tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20782896
Lý luận phê bình văn học
04.08.2009
Hoài Anh
Henry James & nghệ thuật tiểu thuyết

Tôi vốn không nên đem đề mục lớn như trên thêm vào bài bình luận ngắn gọn này - bởi vì nó tất nhiên thiếu bất kỳ tính toàn diện nào, mà nếu phải tiến hành suy tính đầy đủ đối với đề mục mà nó bàn bạc sẽ khiến chúng ta đi rất xa - nếu không phải là tôi từ đề mục Sir Walter Besant([1]) mới đây dùng phát biểu cuốn sách nhỏ thú vị tựa hồ tìm được một cớ cho cách làm to gan ngông cuồng của tôi.


... Lý do tồn tại duy nhất của một cuốn tiểu thuyết là nó có ý đồ phản ảnh đời sống. Một khi nó vứt bỏ ý đồ đó, cũng tức là ý đồ giống như vậy chúng ta nhìn thấy trên vải vẽ của họa sĩ, nó sẽ sa vào một cảnh kỳ quái. Người ta quyết không mong đợi tranh để có được khoan thứ và tự rẻ rúng mình; mà chỗ tương tự giữa nghệ thuật của họa sĩ và nghệ thuật của nhà tiểu thuyết, từ cái tôi có thể nhìn đến nơi đến chốn mà nói, là toàn diện. Linh cảm của hai cái là giống nhau, quá trình sáng tác của hai cái (ngoại trừ đặc điểm công cụ dùng không giống nhau), thành công của hai cái là giống nhau. Hai cái có thể học tập lẫn nhau, hai cái có thể giải thích lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Sự nghiệp của hai cái là giống nhau, vinh dự của một phía cũng là vinh dự của một phía khác. Giáo đồ đạo Islam cho rằng một bức tranh là cái tà ác, nhưng từ lâu đã không có bất kỳ giáo đồ đạo Cơ Đốc nào cho là như vậy, trong đầu óc của giáo đồ đạo Cơ Đốc, các thứ dấu vết của hoài nghi đối với nghệ thuật chị em (dù cho có thể là được ngụy trang) đến nay vẫn còn vấn vít, đó là càng thêm kỳ quái. Biện pháp hữu hiệu duy nhất để tiêu trừ thứ hoài nghi đó, là nhấn mạnh chỗ tương tự tôi vừa đề cập đến - kiên trì sự thực này; chính như tranh là hiện thực, tiểu thuyết là lịch sử. Đó là khái quát duy nhất (công bằng đối với nó) mà chúng ta có thể tiến hành cho tiểu thuyết. Nhưng lịch sử cũng là được cho phép phản ánh đời sống; người ta quyết không mong đợi nó biểu thị ý xin lỗi, chính như không mong đợi hội họa biểu thị ý xin lỗi vậy. Chất liệu của tiểu thuyết cũng là cái tồn trữ trong văn hiến và ghi chép, và còn nếu nó không tiết lộ nguồn gốc, nó cần phải nói chuyện một cách đầy tự tin, dùng ngôn ngữ của nhà sử học nói chuyện. Những nhà tiểu thuyết cao minh nào đó quen tiết lộ nguồn gốc của mình, thứ cách làm đó nhất định thường thường khiến những người nghiêm chỉnh đối đãi với tiểu thuyết của họ đau lòng rơi lệ. Gần đây đọc lại một số thiên chương nào đó của Anthony Trollope([2]), tôi cảm thấy sâu sắc ông ở phương diện này rất không thận trọng. Ở một đoạn lời xa rời đề, trong một câu sáp nhập vào hoặc một câu nói riêng, ông cung nhận với độc giả ông và người bạn tín nhiệm ông chẳng qua chỉ là đang “hư cấu”. Ông thừa nhận một số sự kiện ông kể quyết không quả thực xảy ra, và còn ông có thể cấp cho câu chuyện của ông bất kỳ phát triển biến hóa nào độc giả có thể thích hơn cả. Theo tôi nhìn sự phản bội đối với một chức trách thiêng liêng, tôi thẳng thắn nói, là một tội lỗi cực lớn, chính như thứ thái độ đó nếu xuất từ Gibbon([3]) hay Macaulay([4]) cũng sẽ khiến tôi cảm thấy kinh hãi giống như vậy. Cái đó có nghĩa nhà tiểu thuyết không như nhà sử học, ông ta không phải là hoàn toàn làm việc tìm kiếm chân lý (đương nhiên cái tôi chỉ là chân lý mà ông thừa nhận, chúng ta cần phải tiếp thu những tiền đề ấy của ông, dù chúng là cái gì), mà như vậy hành động một cái khiến ông ta mất toàn bộ đất dung thân. Phản ánh và dùng sự thật thuyết minh quá khứ và hành động của người ta, đó là nhiệm vụ chung của hai loại tác giả, mà sai biệt duy nhất tôi có thể nhìn thấy, là nhà tiểu thuyết ở phương diện sưu tập chứng cớ có càng nhiều khó khăn, đó là vinh quang của ông ta, ông ta càng thành công thì càng vinh quang. Ông vừa cùng nhà triết học vừa cùng họa sĩ có nhiều chỗ giống nhau, theo tôi nhìn đó là cấp cho ông ta một thân phận phi thường; thứ tương tự song trùng đó là một thứ truyền thống của vinh quang.


... Đề mục của bài này chính là muốn chỉ ra tính nguy hiểm của thứ sai lầm đó; chỉ ra những truyền thống nào đó về đề mục này, được vận dụng một cách tiên nghiệm, đã tạo thành hậu quả nghiêm trọng, chỉ ra một thứ nghệ thuật làm việc tái hiện đời sống một cách trực tiếp như vậy, để bản thân nó được lành mạnh, cần phải được hưởng tự do hoàn toàn, nó dựa vào vận động đời sống, mà ý nghĩa của vận động là tự do. Chúng ta trước đó có thể yêu cầu một cuốn tiểu thuyết gánh vác nghĩa vụ duy nhất, mà không đến nỗi bị chê trách là làm việc võ đoán, là nó nhất định phải thú vị. Trách nhiệm mang tính chung rơi trên nó, nhưng đó cũng là trách nhiệm duy nhất tôi có thể nghĩ đến. Theo tôi nhìn, phương pháp mà nó có thể dùng để đạt tới mục đích đó (dẫn tới hứng thú của chúng ta) là không sao kể xiết, mà còn nếu dùng những khung những điều để hạn chế, chỉ sẽ có hại mà vô ích. Những phương pháp đó là các loại các dạng, giống như tính tình của người, chúng càng có thể phản ánh một cách thành công một tâm linh độc đáo khác với mọi người thì càng thành công. Một cuốn tiểu thuyết dựa theo định nghĩa rộng rãi nhất của nó, là một thứ ấn tượng cá nhân, trực tiếp đối với đời sống; cái đó, đầu tiên, cấu thành giá trị của nó, giá trị của nó căn cứ vào cường độ của ấn tượng mà hoặc lớn hoặc nhỏ. Nhưng căn bản sẽ không có bất kỳ cường độ nào, nhân đó mà cũng không có bất kỳ giá trị nào, trừ phi có tự do cảm giác và nói chuyện; vạch ra một tuyến đường phải tuân theo, định ra một ngữ điệu cần dùng, vẽ ra một hình thức cần bổ sung, đó là hạn chế đối với thứ tự do đó, cũng là áp chế đối với cái mà chúng ta vừa khéo cảm thấy tò mò hơn cả...


... Những nhân vật và tình cảm khiến người cảm thấy chân thực là những cái khiến người cảm động nhất và khiến người cảm thấy hứng thú nhất, nhưng trình độ của tính chân thực là rất khó xác định. Don Quixote hoặc ông Micawber([5]) là có sai biệt rất vi diệu; đó là tính chân thực được tưởng tượng của tác giả ra sức tiêm nhiễm. Bởi vậy, dù cho nó có thể rất sinh động, đối với đề xuất nó coi làm một bản mẫu, bạn sẽ cảm thấy do dự; như vậy bạn sẽ dẫn tới một học sinh đề xuất một số vấn đề hết sức ngượng ngập. Không nói cũng đủ hiểu, bạn sẽ không viết nổi một cuốn tiểu thuyết hay, trừ phi bạn có cảm giác chân thực; nhưng rất khó cấp cho bạn một phương pháp bí truyền để sản sinh thứ cảm giác ấy. Nhân loại là không bờ không bến, chân thực cũng có vô số hình thức; chúng tôi có thể nói một cách khẳng định nhiều nhất là một số bông hoa của tiểu thuyết có mùi hương của nó, mà hoa khác lại không có; còn như trước đó nói cho bạn biết bó hoa nên tổ chức thành như thế nào, đó là một việc khác. Nói một người cần phải căn cứ vào kinh nghiệm để viết, lời như vậy nói được cực hay nhưng không có được yếu lĩnh, đối với người chúng ta giả tưởng là muốn viết tiểu thuyết, một câu như vậy lại sẽ mang một mùi vị trào lộng. Cái chỉ là thứ kinh nghiệm nào, nó lại bắt đầu ở đâu, kết thúc ở đâu? Kinh nghiệm xưa nay là không có hạn độ, nó cũng xưa nay không phải là hoàn toàn; nó là một thứ tính cảm thụ không bờ không bến. Một thứ lưới nhện khổng lồ dùng sợi tơ nhỏ bé dệt thành, treo trong nhà của ý thức, bắt mỗi một hạt nhỏ từ không trung rơi xuống tấm dệt của nó. Nó là lúc trong óc giàu sức tưởng tượng - nếu vừa khéo là óc của một người có thiên tài mà còn trong óc đầy không khí thì càng là như vậy - Nó tiếp nhận ám thị bí ẩn nhất của đời sống, nó thậm chí đem mạch đập của không khí chuyển hóa làm sự gợi ý mới. Chỉ cần cô gái sống ở thôn trấn là một cô gái lớn tuổi phàm mọi việc không gì không lưu tâm, nói với cô ta về các sĩ quan cô tất nhiên không biết nói gì là rất công bằng, chỉ cần có sức tưởng tượng phụ trợ cô có thể nói ra chuyện thực của một số người trong những sĩ quan đó. Kỳ tích so với cái đó còn lớn hơn người ta đều đã thấy. Tôi nhớ một nhà tiểu thuyết Anh, một phụ nữ thiên tài, nói cho tôi biết, bà từng do trong một truyện của bà tìm cách viết ra ấn tượng đối với tính cách và phương thức sinh hoạt của thanh niên đạo Gia Tô Pháp mà rất được khen ngợi. Bà từng được hỏi là từ chỗ nào nghe được đầu đuôi xuôi ngược của loại người không mấy người biết ấy, bà từng được chúc mừng vì cơ hội khó có được ấy. Những cơ hội đó là có một lần, ở Paris, khi bà lên cầu thang, đi qua một cánh cửa mở, trong đó, ở trong nhà một vị pasteur (Pháp ngữ: mục sư), có mấy tín đồ Gia Tô trẻ ngồi trước bàn ăn, vây quanh một bữa cơm ăn xong. Cái nhìn ấy lưu lại một bức tranh: nó chỉ kéo dài một khoảnh khắc, nhưng khoảnh khắc đó là kinh nghiệm. Bà có được ấn tượng cá nhân trực tiếp của bà, bà cũng sáng tạo ra điển hình của bà. Bà vốn biết thanh niên là cái gì, cũng biết đạo Gia Tô là cái gì, bà lại có cơ hội nhìn thấy người Pháp là chuyện như thế nào, kết quả bà đem những cách nghĩ ấy chuyển hóa làm một hình tượng cụ thể, sáng tạo ra một hiện thực. Nhưng, cái quan trọng nhất là, bà có tài năng “được tấc lấn thước” trời dành riêng cho, thứ tài năng đó so với tình huống ngẫu nhiên của bất kỳ địa điểm cư trú hoặc địa vị trong nấc thang xã hội nào là một thứ nguồn suối sức mạnh lớn hơn nhiều. Năng lực căn cứ vào cái nhìn thấy dò đoán cái không nhìn thấy, năng lực vạch rõ hàm nghĩa của sự vật. Năng lực căn cứ vào mô thức bình giá chỉnh thể, cảm thụ đối với đời sống thông thường sâu sắc như vậy dĩ chí bạn rất dễ hiểu thứ điều kiện của bất kỳ góc đặc thù nào của nó - nhóm tài năng đó cơ hồ có thể nói liền cấu thành kinh nghiệm, và còn chúng ở nông thôn và thành thị đều xuất hiện ở trong tầng lớp trình độ giáo dục hết sức khác nhau. Nếu kinh nghiệm là do các thứ ấn tượng cấu thành, cũng có thể nói các thứ ấn tượng là kinh nghiệm, chính như (chẳng lẽ chúng ta không nhìn thấy hay sao?) chúng là không khí chúng ta hô hấp. Bởi vậy, nếu tôi nhất định phải nói với một tay mới, “Căn cứ vào kinh nghiệm và chỉ căn cứ vào kinh nghiệm để viết”, tôi sẽ lại thấy được đó là một lời khuyên suông, nếu tôi không lập tức cẩn thận bổ sung nói: “Nỗ lực làm một một người phàm mọi việc không gì không lưu tâm!”.


Tôi nói như vậy quyết không phải là cố ý rút nhỏ tính quan trọng của tinh xác - tính quan trọng của chi tiết chân thực. Mỗi người căn cứ vào thú vị của mình nói chuyện là tốt nhất, bởi vậy tôi có thể mạo muội nói tôi thấy được cảm giác chân thực (tính thực tại của khắc họa chi tiết) là ưu điểm quan trọng nhất của một cuốn tiểu thuyết - tất cả những ưu điểm khác (bao gồm mục đích đạo đức tự giác mà ông Besant bàn đến) đều một cách bất lực, cúi đầu tuân lệnh bám vào ưu điểm đó. Nếu nó không tồn tại, chúng đều coi như số không, mà nếu những cái đó tồn tại, thế thì hiệu quả của chúng quy công cho thành công mà tác giả sáng tạo ảo giác của đời sống giành được, nghiên cứu đối với quá trình vi diệu đó, dựa theo thú vị của tôi để nói, là bắt đầu và chung kết cấu thành nghệ thuật của nhà tiểu thuyết. Chúng mang cho ông ta sự cổ vũ, mang cho ông ta tuyệt vọng, mang cho ông ta sự đền bù, mang cho ông ta đau khổ, mang cho ông ta vui sướng, đúng, chính là ở đây ông ta cùng đời sống cạnh tranh; chính là ở đây, ông ta cùng người anh em họa sĩ của ông ta cạnh tranh, khi ông ta cố sức miêu tả vẻ ngoài của sự vật, thứ vẻ ngoài biểu đạt ý nghĩa của chúng, cố sức nắm bắt màu sắc, khuôn dáng, biểu lộ tình cảm ngoại quan, thực chất của cảnh tượng nhân sinh...


... Kết quả rất nhanh, chính như tôi đã nói, liền trở về với thích thú; dù cho ông Zola (vấn đề ông suy nghĩ không có sức mạnh bằng phản ánh đời sống của ông) không cam chịu thừa nhận thứ tính tuyệt đối của thú vị này, bởi vì ông cho rằng có một số cái người ta nên thích, cũng là cái họ có thể bị dẫn tới thích. Tôi đúng là không có cách nào tưởng tượng ra bất kỳ cái nào (chí ít là ở phương diện tiểu thuyết) là cái người ta nên thích hoặc nên ghét. Lựa chọn là khẳng định có thể tự lo việc của mình, bởi vì đằng sau nó có một động cơ ổn định. Động cơ đó chẳng qua chỉ là kinh nghiệm mà thôi. Chính như người ta thể nghiệm đời sống, họ cũng sẽ thể nghiệm nghệ thuật quan hệ chặt chẽ nhất với họ. Sự chặt chẽ của thứ quan hệ đó khi chúng ta thảo luận về thành tựu của tiểu thuyết quyết không thể quên. Rất nhiều người đem tiểu thuyết nói thành một thứ hình thức nhân tạo không tự nhiên, một thứ sản vật của sự khéo léo, nhiệm vụ của nó là biến đổi và sắp đặt sự vật chung quanh chúng ta, đem chúng chuyển hóa làm mô thức rập khuôn, truyền thống. Nhưng, thứ cách nhìn đó khiến chúng ta không đi được xa, tuyên phán nghệ thuật chỉ có thể vĩnh viễn lặp lại một vài giọng cũ, cắt đứt sự phát triển của nó, và còn dẫn chúng ta đến trước một bức tường chết. Nắm lấy giọng điệu và đặc sắc của đời sống, nắm lấy tiết tấu không quy tắc, đó là nỗ lực dùng sức mạnh kiên cường của nó khiến “tiểu thuyết” đứng được vững chân. Chúng ta trong cái mà tiểu thuyết cung cấp cho chúng ta càng nhìn thấy không có sự sắp đặt lại đời sống, chúng ta liền càng cảm thấy bị mắc lừa, bởi vì cái nhìn thấy được là một thế phẩm, một thứ vật chiết trung và trình thức. Thường thường nghe thấy người ta có cơ sở chắc chắn bàn luận về việc sắp đặt lại này, hễ đề cập tới dường như nó là đỉnh cao của nghệ thuật. Theo tôi nhìn, ông Besant ra sức bàn về “lựa chọn”, có nguy hiểm sa vào sai lầm to lớn đó. Nghệ thuật về bản chất là lựa chọn, nhưng nó là một thứ lựa chọn lấy tính điển hình, có tính toàn diện làm mục tiêu chủ yếu của nó. Đối với rất nhiều người mà nói, tiểu thuyết có nghĩa là kính cửa sổ màu hoa hồng, lựa chọn lại có nghĩa là góp nhặt cho bà Grendy([6]) một bó hoa. Họ sẽ nói dõng dạc cho bạn biết giữa sự suy nghĩ về nghệ thuật và cái không vui thích, cái xấu xa không chút quan hệ; họ sẽ thao thao bất tuyệt liệt kê rất nhiều câu thường dùng cửa miệng về sự hẹp hòi của lĩnh vực nghệ thuật và hạn độ của nghệ thuật, cho đến khi bạn sau cơn kinh ngạc không ngăn nổi cũng phải suy nghĩ về lĩnh vực và hạn độ của ngu muội vô tri. Theo tôi nhìn, không người nào có thể làm được một thử nghiệm nghiêm túc về nghệ thuật mà không ý thức được tự do tăng thêm rất lớn - một thứ tự do mới phát hiện, dưới thứ tình huống đó bạn nhìn ra - nhờ vào một tia sáng trên trời - lĩnh vực của nghệ thuật là toàn bộ đời sống, toàn bộ cảm thụ, toàn bộ quan sát, toàn bộ tưởng tượng. Chính như ông Besant đã biểu thị rõ một cách hết sức chính xác, nghệ thuật là toàn bộ kinh nghiệm.


... Giống như ông Besant, tôi đem vấn đề đạo đức của tiểu thuyết cứ lưu đến cuối cùng, nhưng đến cuối cùng tôi đã dùng hết khuôn khổ của tôi. Đó là một vấn đề khó khăn trùng trùng, xin xem chúng tôi mới bắt đầu liền gặp phải, khó khăn đầu tiên dùng hình thức của một vấn đề rõ ràng xuất hiện. Trong một thứ thảo luận như vậy, lời lẽ hàm hồ là trí mạng, thế thì đạo đức và mục đích đạo đức mà ông ta nói xét cho cùng là ý tứ gì? Có thể thỉnh cầu ông hạ định nghĩa cho danh từ của ông và giải thích một bức tranh (một cuốn tiểu thuyết cũng là một bức tranh) như thế nào có thể là cái đạo đức hoặc cái không đạo đức hay không? Ông hy vọng vẽ một bức tranh đạo đức hoặc nặn một bức tượng đạo đức, có thể thỉnh cầu ông nói cho chúng ta biết ông định bắt tay làm như thế nào hay không? Chúng ta là đang thảo luận về “nghệ thuật tiểu thuyết”, vấn đề nghệ thuật là vấn đề kỹ xảo sáng tác (trên ý nghĩa rộng rãi nhất); vấn đề đạo đức hoàn toàn là một chuyện khác, thế thì có thể thỉnh cầu ông để chúng ta hiểu rõ ông sẽ một cách khinh dị đem hai cái lẫn lộn với nhau như thế nào hay không?


(Dịch từ cuốn “Tuyển tập trứ tác nổi tiếng lý luận văn nghệ phương Tây”).


 


Henry James (1843-1916), nhà tiểu thuyết và phê bình Mỹ, nhập quốc tịch Anh năm 1915. Ông là một người mở đường cho tiểu thuyết tâm lý hiện đại trong văn học phương Tây. Tác phẩm tiêu biểu có: Roderick Hudson (1876), Điều mà Maisie biết, Người Mỹ (1877), Chân dung một vị phu nhân (1881), Daisy Mailer (1879), Người Boston (1886), Công chúa Casamassima (1886), Áp lực (1898), Những vị đại sứ (1903), Bát vàng (1904), Cánh chim câu (1902).


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh. NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info


 







 ([1]) Walter Besant (1836-1890), nhà tiểu thuyết Anh kiêm nhà sử học, vào ngày 24 tháng 4 năm 1884 phát biểu bài diễn giảng này ở học hội hoàng gia London. Luận văn của James đầu tiên đăng ở “Tạp chí Lãng mạn” số tháng 9 năm 1884, nó vừa phê bình tiểu thuyết kinh hiểm và tiểu thuyết tự nhiên chủ nghĩa, vừa tiến hành biện hộ từ trên lý luận cho tiểu thuyết lấy phân tích tâm lý làm đặc sắc của bản thân tác giả.




([2]) Trollope (1815-1882), nhà tiểu thuyết Anh.




([3]) Gibbon (1837-1894) nhà sử học Anh, trứ tác có Lịch sử suy vong của đế quốc La Mã.




([4]) Macaulay (1800-1859), nhà sử học Anh, trứ tác có Lịch sử nước Anh.




([5]) Một nhân vật trong David Copperfield của Dickens viết.




([6]) Nhân vật trong vở hỉ kịch nổi tiếng Cày nhanh (1798) của nhà hỉ kịch Anh Thomas Norton (1764-1838) viết, thành tượng trưng cho hẹp hòi bảo thủ, trịnh trọng.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »