tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20525963
Lý luận phê bình văn học
01.08.2009
Hoài Anh
Đái Đức Tuấn (TCHYA) Với thể loại tiểu thuyết truyền kỳ

… Trong tập Ai hát giữa rừng khuya cũng như trong tập Thần Hổ, tác giả để nhiều ánh sáng quá, mà phàm trong truyện kỳ quái thú vị nhất như những truyện của Hoffmann, phải có đủ bóng tối cho ma hiện hình. Những đoạn ma cụt đầu đấu võ, ma trành hát cho thần Hổ nghe, nếu viết có nghệ thuật thì ghê sợ biết chừng nào. TchyA muốn cho người ta tin rằng có những việc quái đản trong thế giới loài người bằng lời nghị luận, ông muốn đánh vào lý trí người ta, nên ông không thành công. Trái lại, Bồ Tùng Linh hay Hoffmann đều chỉ nhằm vào cảm giác, vào chỗ xúc động, vào những tính di truyền của người cổ sơ ở người thời nay, để vẽ vời cảnh vật bằng những nét mập mờ, nên đọc họ, người ta thấy đầy thơ mộng mà vẫn rùng mình sởn óc. Nhà văn Tàu và nhà văn Đức ấy không bao giờ có cái tham vọng làm cho người đọc tin những truyện của họ là có thật”.


Ở đây, Vũ Ngọc Phan nêu hai mẫu mực của tiểu thuyết truyền kỳ là truyện của Bồ Tùng Linh và truyện của Hoffmann. Nhưng thực ra quan niệm về truyền kỳ của phương Đông và phương Tây có khác nhau.


Ở phương Đông, Tả tác từ điển (2004) của Trung Quốc ghi: “Truyền kỳ: chỉ một loại truyện ngắn văn ngôn bắt đầu ở đời Đường, trên cơ sở tiểu thuyết chí quái đời Lục triều phát triển mà thành. Từ “truyền kỳ” lại có hàm nghĩa không giống nhau, như đời Tống lấy các cung điệu làm truyền kỳ, đời Nguyên lấy tạp kịch làm truyền kỳ; đời Minh chỉ khu biệt ở Nam hí của tạp kịch phương Bắc”. Cái tên “truyền kỳ” từ đời Đường đến đời Minh tuy đã trải qua bốn lần thay đổi nhưng chưa hề tách rời những tác phẩm có tính chất tự sự như loại tiểu thuyết, hý kịch vốn vẫn có tình tiết”. Lý Ngủ đời Minh trong Nhàn tình ngẫu ký viết: “Cổ nhân gọi kịch bản là truyền kỳ là bởi vì tình tiết của nó rất khác lạ, độc đáo, chưa được người nhìn thấy và lưu truyền bao giờ, cho nên nổi tiếng. Vậy có thể thấy được rằng không phải “kỳ” thì không truyền vậy. “Mới” đó là một tên khác của kỳ”. Nếu như những tình tiết loại ấy đã được thấy ở ngoài sân khấu, thì nghìn người cùng thấy, không có gì là “kỳ” nữa rồi thì truyền bá làm gì nữa.


Thang Hiển Tổ đời Minh trong Điểm hiệu Ngu sơ tân chí nói: “Cuốn sách Ngu sơ chí tập hợp truyện ký hơn một trăm nhà thời Đường trong đó lược dẫn hàng chục truyện của Thẩm Ước đời Lương. Những truyện chép trong đó đều là quái đản, kỳ lạ, không có trong thực tế, khoái trá, ngạc nhiên. Đọc nó khiến lòng người mở rộng trí tưởng tượng, thích thú nhảy nhót. Cái đó không chỉ do chúng không có trong hiện thực mà còn trong những truyện đó, tác giả thông thường ý có chỗ xúc động, lời có chỗ gửi gắm, luật có cả của hạng phong lưu, tù tội, do vậy khó từ chối không đọc chúng được vậy. Nghĩa là có gửi gắm, có yêu ghét, có chê trách, có khuyến khích, không phải viết “kỳ” để mà “kỳ” mà có chỗ răn dạy trong chỗ “quái đản kỳ lạ” ấy. Vì vậy trong những truyện đó có thể tìm thấy sự chân thú”.


Trong lời hình điểm Tục Ngu sơ chí, ông khen ngợi một số câu chuyện được viết ra từ ảo tưởng của tác giả rằng: “Việc lạ có thể khai mở lòng người ta, khiến người ta phấn khởi tinh thần. Việc nhà tiểu thuyết chỉ nói đến ma, đến cáo, đến trộm, đến cá kình, đến sấm, đến thủy ngân, đến ảo thuật, đến đạo sĩ, đều là thuộc nghĩa thứ nhất trong thể tài của chúng vậy”. Tập hí kịch do ông tự sáng tác Ngọc minh đường tứ mộng ông cũng thông qua sự miêu tả về sống chết mộng ảo, thế giới trên chiếc gối, vương quốc kiến và thế giới yêu quái để bày tỏ ý tứ hứng thú của mình”.


Nhà nghiên cứu đương đại Khâu Chấn Thanh trong cuốn Trung Quốc cổ điển văn nghệ lý luận lệ thích viết: “Tại sao Thang Hiển Tổ lại say sưa với những nhân vật và sự kiện quái đản kỳ lạ kiểu “quỷ thần mộng ảo” như vậy? Việc ấy chính là do nó dễ dàng thích ứng với cái “tình” có khả năng siêu việt giới hạn của sự sống chết, nên ông hằng cổ vũ dùng cái “tình” ấy để thêu dệt nên một thế giới khác lý tưởng hơn, đẹp đẽ hơn, dùng nó để thay thế thế giới hiện thực đen tối được thống trị bằng cái lý phản động”.


 Nhà sử học đương đại Hầu Ngoại Lư trong Luận Thang Hiển Tổ kịch tác tứ chủng cũng từng chỉ ra rằng, thế giới ảo tưởng kỳ lạ quái đản trong kịch bản của Thang Hiển Tổ là một viễn cảnh xã hội khác đối lập với hiện thực đương thời.


Bồ Tùng Linh đời Thanh, trong Dữ chư đệ điệt thư viết: “Tuy xưa nay tác phẩm nổi tiếng nhiều như rừng, nhưng tịnh không có loại cứng nhắc rối rắm, không có kiểu phẳng lặng thẳng tuột, như vậy mới trở thành tác phẩm hay được. Cho nên khi đề tài vừa tới tay thì phải tĩnh lặng đặt cả tâm hồn mình vào cái thần, cái lý của sự vật, từ thực đến hư, từ có tới không mà suy đi nghĩ lại. Khi đã thâm nhập vào bên trong của sự vật rồi thì phải để ý tìm tòi khắp đủ mọi bộ phận trước sau trên dưới không để sót một thứ gì.


Nếu được như vậy, cho dù là viết ma viết quỷ, viết trần thế hay âm ty đều có thể viết một cách cực kỳ viên mãn, mà không ra ngoài chỗ tình lý, viết một cách cực kỳ có kỹ xảo mà vẫn phù hợp với ý nguyện con người”.


Ở phương Tây “truyền kỳ” đầu tiên chỉ văn học kỵ sĩ lưu hành thời Trung cổ châu Âu. Đến thế kỷ XVIII, tiểu thuyết truyền kỳ (romans d’aventures) kể những chuyện khác thường. Tiểu thuyết truyền kỳ trọng ở phép kết cấu tình tiết cho lạ mà coi nhẹ về lời văn, như những sách của Alexandre Dumas cha quyến rũ được người đọc vì cốt truyện hấp dẫn ly kỳ. Đến thế kỷ XIX lại xuất hiện loại tiểu thuyết kinh dị như của Hoffmann, Edgar Allan Poe, đó là sự thể hiện cái nghịch dị (Grotesque) của chủ nghĩa lãng mạn. Không phải ngẫu nhiên tuyển tập truyện hàng đầu của Poe có nhan đề Tale of the Grotesque and Arabecque (1840)


M. Bakhtin viết: “Hình tượng nghịch dị lãng mạn chủ nghĩa là một hiện tượng rất có tầm cỡ và có ảnh hưởng rất lớn trong văn học thế giới. Ở chừng mực nhất định nó là một sự phản ứng đối với những yếu tố trong chủ nghĩa cổ điển và văn học khai sáng đã tạo nên tính hạn hẹp và trang nghiêm phiến diện ở những trào lưu này: Chủ nghĩa duy lý mang tính lý trí hẹp hòi, tính quyền uy của tinh thần Nhà nước và của lôgic hình thức, thiên hướng hoàn bị, hoàn kết và đơn nghĩa hóa mọi sự, tính giáo huấn và thực dụng của các nhà khai sáng, các kiểu chủ nghĩa lạc quan ngây ngô hoặc quan phương v.v... Phản bác tất cả những thứ đó, nghệ thuật nghịch dị lãng mạn chủ nghĩa dựa trước hết vào truyền thống của thời đại Phục hưng, đặc biệt là truyền thống Shakespeare và Cervantès – những tác giả hồi đó vừa được phát hiện lại và dưới ánh sáng của nó người ta kiến giải cả nghệ thuật nghịch dị Trung cổ”.


... Khác với nghệ thuật nghịch dị Trung cổ và Phục hưng trực tiếp gắn bó với nền văn hóa dân gian và mang tính chất quảng trường và tính hội hè toàn dân, hình tượng nghịch dị lãng mạn chủ nghĩa đã thấm đượm tính thính phòng: nó tựa hồ hội cải trang cho một người xem với ý thức rất rõ rệt về sự đơn độc ở khán giả. Cái cảm quan thế giới hội hè tựa hồ như được phiên dịch sang ngôn ngữ tư tưởng triết học duy tâm chủ quan và đã không còn là sự thụ cảm cụ thể (thậm chí có thể nói thụ cảm bằng thân xác) tính thống nhất và vô cùng vô tận của sinh tồn như trong nghệ thuật nghịch dị Trung cổ và Phục hưng.


... Việc nhân tố tiếng cười tổ chức hình tượng nghịch dị đã biến chất, đã đánh mất sức mạnh tái sinh của mình dẫn đến một loạt những điểm khác biệt cơ bản khác giữa cái nghịch dị lãng mạn chủ nghĩa với cái nghịch dị thời Trung cổ và Phục hưng. Những sự khác biệt ấy biểu hiện nổi bật nhất trong thái độ đối với cái đáng sợ. Thế giới nghịch dị lãng mạn chủ nghĩa ở mức độ này hay mức độ khác là thế giới đáng sợ và ghẻ lạnh đối với con người. Tất cả những gì là quen thuộc thường tình, thường ngày, đã được mọi người thừa nhận, đã ăn sâu vào cuộc sống bỗng hóa ra vô nghĩa, khả nghi, xa lạ và thù địch với con người. Thế giới của ta bỗng biến thành thế giới của kẻ khác. Trong cái thông thường và không đáng sợ bỗng lộ cái đáng sợ.


... Những hình tượng nghịch dị lãng mạn chủ nghĩa nhiều khi biểu hiện nỗi sợ trước thế giới và muốn truyền cái sợ ấy cho người đọc (gây sợ). Còn hình tượng nghịch dị trong văn hóa dân gian thì tuyệt đối không biết sợ và ban phát tính không biết sợ ấy cho tất cả mọi người. Tính không biết sợ ấy cũng đặc thù cho cả những tác phẩm vĩ đại nhất của văn học Phục hưng.


Sự khác biệt giữa cái nghịch dị lãng mạn chủ nghĩa và cái nghịch dị dân gian cũng thể hiện rất sắc nét trong việc miêu tả hình tượng con quỷ. Trong các màn quỷ kịch ở các vở kịch bí tích Trung cổ, trong các truyện “du ký” trào tiếu sang thế giới bên kia, trong các truyền thuyết nhại, trong các truyện fablio v.v... con quỷ là nhân vật vui nhộn, hai chiều, nó đại diện cho những quan điểm phi chính thống, cho sự thánh thiện “đảo ngược”, cho cái “phần dưới” vật chất – thân xác v.v... ở nó không có gì là đáng sợ và xa lạ. Trong cuốn truyện của Rabelais, đoạn Epistémon kể về những điều tai nghe mắt thấy ở thế giới bên kia, “ma quỷ là lũ rất đáng yêu và những bạn đồng ẩm tuyệt vời”. Nhiều khi ma quỷ và cả địa ngục chỉ là những con “ngáo ộp nực cười”. Trong nghệ thuật nghịch dị lãng mạn chủ nghĩa, hình tượng ma quỷ mang tính chất một cái gì đó đáng sợ, u sầu bi thảm. “Tiếng cười địa ngục” trở thành một tiếng cười đen tối độc địa.


... Cuối cùng, xin nhấn mạnh thêm một đặc điểm nữa của hình tượng nghịch dị lãng mạn chủ nghĩa: đó chủ yếu là hình tượng nghịch dị ban đêm (Những chuyến đi tuần đêm của Bonaventure, Những câu chuyện ban đêm của Hoffmann) nói chung tiêu biểu cho nó là bóng tối, chứ không phải là ánh sáng. Đối với hình tượng nghịch dị dân gian thì ngược lại, ánh sáng là tiêu biểu đó là cái nghịch dị của mùa Xuân, của buổi sáng, của giờ rạng đông”.


Tveztan Todorov đã nói về tiểu thuyết kinh dị: “Trong thế giới hiện thực của chúng ta, cái thế giới mà chúng ta biết, không có ma quỷ không có yêu tinh, cũng chẳng có ma cà rồng, đã xảy ra những hiện tượng không thể dùng quy luật của thế giới quen thuộc này để giải thích. Những ai cảm nhận thấy hiện tượng đó chỉ có thể lựa chọn giữa hai cách lý giải: hoặc đó là ảo ảnh của cảm giác, một sản phẩm của óc tưởng tượng và các quy luật của thế giới vẫn giữ nguyên như cũ, hoặc là hiện tượng đó đã thực sự xảy ra. Nó là một bộ phận cấu thành của thực tế, mà cái thực tế đó lại bị chi phối bởi những quy luật mà chúng ta không biết đến... Cái kinh dị nằm giữa khoảnh khắc đắn đo đó. Nó là sự phân vân mà ta cảm thấy khi chưa hiểu hết những quy luật tự nhiên đối diện với một hiện tượng tưởng chừng là siêu nhiên”.


Mở đầu truyện Con mèo đen, Edgar Allan Poe viết: “Vì câu chuyện thân mật vào loại kỳ cục nhất mà tôi sắp hạ bút viết đây, tôi không chờ đợi cũng không yêu cầu ai tin cả. Mà có mất trí mới đi chờ đợi như thế, vì chính bản thân những cảm quan của tôi cũng không thừa nhận nó là có thật. Vâng, tôi không điên – và rất chắc chắn là tôi không mơ. Nhưng ngày mai tôi chết – và hôm nay hẳn tôi phải trút đi gánh nặng trong tâm hồn tôi. Mục đích gần nhất của tôi là trình bày với mọi người những sự kiện trong gia đình một cách đầy đủ, gọn gàng mà không bình luận gì cả. Do hậu quả của nó những sự kiện này đã làm tôi hoảng sợ, đã giày vò tôi, đã hủy hoại tôi. Nhưng tôi không có ý định trình bày quá tỉ mỉ. Đối với tôi, nó cũng không có gì khác hơn là cảm giác rùng rợn, nhưng với số đông thì họ thấy ít sợ hơn là thấy kỳ quặc. Sau này có thể có vài nhà trí thức nào đó sẽ làm cho những điều huyền ảo của tôi chỉ là chuyện thường, có một số trí tuệ nào đó bình tĩnh hơn, lô gích hơn và khó bị kích động hơn đầu óc của tôi sẽ nhìn thấy rõ, trong những trường hợp tôi đã hết sức kinh ngạc kể lại rất tỉ mỉ, không có gì khác hơn là một chuyện rất thông thường và rất tự nhiên của nhân và quả”.


Trong mỗi thể loại, Poe cố khám phá đời sống nội tâm. Sự thấu hiểu tâm lý sâu sắc ánh lên mỗi trang sách. “Có ai không thấy mình hàng trăm lần phạm lỗi hay hành động một cách xuẩn ngốc, không vì một lý do nào khác hơn là anh ta biết điều đó không nên làm”, đó là một đoạn trong Con mèo đen. Để khám phá lĩnh vực lạ lùng và hấp dẫn của những quá trình tâm lý, Poe lục lọi trong đống tư liệu về người điên và những cảm xúc tột cùng. Phong cách viết tỉ mỉ một cách gian khổ và sự giải thích cặn kẽ trong các câu chuyện làm tăng thêm cảm giác kinh hãi bằng cách tạo nên những biến cố có vẻ như thật và hợp lý.


Trong Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan chỉ đề cập đến hai cuốn Thần Hổ và Ai hát giữa rừng khuya, như vậy vẫn chưa đủ dữ kiện để nhận định và so sánh xem TchyA gần với Bồ Tùng Linh, hay Hoffmann và Poe. Đưa ra đây, tôi xin giới thiệu thêm ba truyện ngắn của TchyA đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy.


Thần trùng (TTTB số 27, năm 1934) kể chuyện năm mươi năm trước tên Hà Quân Lộc vào ăn trộm nhà họ Quan bị cha ông tuần Quan xuống tay cho một nhát dao, nhằm phải giờ tam xa mà chết. Lộc chết đã được vào làng trùng được cất lên làm thượng đẳng thần. Năm mươi năm này Lộc thề nguyện sẽ báo thù báo oán, nhưng vận nhà họ Quan còn thịnh nên y chưa làm được như lời. Đã mười lăm phen, y đầu thai báo hại họ Quan. Mãi cho đến khi y thấy vận họ ấy đã hơi suy, y mới tiện dịp bắt người thiếp của ông tuần Quan là cô Châu và con trai cả ông là cậu Tú Ngọc để báo thù dòng họ Quan. Ông chỉ còn lại đứa con trai út.


Ông tuần Quan mời pháp sư làm lễ, sai đồng làm việc ở Âm ty. Hồn con đồng trút xác lên đường tìm mộ cô Châu và cậu Ngọc để hỏi chuyện. Tới nơi con đồng thấy cậu Ngọc, cô Châu đều bị lột trần truồng như nhộng và trói ghì cánh khuỷu vào một cái cột lớn ở giữa nhà. Trên giường, một người mặt mũi hung tợn và có một cái mỏ đỏ như mỏ chim. Người ấy thỉnh thoảng lấy mỏ mổ vào bụng cậu Ngọc và cô Châu hét lớn: “Khai đi, còn gì nữa thì khai đi! Ngày nay, là ngày ta báo thù cái dòng họ các ngươi đấy!”.


Dù bị mổ rất đau đớn, cậu Ngọc vẫn cắn răng nhất định không khai, còn động viên cô Châu cũng đừng khai. Cậu lại nhắc hồn con đồng về nói với cha kíp diệt lũ ác trùng này nếu không cả họ Quan hỏng mất.


Đêm 23 tháng 9, pháp sư và ông thầy Cả (tức là người ngồi đồng) mỗi người giắt sẵn trong mình một đạo bùa “độc cước” tức là một đạo bùa gia truyền để phòng thân trong lúc hiểm nghèo, ra nằm chực ở mộ cô Châu và cậu Ngọc.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »