dục, như Wilhelm Meister của Goethe và sau đó Chàng Heinrich Xanh của Gottfried Keller đã miêu tả. Ngoài cái đó ra, chúng ta lại từ Goethe có được tác phẩm văn xuôi tâm lý học - triết học tự nhiên cao cấp nhất, Ái lực, kho báu của nghệ thuật tiểu thuyết thế giới. Sau đó nước ta phát triển được nhà tư tưởng của cách mạng tư sản không toàn diện, đại biểu của phái “Nước Đức trẻ”, Immermann, Gutzkow cũng viết tiểu thuyết xã hội, họ cơ hồ không dẫn tới hứng thú của thế giới, không thực sự tiến vào Âu châu. Văn xuôi tiểu thuyết của Shpilhagen ngày nay đã khô héo tàn tạ, người ta có thể rút ra kết luận, văn xuôi tiểu thuyết của Shpilhagen đối với tiểu thuyết Âu châu mà chúng ta bàn luận xưa nay không có cống hiến thực tế. Cần phải đề cập đến Theodor Fontane, trong những tác phẩm sai biệt rất lớn ông viết cuối đời, chí ít còn có một bộ kiệt tác Efi Briste tiến vào Âu châu - tuy Âu châu cho đến thế giới không đặc biệt quan tâm đối với ông. Fontane ngoài nước Đức cơ hồ không ai biết, miền Nam nước Đức, Thụy Sĩ hầu như không ai đọc tác phẩm của ông. Tình huống của nhà văn viết Đức ngữ của Thụy Sĩ cũng không chênh lệch bao nhiêu; nhà đạo đức nông dân vĩ đại Gotthelf dùng phương thức của mình tỏ ra hùng hồn; văn xuôi của Gottfried Keller được người yêu thích hành văn trang nhã, giống như vàng ròng phát ra âm hay đẹp, ông đồng thời cũng dùng thủ pháp cao siêu kể chuyện đồng thoại hiện đại; còn có nhà viết truyện ngắn miêu tả đề tài lịch sử, phong cách cao nhã Conrad Ferdinand Meyer, đều không tránh khỏi cảnh ngộ như vậy...


Tôi bàn đến sự không thịnh vượng của tiểu thuyết Đức, và tình huống giống như vậy của tiểu thuyết Đức ở nước ngoài, cái chỉ đương nhiên là thế kỷ 19, ở đây nhất là chỉ nửa sau thế kỷ 19. Bởi vì, những người như Jean Paul, Novalis, Tieck, Schlegel, Arnim và Brentano v.v... có cống hiến đáng kinh ngạc đối với tiểu thuyết phái lãng mạn Đức, tiểu thuyết phái lãng mạn chí ít tìm được một đại biểu ở E. T. A. Hoffmann. Nghệ thuật kiểu ngụ ngôn thần kỳ quỷ quái của ông có ý nghĩa trong phạm vi Âu châu, đặc biệt sản sinh ảnh hưởng mạnh mẽ ở Pháp. Tác phẩm tiểu thuyết phong cách độc đáo, ý uẩn sâu xa của người Tiệp Khắc huyết thống Đức mới qua đời gần đây([1]), bắt đầu sản sinh ảnh hưởng giống như vậy đối với giới văn học Âu châu. Trong tác phẩm của ông mang sắc thái tôn giáo, lại không thiếu mộng ảo, sợ hãi, uy-mua, xứng đáng gọi là tác phẩm sâu sắc nhất, kỳ dị nhất trong hình thức văn xuôi của văn học thế giới. Trong khoảng thế kỷ 19 giao nối với thế kỷ 20 và một phần ba đầu của thế kỷ 20, tiểu thuyết Đức về hình thức và tinh thần đều thẩm thấu vào Âu châu, dẫn tới sự quan tâm, nhưng cái nó liên quan đến phương diện đó để lần sau hãy bàn.


(Lời dẫn lược bớt trong bài văn này, đề xuất vấn đề kịch và tiểu thuyết cái nào ưu việt hơn cái nào, và vấn đề tiểu thuyết có phải là “hình thức lột xác” của sử thi hay không. Chỗ kết thúc lược bỏ một đoạn tác giả luận thuật về Richard Wagner. - Tác giả chú).


(Dịch từ cuốn “Độc bản lý luận văn nghệ” do U. Heise biên soạn, bản Stutgart năm 1977).


 


Thomas Mann (1875-1955), nhà văn học hiện thực chủ nghĩa nổi tiếng hiện đại Đức, một trong những nhà tiểu thuyết kiệt xuất nhất thế kỷ 20. Tác phẩm tiểu thuyết có: Tristan (1901), Tonio Kroger (1903), Gia đình Buddenbrooks (1901), Núi thần (1924), Bác sĩ Faustus (1947) v.v... được giải thưởng Nobel văn học năm 1929.


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh. NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info







([1]) Chỉ Kafka (1883-1924)



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »