tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20524882
Lý luận phê bình văn học
04.08.2009
Hoài Anh
Đái Đức Tuấn (TCHYA) tiếp theo và hết

“Lúc ấy độ gần nửa đêm. Đồng hồ nhà thờ làng Cổ Xuyên vừa nặng nề điểm giữa không trung mười hai tiếng ngân nga trong quãng tối, bỗng thấy trên hai ngôi mộ có lửa sáng lên như đốt bấc rồi một con chim trắng như con vạc, to như con sếu, ở đường xa bay thẳng lại gần. Ánh sáng lờ mờ khiến trông rõ con chim ấy có mỏ dài và đỏ, lại có chân cũng đỏ như chân gà rừng. Nó bay trên cao một vòng như diều hâu, rồi chiếu thẳng chính giữa đỉnh mộ có vết lửa cháy làm hiệu, thẳng đầu mổ xuống. Mỗi một khi chim vút xuống như con bói cá, trong mộ lại có tiếng kêu la:


- Ối trời ôi! Ối cha mẹ ôi!


Mổ xong chim bay vụt lên lượn vòng tròn rồi mổ xuống nữa. Cứ làm thế đến hai ba bận; pháp sư cùng ông thầy Cả nằm đắp chiếu và rải cỏ đất lên trên để che lấp, vẫn nằm yên không động tĩnh gì. Đêm vắng lặng lại giữa bãi tha ma, ai tình cờ đi qua gặp phải cảnh ấy cũng phải rú lên mà chạy.


Thế mà hai ông thầy phù thủy vẫn nằm yên không nhúc nhích, để đến khi chim đương hăng hái mổ mạnh thì hai ông cùng tung chiếu đứng lên. Rồi mỗi người một cái tay thước rõ to cứ thế mà đập lấy đập để vào hai ngôi mộ. Vụt một cái, con chim bỗng biến đi đâu mất, mà lửa trên mộ thì tắt phụt ngay đi, lúc sờ lên chỉ thấy vẫn lạnh mà không nóng. Lúc bấy giờ trong mộ vẳng ra có tiếng cám ơn cứu mạng(!) và một con chó đen bỗng rú lên một hồi rồi chạy vụt vào quãng tối xa xa...


Pháp sư vội kêu lũ người nhà nấp ở phía bờ đường, gia nhân bèn thắp đuốc đèn và đem đồ thuổng cuốc đến. Một khắc sau, hai ngôi mộ bị đào quật lên, nắp quan hòm mở tung ra, để cho bùa vào yểm. Trông cậu Tú và cô Châu vẫn còn tươi như lúc sống, tuy chết đã hơn ba bốn tháng mà thịt chưa bị nát bị tiêu. Duy một mùi hôi thối xông lên, ngửi vào lên đến tận đầu, không tài nào chịu nổi. Tuy vậy, pháp sư và ông thầy Cả vẫn thản nhiên như không ngửi thấy mùi hôi thối. Mỗi người cầm một bó hương cháy khoán một đạo bùa lên hai thây chết trong hòm. Rồi pháp sư cầm một chiếc roi dâu, đánh vào hai tử thi ba cái. Đánh một cái, bỗng có tiếng kêu la rầm rĩ, đánh đến năm roi mới thấy im. Đánh rồi hai ông thầy niệm thần chú lầm rầm, vỗ tay bắt quyết vào mặt tử thi, rồi lần lượt quỳ đặt đầu gối lên sườn áo quan, cúi đầu xuống...


Mỗi ông thầy mồm ngậm một đạo bùa trừ trùng sát quỷ, hai ông phải gục đầu vào mặt thây chết lấy mồm bỏ lá bùa vào. Vừa cúi xuống, hai thây chết há mồm ra đớp lấy đạo bùa, rồi dần dần theo hai pháp sư ngồi dậy. Hai ông thầy thổi hai đạo bùa xong, bắt quyết đặt thây ma nằm xuống mới đứng dậy nhảy ra ngoài.


Không may cho ông thầy Cả, lúc vừa nhảy ra thì lá bùa hộ thân bị rơi vào thây chết; xác ả Tố Châu thấy đạo bùa quý hóa ấy lăn vào môi thì vội đớp lấy nuốt đi. Liền lúc ấy, một con chó mực không biết từ đâu, thấy trong đáy mả nhảy ra chồm lên cắn ông thầy Cả. Chỉ trong chớp mắt ông thầy ngã lăn trên đám cỏ, mồm phọt ra máu bọt, chan hòa. Pháp sư hốt hoảng chưa kịp khoán gỡ cho trò, lúc cúi xuống thì chỉ kịp thấy ông thầy Cả thiêm thiếp đưa hồn theo Phật Thánh. Sờ vào ngực, con tim hết chạy, mà chỉ trong một giây, người ông thầy đã như gỗ đá, cứng đờ. Thì ra lá bùa hộ thân kia vừa mới rơi ra, ông thầy Cả không kịp khoán để gỡ thân được nữa. Xác chết thấy có bùa cứu vội vàng chộp lấy mà ông thầy thì bị yếu thế đi ngay. Thần trùng tuy bị trừ nhưng vẫn còn lẩn quất ở tha ma, nhân được dịp vội báo thù ngay người đã diệt mình mà cứu dòng họ Quan là dòng họ của người cừu địch...


... Câu chuyện ấy, ông xem, nó đã làm cho tôi, một người có tiếng là bạo gan, táo tợn, tôi sợ đến ba bốn tháng, không đêm nào quá tám giờ tôi một mình dám bước ra vườn nữa. Nhưng về sau, khi tôi tin là có quỷ thần, tôi lại càng bạo hơn trước, vì tôi biết rằng, nếu ở đời ông cư xử chính đính, ông đừng làm hại ai, thì dẫu có ác quỷ, ác thân, lương tâm ông trong sáng như gương, ma quỷ cũng không làm gì ông được.


Gốc của nền luân lý, nó ở đấy mà ra, ông ạ!”.


Cái bia (TTTB số 39, ngày 23-1-1935) kể chuyện một cụ Đồ cảnh nhà thanh bạch, đêm đêm phải ra miễu Thành Hoàng đọc sách để đỡ tốn tiền dầu đèn. Đêm đó cụ được chứng kiến cảnh một người lực lưỡng hai lần thì thụt vào miễu khấn khứa, cử chỉ có vẻ khác lạ, cụ liền để ý theo dõi.


Sáng hôm sau cụ ra đình đánh ba hồi trống, gọi tất cả hào mục, thủ chỉ và đinh tráng ra bàn việc. Cụ nói:


– Nay vị Thành Hoàng làng ta, xưa nay vẫn có tiếng là thiêng liêng, không biết giữ phẩm giá mình mà phạm vào tội ăn hối lộ. Mắt tôi đã trông thấy rõ ràng một thằng ăn trộm lẻn vào miếu khấn thầm xin phù hộ và ông Thành Hoàng giúp nó làm sự gian phi. Nếu thế, vị thần làng ta đã phạm một lỗi lớn, ta không nên thờ phụng nữa, phải đem phế bỏ đi, tìm người chính đáng mà thờ!


Cụ Đồ nói xong, dân làng đều ngạc nhiên, không ai cho là sự thực. Cụ bèn bắt tuần đinh theo cụ đi ra bãi chuối thì quả nhiên bắt được tên ăn trộm và tang vật rành rành.


Thấy dân làng đều sợ Thành Hoàng không ai dám động tĩnh gì, cụ Đồ xăm xăm đi vào miễu đem bát hương vứt bỏ ra ngoài. Đến chiều ông Từ giữ đình muốn đem hương ra đốt, cụ cũng ngăn cản không cho thờ nữa làm gì. Liền đấy, ngày hôm sau, con thứ hai cụ mất. Rồi người con cả cũng theo em cách đấy ba ngày. Đám tang vừa xong, bỗng ông Từ múa may quay cuồng nhảy tót lên bàn thờ trong miễu, mời cụ Đồ ra nói chuyện. Khi vừa giáp mặt cụ, ông Từ tự nhiên quắc mắt, chỉ vào mặt cụ, quát lớn:


– Anh đã biết tay ta chưa? Anh kình địch với ta, thì đấy ta cho anh biết oai ta là thế nào! Hai đứa con anh đã chết cả, còn anh nữa! Ta truyền cho anh ba ngày, nếu không nghĩ kỹ mà để lại bát hương cho ta, thì ta sẽ vật chết anh ngay tức khắc! Nếu anh còn bướng bỉnh, đúng ngày 27 giờ Mùi, anh sẽ thiệt mạng. Anh nên nghĩ cho kỹ, rồi anh sẽ biết tay ta!


Thành Hoàng hiện vào ông Từ ra lệnh cho cụ Đồ như vậy... Đúng ngày 27, cụ tắm rửa rất sạch sẽ lấy áo mới ra mặc, rồi thong dong ra miếu ngồi đợi đến giờ Mùi, cụ nói:


– Nó đã dọa vật chết tôi, thì tôi ra đây cho nó vật!


Cụ ngồi chờ mãi. Giờ Tỵ, giờ Ngọ rồi giờ Mùi nối tiếp nhau mà thoảng qua, cụ Đồ vẫn ngồi yên không nhúc nhích. Quá giờ Mùi, cụ cũng chưa chết rồi mãi đến chiều cụ cũng không chết. Tối đến cụ cho thắp đèn thật sáng, cụ khoanh tay ngồi đọc cổ văn. Trời hiu hiu giá lạnh, mưa phùn đập tí tách trên ngọn ba tiêu. Bỗng chốc, ngọn đèn mờ, mờ rồi tỏ. Một cái bóng đen đi vào miếu, bước lên bàn thờ ngồi yên vị. Ngồi xong, đứng dậy chắp tay cung kính vái cụ Đồ. Cụ trông lại, thì ra ông Từ trong miếu.


- Ông Từ làm trò gì thế?


- Tôi không phải là ông Từ, tôi là Thành Hoàng nhập vào ông Từ đây. Tôi đến để xin lỗi cụ, tôi biết cụ rồi, tôi rất phục cụ là quân tử. Dù làm người hay làm thần, ai chả có lúc lầm lỗi, tôi không may bị lúc tâm hèn trí yếu để đến nỗi phạm vào tội không liêm, cụ cũng nên nghĩ tình cũ mà tha cho tôi khỏi bị xấu hổ với láng giềng, làng mạc. Rồi từ nay trở đi, tôi xin thề không dám làm điều trái nữa. Tôi mong cụ rộng dung tha thứ phen này. Cụ nghĩ lại cho tôi, tôi xin đa tạ.


 Cụ đồ Trần nghe nói, vuốt bộ râu đắc chí cười:


– Có thế chứ, nay ngài đã biết điều lầm lỗi, tôi nỡ nào lại hẹp tâm chẳng tha thứ lỗi ngài. Song tôi xin nói ngài rõ: hiện nay chưa có ai hơn ngài thì xin tạm để ngài làm chức Thành Hoàng vậy, bằng sau này tìm được người xứng đáng, ngài phải nhường chỗ cho người ta. Bát hương của ngài, từ tối hôm nay, tôi xin bưng trả, nhưng nếu sau tôi còn mục kích một sự như lần trước, ắt tôi phải trị ngài, không tha thứ được đâu! Ngài nên cẩn thận”.


Đoạn kết của truyện như sau:


“Cụ đồ Trần về sau ung dung chết trên giường bệnh, sau khi đã gây dựng đứa con trở nên một bực kỳ tài. Dân làng V.Đ cảm đức cụ, liền thờ cụ làm Thành Hoàng thay ông thần cũ. Và truyện của cụ lại đem khắc vào bia đá để đời đời thiên hạ được phục tấm lòng ngay thẳng của bực lão nho”.


Rửa hận (TTTB số 58, ngày 6-7-1935) kể chuyện làng Ngọc Vệ có một tên ăn cướp. Nó làm nghề bợm bãi trong ngót mười năm, rồi hình như chán nản cảnh giang hồ luân lạc, nó về làng Ngọc Vệ lấy vợ sinh con. Hai vợ nó chiều nó, sợ nó như một vị thiên tử, nó hơi quắc mắt lên là vợ con đều quỳ xuống xin van. Khắp mặt con em làng Ngọc Vệ, từ thủ chỉ đến cùng đinh, nó không sợ ai, không nể ai. Nó chỉ duy nể có ông Đồ ở nhà bên cạnh. Nó nể ông Đồ vì không những ông Đồ là người có học uyên thâm, có tài tiêu sái, mà nhất là vì ông rất quân tử thanh liêm. Nó trọng ông nên quí ông, quí thành nể ông, vì thế nó gởi ba con nó cho ông dạy dỗ.


Tên kẻ cướp nuôi đến mười con gà chọi, nhưng chỉ có con kim nhỡn kê được nó yêu quí nhất, thế mà một hôm nó bỗng lăn đùng ra chết. Trưa hôm ấy, khi học trò về hầu hết, ông Đồ vừa định quay lưng vào phòng thay áo thì tên ăn cướp xồng xộc bước thẳng vào thư viên, buộc tội ông đã ném chết con gà chọi của nó và bắt ông chồng mười lạng bạc ra đền. Ông nói mình không ném chết con gà. Tên ăn cướp nói vợ nó bảo thế. Ông đồ nói: Tôi thật quả không giết gà của ông, nhưng ông đã ức tôi thế, vậy thì ta đi thề. Tên ăn cướp nói: Ừ, đi thề! Ông đi ngay với tôi.


“Hai người vừa cãi cọ nhau vừa đi thẳng ra miếu Thành Hoàng. Hai bên cùng quì xuống khấn khứa phủ phục bốn lần rồi ra. Nguyên làng Ngọc Vệ xưa nay vẫn tin ông Thành Hoàng là linh ứng, vì vị thần ấy đã báo việc gì thì tất không sai. Thiên hạ hoặc phải, hoặc trái xưa nay vẫn dắt nhau vào miếu để thề nguyện, mà đi thề thì chẳng chết ai bao giờ, duy có một sự rất kỳ: là biết ngay được người gian, người trái. Bất luận là người nào có tội mà còn già mồm đi thề, thì dẫu đề phòng thế nào, khi ra đến cửa miếu cũng bị giúi ngã xuống.


Hôm ấy sau khi hai người vừa thề xong, ông Đồ ra đến cửa miếu thì bị ngã. Thế là ông đành phải ngửa cổ ra đền mười lạng bạc. Tức giận vì ông Thành Hoàng bất công nỡ vu oan cho một kẻ hàn nho. Ông liền bỏ làng Ngọc Vệ đi nơi khác.


Ông bèn đi thẳng sang làng Cẩm Thạch xin vào làm gia sư một nhà bá hộ ở trong vùng. Vừa dạy học, ông lại vừa gắng công mài rèn kinh sử, chẳng bao lâu thi đỗ cử nhân khoa thi Hương, đến khoa thi Hội lại đỗ Thám hoa, rồi làm quan đến chức Ngự sử.


Nhân dịp Thiết ngự sử đi kinh lý, qua làng Ngọc Vệ ngài quyết ra tay đạp đổ miếu Thành Hoàng, cho ông thần ấy biết tội đã vu oan cho ngài giết chết con gà thuở trước. Ngài định sẵn sớm mai kéo cờ trống thẳng sang làng Ngọc Vệ, vậy nên tối hôm ấy, sau khi cơm nước, ngài cho quân hộ vệ đi nằm. Về phần ngài, đã sẵn mỏi mệt từ mấy hôm nay, ngài chỉ kịp cởi xong phẩm phục, khêu xong ngọn đèn, là đã thấy tâm hồn phất phưởng, trí nghĩ vẩn vơ, phong cảnh lờ mờ, không phân biệt được những vật xung quanh nữa.


Đêm hôm đó, Thiết ngự sử mộng thấy vị Thành Hoàng hiện lên nói với ông:


“Tướng công hẳn đã rõ tên tướng cướp làng Ngọc Vệ, tuy đã cải tà quy chánh, song vẫn còn máu hung hăng. Nó tàn bạo như thế, lại ỷ mình như thế, người nào khi nói trái ý nó, nó chả muốn hả giận bằng cách giết người. Nó giết người xưa nay, nên coi một nhân mạng là rẻ lắm. Hôm thấy con gà chọi chết nó cầm lăm lăm con dao trong tay, chỉ chực đi phục thù.


Người vô ý quật chết con gà chọi của nó, không phải là Tướng công mà chính là vợ lẽ của tên bợm ấy. Chị ta đương ngồi thái thịt, con gà cứ xán lại gần. Thấy con vật lại ám ảnh, chị ta giơ dao đuổi nó, vô tình phang lưỡi dao vào giữa đầu gà. Con gà ngã lăn ra chết, chị ta khủng khiếp, bèn ôm nó ra giữa sân, bỏ đó. Rồi vào lau sạch chỗ máu me trong nhà. Lúc anh tướng cướp trở về, chị vợ sợ quá, vội chạy ra bờ ao giả vờ giặt áo. Chị ta luống cuống không biết nên thú hay nên chối. Thú thì nó tất giết chết, chối là không biết thì ít ra nó cũng đánh què, mà chỉ người nào ném chết gà, thì tên bợm ấy giết người ấy. Chị ta lo quá, tự nghĩ chỉ có ông Đồ là người khả kính, nếu vu cho ông Đồ thì chắc anh chồng nể người có học mà không nỡ làm liều. Vì thế chị vợ tên bợm mới đổ oan cho Tướng công.


Khi câu chuyện đem ra cho lão đệ xử, lão đệ lấy làm khó nghĩ quá. Nếu cứ lấy lẽ phải mà bảo là Tướng công vô tội, thì tên bợm ắt phải cố tìm ra cho được kẻ giết gà. Rồi thế nào nó cũng chém đầu vợ nó. Nếu vu oan cho Tướng công, ngài chỉ mất vài lạng bạc, ngài chịu một phen bực tức, nhưng ngài cứu được một mạng người. Thiết nghĩ mạng người là lớn. Bây giờ Tướng công ra làm quan, chắc đến những cái án như vậy, ngài cũng xử như lão đệ.


Lão đệ vẫn biết như thế Tướng công sẽ lấy làm uất ức, nhưng dám hỏi không vì sự bực tức đó thì làm gì ngài đã thấy được hôm nay? Nếu không vì lão đệ gợi mối giận trong lòng ngài, có lẽ đời ngài yên phận làm thầy đồ ở làng Ngọc Vệ có bao giờ chịu dùi mài kinh sử mà thi Đình đỗ đến Thám hoa?”.


Tỉnh dậy, Thiết ngự sử nghĩ lại, bỏ ý định đến phá miếu Thành Hoàng để rửa thù.


Truyện này TchyA đề Kính tặng hương hồn phụ thân. Thân sinh ông là một nhà nho, thi đỗ làm chức tri huyện. Còn truyện Cái bia, TchyA đề Kính tặng ông bạn vong niên Châu giang Ưu thiên tiên sinh (tức cụ Bùi Kỷ). Qua đó có thể thấy TchyA chịu ảnh hưởng nhiều của Nho học, dù về Tây học ông cũng đỗ tú tài, làm tham tán.


Những truyện ngắn này, TchyA đều viết theo quan niệm truyền kỳ của phương Đông, nghĩa là nêu ra một bài học đạo đức (con người nếu chính đính, thì ma quỷ cũng không làm hại nổi mình), khúc xạ hiện thực (nạn tham nhũng ăn hối lộ...), gửi gắm lý tưởng (con người cần phải cương trực, không khuất phục trước uy quyền, nhưng vẫn phải giữ tấm lòng nhân đạo, chịu đựng hy sinh để bảo vệ tính mạng cho người khác...). Như vậy TchyA gần với Bồ Tùng Linh. Những truyện do Bồ Tùng Linh ghi lại đều là những truyện dị thường, truyện bùa chú, những con hồ li biến thành người, những hồn ma, loài vật, và cả sâu bọ, cây cỏ đều có thể biến thành đàn ông, đàn bà, tiếp xúc, với người sống một cách tự nhiên. Thế giới của người sống và người chết, giữa ma quỷ và con người không có phân biệt chỉ là truyện ban ngày và ban đêm. Chết chẳng qua chỉ là tiếp tục một cuộc sống khác, ở một cảnh giới khác. Hai thế giới này vẫn có sự tương thông, ảnh hưởng qua lại với nhau mà sứ giả của chúng là những thần tiên, ma quỷ, quái vật, những ông đồng bà cốt, đạo số, thầy pháp, chân nhân và những người được lựa chọn khác. Do cái nhìn thế giới phi nhị nguyên của vũ trụ luận phương Đông, truyện của Bồ Tùng Linh không chú trọng “gây sợ” như Hoffmann, không phân tích tâm lý như Poe. Nhân vật của TchyA không phải chỉ là độc ác đáng sợ như của Hoffmann, Poe... mà có những con ma đáng yêu như Peng Slao, cái tình của ma và người ở đây đã vượt qua giới hạn của sự sống chết.


TchyA không sáng tác ra những con ma như Bồ Tùng Linh, mà ông sưu tầm những truyện được người đời đồn đãi như loại ma trành hóa thân của những cái chết bất đắc kỳ tử mà xưa dân gian gọi là dớp, dớp nhà, phải tìm mọi cách để tránh lặp lại với người sau, hay Thần Hổ là con hổ dữ đã sống lâu, đã ăn thịt hơn một trăm người, trong tai nổi lên hơn trăm tia màu đỏ, nghe được tiếng người ở ngoài ngàn dặm và chạm vào lá cũng không quên, kể cả truyện Thần nanh đỏ mỏ mà người dân nhất là ở vùng rừng núi Thanh Hóa, quê TchyA thường nhắc tới. Trong văn học cổ điển cũng có những truyện khuyết danh Hổ bộc (Đầy tớ của hổ) Cọp báo số mệnh cho người...


Là một nhà nho đồ đệ của luân lý và triết lý Nho giáo, ông tìm cách giải thích những chuyện hoang đường kỳ quái đó bằng nguyên lý âm dương, (khi âm thịnh dương suy thì ma quái có thể hoành hành) và quan niệm thiên mệnh (tin rằng sống chết đều có số mệnh, nên ma quỷ cũng không làm hại được người chính đính). Ông chấp nhận những chuyện đó không phải vì mê tín dị đoan mà trước hết vì mục đích luân lý thực tiễn, có cho rằng đó là chuyện có thực thì mới đủ sức răn đời. Do đó, TchyA hay dừng lại để nghị luận giải thích như chỉ sợ người đọc cho là bịa đặt hoang đường, chứ không phải mô tả để kích động cảm giác. Văn ông viết có nhiều phong vị cổ, săn sóc chải chuốt, ưa dùng chữ Hán, nhưng không chặt chẽ, cô đọng như Bồ Tùng Linh mà thường dài dòng lôi thôi.


Bồ Tùng Linh viết: “Kịp khi đã đầy đủ ở trong lòng và ngưng ở nơi tay rồi thì mặc cho người ta có thể viết hàng chục hàng trăm lời mà vẫn chưa đủ, còn ta chỉ viết có vài lời là xong. Thế mà tới khi bài dừng mực hết mọi người vẫn cảm thấy như có hàng chục hàng trăm lời ở đầu ngọn bút. Hoặc mặc cho người khác viết vài lời là đủ, ta lại kéo dài ra hàng chục hàng trăm lời, thế mà tới khi bài dừng mực hết, mọi người lại cảm thấy dường như trên giấy không quá một lời. Làm được như vậy, còn lo gì văn chương không lý sáng lời đạt, thần khí không đầy đủ hoàn toàn nữa. Như vậy được gọi là phép tránh chỗ thực đánh chỗ hư đó”.


Gần đây người ta phát hiện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu đời Minh, nhưng vẫn có lối viết riêng mang đậm màu sắc Việt Nam, trong sáng gọn gàng, đó là một kinh nghiệm cần lưu ý. Trong Truyền kỳ mạn lục cũng có một số truyện có tư tưởng chủ đề gần gũi với truyện Cái bia TchyA, như Truyện đối tượng ở Long cung nói lẽ thịnh suy của chư thần do ở chính, tà qua truyện thần Thuồng Luồng cướp vợ người bị trừng phạt, nhưng bối cảnh xảy ra câu chuyện ở huyện Vinh Lại, tỉnh Hải Dương. Truyện Chức Phán sự đền Tản viên là Ngô Tử Văn dám đốt cháy đền tà và lại còn có gan chấp nhận cái chết để thành Phán sự đền Tản viên, truyện Tướng Dạ Xoa tả chàng kỳ sĩ Văn Dĩ Thành, tính tình hào hiệp không để ma quỷ hư hoặc, lại còn được chúng suy tôn làm thống lĩnh. Cũng vì thế được Diêm Vương lựa chọn và chàng cũng can đảm chịu nhận cái chết sớm để làm một trong bốn viên tướng của bốn bộ Dạ Xoa được giao quyền hành sát phạt, được ủy cho những tính mệnh sinh linh. Do đó ta thấy những truyện kinh dị mang ý nghĩa luân lý của TchyA không xa lạ, mà vẫn nằm trong truyền thống văn học lâu đời của dân tộc.



Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »