tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19664803
Tiểu thuyết
31.07.2009
Hoài Anh
Mê Linh tụ nghĩa

Giữa khoảng đất có một tấm thạch bàn và mấy chiếc ghế bằng đá.Chung quanh có những đống đá cao lổn nhổn, nhưng có những vụn đá rơi lả tả chứng tỏ đã có người dùng nội công lấy tay bóp đá nát vụn như cám. Giáng Vân nói:


- Ta chắc đây là nơi luyện công của ông nội, nhưng nếu người đã qua đời thì sao không thấy di hài ở đây. Cô cháu ta tìm thêm một lúc nữa xem sao?


Trong khi Giáng Vân đi tìm xem có một ngách hang động nào nữa không thì Thiều Hoa chú ý quan sát xem trên vách đá có những dấu vết gì khác lạ. Chỉ thấy vách đá phẳng lì nhẵn thín không có một lỗ hổng nào. Đến một chỗ Thiều Hoa nhận thấy có vết cát trộn mật và vôi trát lên mặt đá, nàng lấy mũi gươm nậy thì thấy lớp vữa bật ra, nàng dùng gọt hết lớp vữa thì thấy bên trong có một hốc đá nhỏ. Thò tay vào trong hốc, nàng thấy có vật gì trơn nhẵn liền moi ra ngoài xem xét. Chỉ thấy đó là một chiếc hộp đá xinh xắn, nàng tò mò dùng mũi kiếm nậy nắp hộp ra. Vừa lúc đó Giáng Vân chạy ra trông thấy thế liền nói:


- Biết hộp đó đựng cái gì mà cháu táy máy mở ra, nếu trong đó để di cốt của ông nội mà khinh thường mở ra thì sẽ đắc tội đấy.


Nhưng Thiều Hoa đã mở toang hộp ra chỉ thấy bên trên có một lớp bùn đất nàng bốc bùn đất bỏ ra ngoài moi mãi phía trong thì thấy có một gói bọc vải ngoài trát ngựa thông kín mít. Nàng gỡ lớp vỏ ngoài thì thấy bên trong có một cuốn sách, nàng reo lên:


- Bên trong không có hài cốt mà có một cuốn sách, cô ạ.


Giáng Vân cầm sách lên xem thấy ngoài bìa để bốn chữ “Cửu Long huyền kinh”, bà nói:


- Té ra đây là cuốn kinh do ông nội cất giấu để che mắt kẻ gian khiến chúng tưởng lầm là hộp đựng di cốt nên không động đến do đó cuốn kinh mới còn lại đến nay. Nhưng nếu như vậy thì hài cốt ông hiện ở đâu? Nếu ông đã qua đời thì do luyện theo kinh này không đúng phương pháp nên bị tẩu hỏa nhập ma mà bỏ mình, hay có kẻ gian giết ông hòng đoạt lấy cuốn kinh? Bà lại đi tìm khắp chung quanh, thấy trong một khe đá co một bộ xương khô đã mục nát. Bà ngẫm nghĩ một hồi rồi nói với Thiều Hoa.


- Đây hẳn là di cốt của ông nội. Ta đoán ông bị kẻ gian đánh lén trong lúc đang luyện công nhưng vẫn đủ sức đánh lui kẻ thù, chứng tỏ là cuốn kinh không bị mất. Nhưng sau đó vết thương nặng quá nên ông đã qua đời. Như vậy trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông còn kịp thời đặt cuốn kinh vào trong hộp đá, dùng bùn đất ngụy trang, khiến sau đó kẻ gian trở lại tưởng trong hộp chứa di cốt của ông, nó không dám xúc phạm đến di hài của người quá cố vì sợ đắc tội nên đem giấu vào hốc đá dùng vôi vữa lấp kín để xóa sạch dấu vết. Cũng vì cháu không biết điều điều cấm kỵ đó nên mới tò mò mở chiếc hộp ra vì thế vô tình tìm thấy cuốn kinh. Như vậy là trời đã ban cho cháu cuốn kinh của ông nội để lại, vì phải gặp được kỳ duyên mới phát hiện ra cuốn kỳ thư mà kẻ gian đã bỏ sót.


- Đúng là lòng trời không tựa kẻ gian nên mới run rủi cho nó không lấy được cuốn kinh này, nếu không nó độc chiếm cuốn kinh, luyện bí kíp thành công thì tai hại cho võ lâm sẽ gặp phải một trường sát kiếp.


- Cũng do cháu là dòng máu đích tôn của ông nội thì trời mới dàn cho chứ. Cháu cứ noi theo kinh này luyện thì thế nào cũng thành công đủ sức trả thù cho ông nội và cho chú…


- Cháu còn non nớt lại không biết chữ làm sao luyện được võ công theo cuốn kinh này. Hay là cô thử luyện xem.


- Cô cũng muốn luyện võ công nhưng vì nội lực còn kém nên không thể luyện đến bậc thượng thừa, cô sẽ đọc các câu khẩu quyết rồi dịch ra cho cháu hiểu nghĩa, cháu cứ theo đó mà luyện thế nào cũng có công hiệu.


Hai người sợ nán lại chỗ này biết đâu kẻ thù năm trước chẳng trở lại tìm kinh nên quay về động Lăng Xương, đóng chặt cửa động lại để ngày đêm luyện tập.


Thiều Hoa tuy không biết chữ nhưng bẩm sinh thông tuệ, nên nghe cô giảng đến đâu hiểu ngay đến đấy, cứ theo các câu khẩu quyết mà luyện nên tiến bộ trông thấy, chẳng bao lâu võ công đã đến độ cao thâm.


VII


Phần quá đau buồn về cái chết của cha, phần chưa quen với gian khổ gian khổ đường trường, nên được ít hôm, Phương Dung bị cảm mạo phong hàn, phải ghé vào một nhà trọ.


Thấy nàng đang sốt, chủ quán dọn ngay một căn phòng nhỏ để nàng nằm nghỉ. Chủ quán hỏi nàng có ăn uống gì không, nàng bảo chỉ cần một bát cháo nóng, nhưng khi vừa đưa vào miệng nàng đã nôn thốc tháo ra hết.


Không ngờ nơi nàng ghé vào là một hắc điếm, vợ chồng chủ quán thường trộn thuốc mê vào rượu và đồ ăn, đợi đến đêm khi khách bị mê man, chúng sẽ sát hại để cướp lấy hành lý của cải.


Thấy nàng ăn bát cháo, chủ quản đinh ninh là nàng đã ngẩm thuốc mê rồi, nên nửa đêm chúng mò vào phòng toan giết nàng để cướp lấy khăn gói. Cũng do nàng nôn ra hết nên không bị ngấm thuốc mê, khi thấy động nàng chợt tỉnh nhưng cứ nằm yên xem bọn chúng định giở trò gì. Nàng nghe thấy tiếng đàn ông nói:


- Con này đã bị bệnh lại ngấm thuốc mê, ta cứ giết nó đi là xong!


Lại có tiếng đàn bà:


- Tôi thấy con này mang theo thanh gươm chắc cũng là nhân vật trong giới võ lâm giang hồ, nếu ta giết nó sau này đồng môn của nó biết tin, lại kiếm chuyện tầm cừu thì lôi thôi lắm. Chi bằng nhân lúc nó đang mê man, ta cứ khiêng nó vứt ra ngoài đường cái, sau này có xảy ra chuyện gì cũng không ai truy cứu đến ta được.


Tên đàn ông khen phải rồi cùng mụ đàn bà móc lấy mấy nén bạc trong khăn gói rồi đeo lại cho nàng, khiêng cả nàng và thanh gươm đeo bên sườn ra ngoài đường, đi một quãng khá xa rồi ném nàng xuống vệ đường. Chúng đinh ninh rằng nếu ai có nhìn thấy nàng nằm chết cũng cho là nàng bị cảm mạo mà chết dọc đường vì trên người không có thương tích gì. Nàng vờ mê man mặc cho bọn chúng muốn làm gì thì làm, vì e rằng nếu chúng biết nàng tỉnh sẽ giết ngay cho tuyệt hậu hoạn, mà trong lúc đang lâm bệnh nàng không đủ sức chống cự.


Nằm bên vệ đường hồi lâu, sương lạnh thấm xuống khiến cơn sốt lại kéo đến, nàng nằm thiếp đi không biết trời đất gì nữa.


Sáng sớm hôm sau, có một cô gái đi qua thấy nàng nằm sóng sượt ở vệ đường, liền cúi xuống lay gọi. Phải một hồi lâu nàng mới dần dần tỉnh lại. Cô gái hỏi:


- Chị là ai, sao lại nằm ở đây?


Phương Dung đáp:


- Thưa chị, em về quê thăm gia quyến không may dọc đường bị cảm mạo ngã vật xuống đường rồi mê man không biết gì nữa.


- Nếu vậy để tôi đưa chị về nhà điều trị, cha tôi vốn là thầy lang nổi tiếng ở vùng này, nếu được người cứu chữa, ắt chị sẽ mau lành bệnh…


Phương Dung sờ nắn khăn gói rồi nói:


- Nhưng bao nhiêu tiền bạc của em đã bị kẻ gian thừa cơ cuỗm sạch, biết lấy gì để trả tiền thuốc…


- Chỉ đừng ngại gì cả, cha tôi làm việc cứu nhân độ thế, người nghèo đến xin chữa bệnh người không bao giờ lấy tiền. Nếu chị có lòng, thì sau này khỏi bệnh rồi chị về nhà mang tiền đến trả cũng được.


Phương Dung yên tâm theo cô gái về nhà. Dọc đường cô cho biết tên cô là Vụ Thục Nương, ở Phượng Lâu, đất Phong Châu(1), cha là Vũ Chất một lương y đã mấy đời làm thuốc.


Về tới nhà, Thục Nương đem chuyện gặp Phương Dung kể lại với cha. Vũ Chất nói với Phương Dung:


- Cháu cứ yên tâm ở đây chữa bệnh, đừng bận tâm gì đến chuyện tiền bạc cả. Nhà ta chỉ có mình Thục Nương là gái, cháu ở đây cùng nó cho có bạn. À, ta thấy cháu mang theo thanh gươm chắc là cũng thuộc giới võ lâm, chẳng hay thuộc về sư môn nào…


Phương Dung muốn giấu tung tích nên chỉ đáp:


- Bẩm trang chủ, cháu chỉ học qua loa vào đường gươm để phòng thân dọc đường thôi chứ không có tài nghệ gì đâu ạ.


Vũ Chất không tiện hỏi thêm, sai dọn một căn phòng cho Phương Dung tĩnh đường. Nhờ có thầy lang mát tay chữa trị, bệnh của Phương Dung chẳng bao lâu đã thuyên giảm. Thấy sức nàng còn yếu, Thục Nương khuyên nàng ở lại nghỉ ngơi ít lâu cho thật khỏe rồi hãy lên đường. Giữa lúc này Phương Dung cũng chưa biết nên đi đâu nên vui lòng nán lại nhà họ Vũ.


Vũ Chất đang ngồi bào chế thuốc thì gia nhân vào báo có một bệnh nhân tới xin ông chẩn mạch bốc thuốc cho. Ông liền cho mời vào phòng xem mạch.


Lát sau thấy một người trung niên bước vào da mặt vàng như nghệ nhưng đôi mắt sáng quắc. Người đó trông thấy Vũ Chất thì chắp tay vái:


- Nghe danh Vũ tiên sinh là bậc thần y nên tại hạ đến cầu xin người ra tay chẩn mạnh và cho đơn điều trị, nếu bệnh khỏi tại hạ không bao giờ dám quên ơn. Rồi người đó móc túi lấy ra năm nén bạc để trên bàn.


- Gọi là có mấy nén bạc xin dâng người làm tiền phí tổn trị bệnh.


Vũ Chất gạt nén bạc sang bên nói:


- Ta làm thuốc nhằm tạo mục đích cứu nhân độ thế là chính, còn công xá chỉ là chuyện phụ. Vậy khách hãy đặt tay lên gối này để ta xem mạch.


Người đó đặt tay lên gối. Vũ Chất lấy tay án mạch xong rút tay ra nói:


- Ông mạch chạy điều hòa, trong người không có bệnh gì, sao lại nói với ta là có bệnh: Hay ông định dối gạt ta chăng? Xin nói với ông, ta tuy chỉ là một thầy lang nhưng từ xưa đến nay chưa ai khinh nhờn đùa cợt với ta được!


Người đó nói:


- Xin tiên sinh tha lỗi cho, tại hạ đâu dám đùa rỡn với tiên sinh, tại hạ có bệnh thật nhưng đó là tâm bệnh…


- Tâm bệnh của ông như thế nào, nói ta nghe thử?


- Thưa tiên sinh, bệnh của tại hạ là bệnh nội thương trong tạng phủ vì nỗi đất nước của giống nòi Lạc Việt nằm trong tay bọn đô hộ Bắc phương. Chủ nhân của tại hạ sai tại hạ đến đây là để cầu tiên sinh cắt cho một thang thuốc chữa khỏi cái bệnh nằm sâu trong gan ruột đó…


Vũ Chất ngạc nhiên:


- Chẳng hay chủ nhân của ông là ai?


Người đó nói:


- Thưa tiên sinh, chủ nhân của tại hạ là ông Nguyễn Huyến ở Bích Uyển, Kinh Môn(1) chắc tiên sinh đã nghe tiếng. Đây có bức tâm thư của Nguyễn đại gia gửi tiên sinh, xin dâng trình lên người. Dứt lời người ấy lấy trong mình ra một bức thư niêm phong kín nâng hai tay trao cho Vũ Chất.


Vũ Chất bóc thư ra xong thấy trong thư lời lẽ như sau:


Kính trình Vũ tiên sinh kỷ tiền nhã giám,


Từ ngày gặp nhân huynh ở hội đền Hùng đến nay, tiểu đệ vẫn có lòng mong nhớ, hiềm vì đường xá xa xôi chưa có dịp đến gia trang bái kiến để thỏa lòng khao khát.


Theo lời hứa với nhân huynh lúc chia tay, tiểu đệ đã chiêu mộ quân binh, sắm sửa khí giới, tích trữ lương thảo để mưu việc cử sự. Biết nhân huynh là bậc đa mưu túc trí, am hiểu binh thư đồ trận, nên tiểu đệ muốn mời nhân huynh đến giữ chức quân sư cho nghĩa quân. May nhờ vào tài thần cơ diệu toán của nhân huynh mà quân ta giành được thắng lợi thì công ấy của nhân huynh không nhỏ. Mong nhân huynh vì nghĩa lớn mà dời gót ngọc đến hội thì tiểu đệ vô cùng cảm tạ. Vậy nếu nhân huynh nhận lời thì đúng ngày rằm tháng này xin mời nhân huynh có mặt ở tệ trang để bàn việc tụ nghĩa. Chi xiết chờ mong.


Đệ, Nguyễn Huyến bái thư.


Đọc xong thư, Vũ Chất hầm hầm nét mặt, vỗ án quat:


- Tên kia, cớ sao ngươi dám cả gan mang bức thư phản nghịch này đến cho ta? Ta xưa nay làm ăn lương thiện, có bao giờ giao du cùng với quân phản loạn? Gia nhân đâu, mau vào bắt tên gian tế này mang lên nộp đinh Thái Thú để người trị tội.


Người đó khoanh tay cười ngạo nghễ:


- Nếu ông cam tâm phản bội nói giống thì cứ việc bắt tôi nộp cho bọn đô hộ. Nhưng tôi tin rằng ông không phải là người như thế.


- Sao ngươi bảo ta không phải là người như thế?


- Ông quên lời ông đã nói với chủ nhân tôi: ông vốn là dòng dõi của thừa tướng Lữ Gia vì sợ quân Hán giết hại nên đổi ra là họ Vũ à?


Vũ Chất thầm nghĩ đúng là mình chỉ nói riêng với Nguyễn Huyến mình vốn dòng họ Lữ, người này biết được chuyện ấy thì chắc là người của Nguyễn Huyến rồi. Nghĩ vậy, ông đổi giọng:


- Té ra túc hạ đúng là người của Nguyễn đại gia, tôi có mắt không ngươi nghĩ lầm túc hạ là người của bọn đô hộ đến đây giả thư của Nguyễn đại gia để dò xét, xin túc hạ vui lòng thứ lỗi cho.


Người đó điềm đạm:


- Tiên sinh không có lỗi gì, cảnh giác trước âm mưu của kẻ thù cũng là điều cần thiết của người muốn làm việc lớn. Vậy đối với bức thư của chủ nhân tại hạ, ý tiên sinh ra sao, xin người cho biết để tôi về thưa lại với chủ nhân tôi.


Vũ Chất khẳng khái:


- Túc hạ cứ về thưa lại với Nguyễn đại gia rằng, đúng ngày rằm tháng này, lão phu sẽ y hẹn đến dự hội.


Người trung niên chắp tay:


- Xin cám ơn Vũ tiên sinh. Giờ xin phép tiên sinh cho tiểu bối lui gót để bẩm lại với chủ nhân.


Người trung niên vái chào rồi lui bước. Thục Nương từ ngoài vào, hỏi cha:


- Thưa phụ thân, chẳng hay người khách vừa rồi đến có việc gì?


Vũ Chất ôn tồn:


- Con à, đó là người của Nguyễn Huyến nhân huynh ở Bích Uyển sai mang thư đến mời ta tới tụ nghĩa bàn chuyện mưu đồ đại sự.


- Chẳng hay người đã nhận lời chưa, thưa phụ thân.


- Ta đã nhận lời đúng ngày rằm tháng này tới nơi dự hội…


- Chết, sao phụ thân lại vội vàng như vậy? Cần phải xem xét Nguyễn bá phụ đã sửa soạn đầy đủ mọi mặt chưa cũng như thời cơ đã tới hay chưa đã chứ?


(còn tiếp)


Nguồn: Mê Linh tụ nghĩa. Quyển 1 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) Nay thuộc huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.




(1) Nay thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »