tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19728824
Tiểu thuyết
01.08.2009
Hoài Anh
Mê Linh tụ nghĩa

Vũ Chất giọng thống thiết:


- Con à, mỗi khi ta nhớ đến chuyện tổ tiên đã bị bọn giặc Hán khép án tru di, chỉ có một người thoát nạn về Phượng Lâu lập nghiệp thay họ đổi tên, mai danh ẩn tích để che mắt kẻ thù rồi sinh con đẻ cháu truyền lại đến nay thì ta đau lòng khôn xiết. Nén chịu đã bao nhiêu năm trời, nay mới có dịp trả thù cho tổ tiên, cho dòng họ, cho đất nước, hỏi ta sao có thể ngoảnh mặt khoanh tay khi có người đứng lên cử sự diệt bọn đô hộ giành lại quyền tự chủ cho xứ sở. Xưa tổ tiên ta là Thừa tướng Lữ Gia đã dũng cảm đứng lên chống bọn xâm lược Hán, ta là con cháu phải làm sao xứng đáng với ông cha, không thể cam tâm quỳ gối làm tôi tớ cho cho ngoại bang mãi được…


Thục Nương nói:


- Thưa phụ thân, Lữ Thừa tướng, tổ tiên chúng ta, khi lực lượng chưa đủ, thời cơ chưa tới đã vội vàng hấp tấp đứng lên chống lại bọn xâm lược Hán nên chuốc lấy thảm họa bại vong, dẫn tới việc đất nước ta sa vào vòng nội thuộc gần 150 năm nay. Trông cái gương cũ của ông cha, con xin phụ thân hãy xét kỹ tình thế hiện nay xem có thuận lợi cho việc khởi nghĩa hay không, lúc ấy hãy quyết định đến liên kết với Nguyễn đại gia mưu đồ đại sự…


Vũ Chất ngần ngại:


- Nhưng ta đã trót nhận lời với Nguyễn huynh là sẽ đến hội. Kẻ trượng phu nói một lời như dao chém đá, sao có thể bội ước được. Con cứ để cha tới rồi ta sẽ liệu sau…


- Con có một ý này muốn ngỏ với phụ thân, không biết người có chấp thuận cho không?


- Điều gì, con cứ nói?


Thục Nương kiên quyết:


- Con thấy phụ thân là người có uy tín lớn trong dân chúng nên bảo trọng mình vàng để còn tính kế lâu dài. Con xin phép cải nam trang thay mặt phụ thân đến hội cùng Nguyễn đại gia. Nếu thấy Nguyễn bá phụ đã sửa soạn đầy đủ mọi mặt, con sẽ về thưa với phụ thân để người đích thân đến tụ nghĩa. Còn nếu thấy có nhiều điều chưa thuận lợi, con xin phụ thân đừng nên liên kết để khỏi bị vạ lây. Nếu xảy ra chuyện gì thì một thân con hy sinh cũng đủ…


Vũ Chất xúc động ôm lấy con:


- Ta không ngờ con là nữ nhi mà lại có đảm lược như vậy. Được, con cứ để ta tính liệu xem đã, nếu tình thế không thuận tiện thì hãy tạm ngừng việc đến phó hội, ta sẽ có cách xin lỗi Nguyễn huynh sau…


Quảng Khánh thường thích ra bờ sông chơi, khi thì đuổi theo con còng gió lúc nước thủy triều xuống chạy nhanh trên mặt cát, hay tìm những hang cua thò tay vào bắt rồi buộc dây vào mình chúng, thả chúng bò giả làm ngựa. Có khi cô bị càng cua kẹp chặt vào ngón tay không chịu nhả ra, cứ phải đeo theo cả con cua chạy về nhà, nhờ mẹ tìm cách gỡ ra. Tuy bị cua kẹp bầm dập nhiều lần, đau đến nỗi khóc thét lên, nhưng cô vẫn không bỏ được cái trò chơi đó. Diệu Tiên đã mắng mỏ ngăn cấm con không được ra bờ sông chơi, nhưng cô bé vẫn không chiụ nghe.


Một hôm, mẹ vừa đi chợ vắng, Quảng Khánh lại lần ra bờ sông. Lần này cô mang theo một cái thúng sơn thả xuống nước, rồi ngồi trên thúng, bẻ một cành cây làm sào đẩy cho trôi sang bờ bên kia. Đã bao lần cô nhìn bờ bên kia với cặp mắt mơ ước, bên ấy cỏ tốt như thế chắc có nhiều cỏ gà để cùng bạn bè chơi trò chọi gà, hay có nhiều cỏ mật để có thể hút được chất mật ngọt từ cọng cỏ. Bên ấy chắc phải có nhiều còng gió, nhiều hang cua hơn bên này, sang được bên ấy hẳn là vô cùng thỏa thích. Đã bao lâu cô tò mò ghé dòm vào hang, thấy những mắt cua lấp lánh nghi ngại ở bên trong, chỉ cần khéo léo túm chặt lấy hai càng banh ra là lôi ra khỏi. Lần này nếu bắt được cua, cô sẽ buộc chân nó lại bỏ vào thúng chở về cho mẹ nấu canh, chứ không chơi chán rồi bẻ càng vặt chân vứt đi như những lần trước. Mẹ cô sẽ khen cô biết cách bắt cua mang về đỡ mẹ, chứ không đánh mắng như trước nữa…


Thích thú với ý nghĩ đó, cô chèo chống cho chiếc thúng trôi từ từ sang bờ bên kia. Nhiều lần sóng đánh xô chiếc thúng trôi theo dòng nước, nhưng cô lại dùng sào đẩy ngược lại cho cặp bờ bên kia.


Ở bờ bên kia đang có một chiếc thuyền lớn cặp bến. Nhìn đứa bé loay hoay chèo chống với dòng nước chảy, người đàn bà già ngồi trong khoang mỉm cười thích thú, quay lại nói với người trẻ tuổi hơn:


- Đứa bé kia quả là thông minh, biết dùng thúng để làm thuyền, dùng cành cây để làm sào, lại biết cách chèo chống xoay sở với dòng nước xiết. Nếu ta bắt nó về truyền dạy võ công cho nó, thì thế nào nó cũng chóng thành tài…


Người trẻ tuổi nói:


- Bẩm sư nương, nó mới là một đứa trẻ nhỏ đã tập luyện gì được ạ?


- Ngươi không biết, ta vừa liếc mắt nhìn qua thấy cả nhãn pháp, thân pháp, bộ pháp của nó chứng tỏ nó có căn cơ về võ học, nếu được đào luyện đúng đường, sẽ trở nên một đóa kỳ hoa trong giới võ lâm sau này. Còn bảy năm nữa là lại đến kỳ luận kiếm giữa thủ lĩnh các võ phái, mà đến năm đó thì ta lại già quá rồi không biết có đủ nội lực để thi đấu giành về thắng lợi cho Đông phái nữa không? Vì vậy ta có ý định bắt cóc con nhỏ này mang về đảo dạy cho nó tập luyện theo đường lối của môn phái ta. Nếu bảy năm sau, nó luyện võ công đến mức thượng thặng, ta sẽ coi nó là truyền nhân của ta, và cử nó thay mặt ta đi dự cuộc luận kiếm kỳ sau, cốt sao nó đoạt được phần thắng cho Đông phái…


Nói xong, người đàn bà dùng thuật đề khí lướt đi trên mặt nước rồi nhanh tay cắp lấy Quảng Khánh mang về khoang thuyền mình như con quạ quắp một con gà con. Quảng Khánh kêu thét ầm ĩ nhưng bà ta cứ mặc kệ, khi bà đã nhún chân nhảy lên mũi thuyền mình rồi thì lập tức ra lệnh cho thủ hạ giương buồm cho thuyền trôi nhanh như tên bắn, trong khoảnh khắc đã biến mất dạng.


Khi Diệu Tiên về đến nhà, không thấy con đâu, vội chạy ra bờ sông tìm thì không thấy gì cả. Bà chạy theo hướng dòng nước chảy được một quãng thì bỗng thấy chiếc thúng sơn nhà mình đang bập bềnh trôi nổi trên mặt sông. Tìm mãi không thấy con đâu, bà cho rằng nó đã chết đuối, bị dòng nước cuốn đi mất rồi, nên khóc lóc thảm thiết một hồi rồi trở về nhà. Những ngày hôm sau bà lại đi dọc sông để xem có thấy xác con nổi lên không, nhưng mấy ngày trôi qua mà vẫn chẳng thấy tăm hơi gì cả. Bà thất thểu ra về thầm van vái có người nào đó cứu vớt được con mình, như vậy thì mẹ con bà còn có hy vọng gặp lại nhau.


Sáu năm trôi qua đằng đẵng, không thấy con trở về mà vẫn bặt vô âm tín. Lúc này thì bà hoàn toàn tuyệt vọng, cho rằng con đã bị loài cá sấu ăn thịt rồi.


Thuyền của người đàn bà già đi tới cửa biển đã thấy có một chiếc thuyền hơn đậu sẵn ở đó. Đó là một chiếc thuyền độc mộc làm bằng một cây gỗ khổng lồ khoét thủng, hai bên là hai hàng mái chèo, có những người cởi trần, đóng khố, cầm những mái chèo sơn son một đầu buộc vào chiếc cọc, ở mũi thuyền có một người cầm rìu làm nhiệm vụ cầm nhịp cho các tay chèo. Đuôi thuyền có những cọc phụ cho người điều khiển lái đuôi, được trang trí rất đẹp. Giữa thuyền có một sạp lầu, cao gần năm thước ta, đặt hơi chếch về phía đuôi thuyền chung quanh là những xa thủ cầm cung nỏ, lao mác, phía trước có một trống da để làm hiệu lệnh tiến lên hay dừng lại. Người đàn bà lớn tuổi, tên đồ đệ và Quảng Khánh vừa xuống thuyền, vào ngồi trong sạp lầu, người đàn bà liền đánh một hồi trống ra lệnh cho thuyền chèo đi.


Thuyền rẽ sóng mà tiến thẳng ra giữa biển, mỗi lúc sóng một lớn dâng lên cuồn cuộn, nhưng vì ở đáy thuyền đã đặt sẫn những tấm ván rẽ nước có tác dụng chống sóng và giữ thăng bằng cho thuyền, nên thuyền cứ lướt đi phăng phăng trên mặt biển. Hai bên mạn thuyền, những con cá sấu lớn nổi lên nhe hàm răng lởm chởm nhọn hoắt, muốn táp những người trên thuyền, đuôi chúng quẫy mạnh làm cho sóng trào lên, lay động dữ dội muốn lật úp thuyền tưởng thuyền sắp đắm, Quảng Khánh sợ hãi rú lên nhưng người đàn bà đã gõ mấy tiếng trống, tức thì những xạ thủ ngồi chung quanh sạp lầu cầm những mũi lao nhọn phóng vào họng những con cá sấu. Nhiều con bị trúng lao, máu loang đỏ cả mặt nước, chúng sợ hãi vội lặn sâu dưới đáy biển, trốn thoát.


Thuyền đi được một lúc lại thấy một con cá ông voi to bằng cái nhà lừ lừ bơi đến. Miệng nó há ra sâu hoắm như muốn nuốt chửng cả chiếc thuyền. Nó quẫy mạnh khiến sóng lớn dềnh lên như những trái đồi nhỏ muốn dìm thuyền xuống dưới làn nước. Quảng Khánh thét lên một tiếng kinh hoàng, tưởng mình sắp chui vào bụng cá đến nơi. Nhưng người đàn bà vẫn bình tĩnh, nhảy xuống nước dùng thuật đề khí lướt đi trên mặt biển để nhử con cá thấy mồi sống đuổi theo. Khi con cá đã đuổi sát sau lưng, bà bất thần quay lại phóng chưởng đánh xuống. Con cá trúng một chưởng vào đỉnh đầu, nó đau quá càng quẫy lộn mạnh hơn. Bà lại phóng tiếp một chưởng nữa, lần này nó bị thương nặng không dám đương cự mà vội lặn nhanh xuống đáy biển. Khối thân hình nặng nề của nó chìm xuống cũng khiến cho cả khối nước thình lình nhô lên đội cả chiếc thuyền lên cao. Quảng Khánh lại bị một phen hoảng vía, nhưng người đàn bà đã kịp thời phi thân nhảy vọt vào giữa thuyền, đứng trụ tấn dùng nội lực của mình giữ cho chiếc thuyền đứng vững không tròng trành. Tiếp đó, chiếc thuyền lại lao vùng vụt ra ngoài biển khơi tít tắp.


Khi thuyền ghé vào một hòn đảo trơ trọi ở giữa biển, mọi người bước lên bờ, Quảng Khánh đi một quãng xa vẫn không gặp một bóng người, cô bé ngạc nhiên đoán chừng đây là một hoang đảo không có người ở. Những con rắn lớn bò ngang dọc khắp cả lối đi, khi thấy người đàn bà, chúng đều sợ hãi dạt sang một bên nhường lối, có con ngóc cái đầu có mào như mào gà lên ra ý chào mừng, có con quấn mình mấy vòng trên thân cây phơi ra cái bụng có khoang lốm đốm, nhe hàm răng trắng nhọn hoắt và cái lưỡi đỏ hỏn ra như có ý trêu ghẹo Quảng Khánh. Cô bé sợ quá, nhắm nghiền mắt lại không dám nhìn đàn rắn lúc nhúc khắp nơi, thấy vậy người đàn bà liền quát lên một tiếng, đàn rắn biết hiệu lệnh liền uốn mình tản đi nơi khác, trong khoảnh khắc đã không còn một con nào. Quảng Khánh đánh bạo hỏi người đàn bà:


- Thưa bà, rắn này là của bà nuôi đấy ạ?


Người đàn bà nói:


- Phải rồi, ta nuôi rắn để lấy nọc rắn chế tạo một thứ thuốc kịch độc tẩm vào đầu mũi trâm, kẻ nào bị trâm ném trúng, chất độc sẽ phát tác khiến cho thịt xạm đen lại, khi chất độc ngấm vào phủ tạng ắt bỏ mạng không thuốc gì có thể cứu nổi. Cũng vì thế nên đảo này còn có tên là Độc xà đảo.


Quảng Khánh lại hỏi:


- Thưa bà, bà đưa cháu đến đây để làm gì ạ? Xin bà mở lòng thương đưa cháu về nhà với mẹ cháu, đừng bắt cháu làm gì tội nghiệp…


Người đàn bà phủ dụ:


- Ta thấy con là người có căn cốt luyện được võ công, nên đưa con về đây để dạy con luyện tập võ nghệ. Nếu con học tập thành tài sẽ trở thành truyền nhân của ta, khi ta qua đời sẽ kế vị ta làm thủ lãnh Đông phái, sau này danh chấn võ lâm, quần hùng khiếp phục, chẳng hay con có bằng lòng không?


Quảng Khánh vốn bản tính hiếu động, lại có máu háo thắng, thấy người đàn bà khuyên dỗ như vậy bèn nhận lời. Người đàn bà bèn đưa Quảng Khánh vào trong một ngôi nhà xây bằng những phiến đá lớn, rồi thu xếp cho cô bé ở trong một căn phòng có đệm bện bằng cỏ khô và một bộ bàn ghế kết bằng mây tre.


Từ đó Quảng Khánh ở lại đảo, mỗi bữa đều có nữ tỳ mang đồ ăn gồm có thịt thú vật sống trên đảo và cá, tôm, cua dưới biển. Nhưng không thấy người đàn bà truyền dạy võ công gì cho cô. Chỉ thấy nữ tỳ mang vào một khung thêu căng lụa và một ít kim chỉ, rồi bắt đầu dạy Quảng Khánh học thêu. Cô bé tính vốn thích chạy nhảy nghịch ngợm, giờ phải ngồi bó một chỗ, thêu những mũi kim tỉ mẩn nên hết sức khổ tâm, cô chỉ muốn thoát khỏi chốn giam cầm này để trở về với mẹ, được mẹ nuông chiều tha hồ chơi đùa. Nhưng cô biết mình không thể vượt biển mà trở về đất liền được, dù có thuyền chăng nữa cũng sẽ bị người đàn bà đuổi theo trừng trị, hay còn bị đàn cá mập, cá sấu, cá voi ăn thịt. Thế là cô bé đánh phải ngồi im một chỗ thêu thùa, có khi sốt ruột quá cô đâm bậy một đường kim, bị mũi kim đâm vào đầu ngón tay chảy máu nhức buốt. Muốn tránh khỏi bị kim đâm vào da thịt, cô đành phải thêu nắn nót từng chút một. Hết buổi, cô đưa mảnh lụa thêu cho nữ tỳ để trình lên chả nhân. Hôm sau, nữ tỳ đến bảo chủ nhân chê tấm lụa thêu của cô còn sù sì thô kệch và có quá nhiều lỗi, bắt cô phải thêu tấm khác. Cô lại cặm cụi thêu suốt một ngày, để rồi đến sáng hôm sau lại bị trả về.


Cứ thế suốt một tháng ròng, Quảng Khánh cứ phải thêu hết tấm lụa này đến tấm lụa khác. Muốn chấm dứt công việc khổ sai này, cô buộc phải kiên nhẫn thêu cẩn thận hơn. Cho tới một ngày kia, tấm lụa thêu của cô được chủ nhân khen ngợi. Cũng do chịu khó ngồi thêu, cô đã học được tính cần cù không còn nôn nóng bồn chồn như trước nữa.


Chiều hôm đó, nữ tỳ đến báo cho cô biết chủ nhân muốn gặp cô. Nữ tỳ dẫn cô đến một căn phòng rộng, nền nhà trải thảm bằng các tấm da cá voi cá mập đã lột. Người đàn bà ngồi trên một cái ghế khảm đầy ngọc trai. Quảng Khánh chắp tay vái chào. Bà ôn tồn nói:


- Ta thấy trong thời gian ngồi thêu, con đã học được tính kiên nhẫn, thận trọng, do đó ta đã quyết định truyền dạy võ công cho con. Như con đã biết ta nuôi các loài rắn độc lấy nọc tẩm vào đầu các mũi trâm, vì vậy muốn phóng độc trâm con phải tinh tế tỉ mỉ như khi đưa những mũi kim thêu trên mặt lụa với những đường kim bé nhỏ mà hoa mỹ.


Quảng Khánh vội sụp lạy kêu bà là sư phụ. Người đàn bà lấy một thân cây chuối làm đích, cho Quảng Khánh tập phóng độc trâm vào. Khi cánh tay cô phóng đã thành thạo, bà lại nặn một thân người bằng đất sét, vẽ sẵn những huyệt như trên thân thể con người đánh dấu để Quảng Khánh tập póng vào đúng từng huyệt một. Quảng Khánh thấy phóng trâm cũng thích thú như khi cô đánh khăng, đánh chuyền với bạn bè trước đây, nên tập luyện rất nhanh. Chẳng bao lâu, cô đã có thể phóng trúng từng huyệt một trên hình nộm.


Tiếp theo, Đào Hoa đảo chủ - tên người đàn bà - lại dạy cho Quảng Khánh võ công của Đông phái. Phái này chủ trương lấy thủy tính khắc chế hỏa tính, nên võ công dùng nhu thắng cương, từ quyền thuật đến kiếm thuật đều hết sức mềm dẻo, linh hoạt. Những thế quyền, kiếm đều mô phỏng từ cách bơi lượn, quẫy đuôi, đớp mồi, lặn xuống nước hay bất thần nhô từ đáy nước lên của những con cá mập, cá nhà táng, cá ông voi, nên vừa nhanh nhẹn vừa dữ tợn. Người thành thạo võ công này có thể vẫy vùng như cá dưới nước, quyền, kiếm tấn công vào đều chỉ sượt qua thân thể, có thể hụp tránh dễ dàng, trái lại khi tấn công thì vừa bất ngờ vừa dũng mãnh, đối phương không làm sao kịp đề phòng, chẳng khác gì đang đi thuyền trên mặt nước mà bị cá luồn dưới đáy húc lật thuyền, hay phóng lên táp mồi, trong nháy mắt lại lặn xuống nước mất tăm.


(còn tiếp)


Nguồn: Mê Linh tụ nghĩa. Quyển 1 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »