tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18413996
Lý luận phê bình văn học
29.07.2009
Hoài Anh
Thanh Châu với khuynh hướng tiểu thuyết tình cảm (2)

Truyện qua rồi của Thanh Châu kể: Anh T., một họa sĩ ở Hà Nội, nhân ra ga, gặp một người chị họ tên H. đi cùng một thiếu nữ tên Đ. Từ N.B lên định đáp xe đi luôn H.P để dự đám cưới một chị em bạn học cũ, nhưng vì xe lên chậm, nhỡ mất chuyến H.P nên đành ở lại Hà Nội một ngày. Vì chả quen biết một ai đang băn khoăn không biết trọ nơi nào cho tiện. T. liền mời hai người về ở tạm phòng vẽ của mình.


T. và Đ. sau khi quen nhau, nàng ngạc nhiên, vui mừng khi biết chàng vẽ cho tờ báo mà nàng vẫn đọc ngày thường trong tỉnh nhỏ của nàng, nàng đem lòng yêu T., tuy T. biết rằng mình không thể nào yêu được nàng nhưng vẫn không tìm cách ngăn chặn tình yêu của nàng đối với mình. Khi nàng gửi thư tỏ ý mong T. trở lại N.B thăm quê cũ, còn hỏi thăm cả con chim bạch yến nhỏ của T., T. vội trả lời là: Con chim bạch yến không hiểu sao từ lúc nàng đi khỏi hóa ra ủ rũ, không chịu “ca hát” như xưa nữa, câu đó đã nuôi thêm hy vọng cho nàng. Đến lúc Đ. bị cha mẹ ép lấy người mà cô không yêu, trốn lên Hà Nội, muốn chung sống với T., lúc bấy giờ T. đành phải nói ra sự thật.


“- Trước đây đi lại gia đình một bạn thân, anh đã hứa hôn với một người con gái của gia đình đó. Mọi việc đang tốt lành, hứa hẹn, thì xảy ra việc không hay: bà mẹ của gia đình lâm bệnh qua đời. Mọi người yên trí cuộc hôn nhân đó sắp thành, nhưng người con gái, vì quá thương tiếc mẹ, khóc lóc ngày đêm, được ít ngày bỗng phát... chứng điên. Vậy là mọi việc đều ngừng lại. Trong họ nhà này, cứ cách một hai đời, lại có người mắc qua chứng ấy. Nhưng cũng có trường hợp không lâu sau đó người bệnh trở lại bình thường. Anh không muốn là người bất nghĩa, nên cố đợi, hy vọng người thiếu nữ sắp thành bạn trăm năm kia, nhờ một sự may một phép lạ nào đó sẽ tai qua nạn khỏi”.


Thế rồi hai người chia tay. Khi nhớ lại chuyện này, T. đã ân hận: “Lạ thay! Lúc đó là lúc tôi đang bận nhiều việc lắm, kỳ thi đã gần tới, công việc, bạn bè, đời sống tấp nập của thủ đô hầu như đã làm tôi không mấy khi nhớ tới hai người đàn bà tỉnh nhỏ. Không hiểu sao tôi lại cố tình quên rằng thiếu nữ này đã sắp thành vợ một người, chỉ còn chờ cưới? Chao ôi, một hàng chữ viết không đứng đắn, một lời vu vơ, bỡn cợt, biết đâu không gây ra đổ nát cho đời người? Cái bệnh của thiếu niên là vô tâm, là tàn nhẫn, là chơi đùa cả với những điều nghiêm trọng. Tại sao tôi lại tự cho mình cái quyền quấy rối cuộc sống yên ả của một thiếu nữ mới vừa quen? Một thiếu nữ sắp tới thời kỳ làm vợ? Sẽ xảy ra sự gì ở lòng nàng khi nàng nhận được thư tôi? Tôi cũng chỉ như một người đàn bà làm dáng, chẳng bao giờ để ý đến cái kết quả do mình gieo rắc trên đường đi”.


Cái ân hận của T. có khác gì cái ân hận của nhà văn R. trong truyện của Stefan Zweig sau khi đọc bức thư của người đàn bà không quen biết, đã âm thầm yêu mình từ lúc nàng mới 13 tuổi khi hai người ở cùng một chung cư, mà ông vô tình không hay. Nhưng người đàn bà đó vẫn ôm mối tình đơn phương và vô vọng trọn đời. Còn Bó hoa quá đẹp của Thanh Châu kể chuyện Chương, một sinh viên nghèo mê Thúy Lan, một cô gái “thuộc phái thượng lưu có học, nói năng hoạt bát”, mua một bó hồng rất đẹp đến tặng cô, nhưng đến nơi mới biết Thúy Lan vừa có người anh họ giàu đưa ô tô đến đón ra Đồ Sơn nghỉ mát, hơn tháng nữa mới về mà bó hoa đẹp của anh khéo lắm chỉ tươi được hai ngày là héo. Chương liền đem bó hoa tặng cho Thu, cô gái bà chủ trọ vẫn thầm yêu anh mà không mong gì được đền đáp lại... Vì với Chương, Thu cũng như cái lọ tầm thường không đáng dùng để cắm những bông hoa quá đẹp.


Truyện này gợi cho người ta liên tưởng tới cô gái trong Bức thư của người đàn bà không quen biết của Stefan Zweig, nhưng ở đây Thanh Châu không chỉ thể hiện tính người muôn thuở mà qua đó còn cho thấy tính xã hội của nhân vật. Đến Bóng dáng xưa thì gần gũi với Katherine Mansfield hơn. Nếu trong Bóng dáng xưa, Ái thích vẽ, thì cô bé trong Người đàn bà nơi nhà kho của Mansfield cũng thích vẽ, nó vẽ mẹ nó và khách của mẹ nó, trong một đêm có cơn giông, khi mẹ nó ngủ với một ông khách ghé trọ, nó đã vẽ cho hai người khách còn lại xem cái cái cảnh mà mẹ nó nói sẽ giết nó nếu nó vẽ: cảnh người đàn bà hạ một người đàn ông bằng súng, rồi đào hố chôn anh ta, đó là nguyên nhân sự mất tích của cha nó mà mẹ nó luôn luôn bảo là bận đi hớt lông cừu.


Nhưng cái gì ở Thanh Châu cũng có mức độ không đi đến cực đoan như Mansfield. Ái thích vẽ nhưng khi đi du lịch với người cô giàu có không con thì nàng có thể bỏ vẽ, nhằm lấy lòng bà ta để được hưởng gia tài. Xương yêu Hòa nhưng với thời gian vẫn có thể khuây lấp nỗi buồn khi đã có niềm say mê viết văn thay thế, gợi cho người ta liên tưởng tới viên giám đốc trong truyện Con ruồi của Mansfield, thời gian có thể làm ông khuây lấp nỗi đau đớn do con trai chết. Trong Ngôi nhà búp bê, Mansfield tả rất giỏi về những bé gái, những thiếu nữ tâm tính khác nhau, hay hoàn cảnh gia đình khác nhau, như ba chị em nhà Burnell giàu có: Isabel hách dịch, Lottia hiền lành, Kazia tốt bụng, hai chị em nhà Kalvey nhà nghèo: Lil nhút nhát, Else mơ mộng. Bên cạnh đó, Emmie Cole kiêu kỳ,Lena Logan độc ác. Đúng như nhận xét của André Maurois: “Một truyện ngắn gọn của Katherine Mansfield có thể chứa và gợi ý về sự thật của thế gian”. Trong Bóng dáng xưa, Thanh Châu tả rất giỏi về bốn thiếu nữ cùng một gia đình nhưng tâm tính khác nhau.


“Trong bốn chị em, Xương là cô thiếu nữ ham xem truyện nhất, nhưng bao giờ nàng cũng là “người đàn bà tháo vát” nhất nhà.


Thịnh thì tuy đẻ trước, nhưng nàng chỉ có được cái vẻ hồn hậu mà trời phú cho những người sẽ được hưởng nhiều phúc lộc của trời thôi. Về phần sắc sảo khôn ngoan thì nàng thua Xương, Thịnh là cô học trò làm dáng nhất nhà.


.... Ái cũng đương đi học. Nàng là cô bé thông minh nhất lớp. Nhưng nàng chỉ thích có ba môn: ngụ ngôn đọc thuộc lòng, bài luận và tập vẽ. Vẽ thì bao giờ nàng cũng bỏ xa chúng bạn.


Thuần ốm yếu nhất nhà, và cũng là cô bé nhút nhát nhất nhà.... Một chuyện cỏn con gì cũng có thể làm cho Thuần sợ hãi. Đọc một bài thơ dài hay phải đi lên bảng để làm tính, đối với nàng đều là những cực hình. Một lời mắng nhẹ, một cái cau mày của bà giáo, một câu chế nhạo của học trò cũng làm cho nàng tái mặt. Bà Thông đành để cho Thuần ở nhà”.


Tính cách ấy có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời của bốn chị em về sau. Thịnh là người đàn bà thiết thực, có tính quyết định nên lớn lên có một cuộc đời chắc chắn, an nhàn. Ái thông minh, khôn khéo nên có thể chiều lòng bà cô già, giàu có, khó tính, không con, và chiếm được tình yêu của Hòa, người con trai mồ côi bản chất yếu đuối, cần bám víu vào tình cảm của người khác. Xương hay mơ mộng, không cả quyết nên đã để lỡ tình yêu, nàng dồn hết tâm lực của mình vào công việc viết văn. Thuần không thích chơi đùa chỉ mải chăm nom mấy cây hoa và mấy con mèo nhỏ, nhân người yếu nên sau hai cơn đau bệnh đã qua đời. Cảm động nhất là cảnh trước lúc ra đi của Thuần:


“Xương lại quay mặt đi một lần nữa để giấu Thuần những giọt lệ đã tràn ra đầy cả má nàng. Nhưng Thuần đã tìm tay chị và nắm lấy:


“- Chị Xương ạ, chị đừng nên sợ.


Thiếu nữ nói câu đó xong thì bỗng lại nở một nụ cười thảm hại:


- Thực là kỳ lạ. Ngày xưa chính chị thường bảo em “Đừng nên sợ gì hết cả”. Vậy mà ngày nay lại đến em khuyên chị. Chị còn nhớ chứ? Chị bảo em rằng cụ Án không có gì dữ tợn, chị bảo rằng em có thể đưa rổ cho anh giáo Phúc và anh Hòa ra vườn hái dâu giúp u già. Chị bảo: Đừng sợ cái gì hết cả. Và em tin chị. Em tin rằng chị phải. Chị bao giờ cũng bạo, cũng cứng cỏi hơn em. Chị khiến người ta nghĩ đến những con chim lạ, càng giông tố lại càng bay khỏe.


Thuần vừa nói vừa thở, hình như mệt lắm. Xương muốn bảo em ngừng lại nhưng không được vì Thuần lại tiếp:


“- Còn em thì mẹ vẫn bảo là một đứa tồi. Em chỉ được cái quẩn chân mẹ và u Ái ở nhà thôi. Đi đâu thì co rúm lại. Mẹ cũng tưởng tượng không bao giờ em đi đâu cả. Vậy mà bây giờ lại đến lượt em đi xa hơn tất cả mọi người. Em sắp từ biệt tất cả mọi người vĩnh viễn. Không.... chị đừng nói gì cả... để cho em nói... Bây giờ thì khác hẳn. Em cũng chẳng biết nói ra thế nào cho chị hiểu. Chị bao giờ cũng là người hiểu thấu đáo được mọi điều, hơn cả mọi người. Bây giờ em thấy không sợ gì nữa cả... Cuộc đời có thể chia tán chúng ta... nhưng bao giờ em cũng trông thấy được ngôi nhà nhỏ thân yêu của chúng ta, những khi mà bốn chị em còn thơ ấu, còn đoàn tụ dưới một ngọn đèn. Em dù ở cõi đời nào cũng không quên cảnh đó. Như vậy cũng như không có gì chia rẽ được chúng ta”.


Sau khi Thuần qua đời, Xương muốn nhờ cảnh ngộ mình lúc đó để sáng tạo nên một cuốn sách sâu xa, thành thực. Một cuốn sách sâu xa, thành thực. Một cuốn sách viết bằng chính những rung động của lòng nàng. “Như là nhờ một phép lạ, Xương hội họp mọi người lại dưới ánh đèn. Mỗi đêm nàng tìm lại những kẻ thân yêu ngày trước. Những cái bóng người xưa đều chạy đến với nàng và xúm quanh nàng, với những tiếng cười nói, với những áo quần ngày cũ. Họ vẫn nói những câu nói cũ, họ vẫn giữ được dáng điệu ngày xưa. Và đó chính là họ đọc cho Xương viết bằng một ngọn bút nhanh chóng, không bao giờ mệt mỏi.


“Phải viết những cái gì thoát ra ở chính lòng mình”, câu đó gợi cho người ta nhớ đến Flaubert: “Tôi thử nghiệm một sự ghê sợ vô hình là đặt trên mặt giấy một số điều của trái tim tôi.... Cực điểm của nghệ thuật là gây mơ mộng”. Phải chăng đó cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của Thanh Châu, cũng là thông điệp của nhà văn đại diện cuối cùng cho khuynh hướng tiểu thuyết tình cảm của văn học Việt Nam 1930-1945 gửi đến cho độc giả.


Những vấn đề của tình yêu mà truyện của Thanh Châu gợi ra khiến tôi liên tưởng đến lý thuyết về tình yêu của Marx Scheler. Theo ông, trước hết tình yêu không phải là sự thương xót vì nó hoàn toàn không phải là một cảm thức; nó không giả thiết một phán đoán cũng không phải là một hành vi khát vọng; nó không chứa đựng trong tự thể yếu tố xã hội nào và có thể được hướng về chính chúng ta cũng như hướng đến kẻ khác. Tất cả những lý thuyết của thế kỷ thứ 19 đề cập đến tình yêu đều phạm phải một lỗi lầm nặng nề: chúng đồng nhất tình yêu với lòng vị tha, một khái niệm phi lý, theo đó tha nhân phải được yêu thương với tư cách là tha thể; chúng biến tình yêu thành một tình yêu nhân loại duy nhất, tình yêu đối với một cái gì trừu tượng. Đó lại là một điều kỳ quặc nữa. Người ta đã đồng nhất tình yêu với xu hướng giúp đỡ hay cải thiện kẻ khác, sắc thái này có thể là kết quả của tình yêu, nhưng không thể thiết lập yếu tính của tình yêu. Scheler đẩy ra sự phân tích – minh chứng rằng lòng vị tha và những hình thức tương tự của tâm tình ngày nay được đặt trên oán hận, trên lòng ganh tị những giá trị cao hơn. Tình cảm đố kỵ ấy nhằm vào những ai mang những giá trị cao hơn đã làm nảy sinh những lý tưởng bình đẳng và nhân đạo và căn bản chúng là một phủ nhận tình yêu.


Tình yêu thực thụ (cũng như lòng ganh ghét thực thụ) luôn luôn là tình yêu đối với một người (person) và không bao giờ là tình yêu đối với một giá trị như thế nào đó. Scheler còn chủ trương rằng người ta không thể yêu thương ngay cả lẽ thiện. Tình yêu đi ngang qua và vượt ngoài giá trị của nhân vị; nó được nhắm vào nhân vị, nhân vị như một thực tại. Khi ta phân tích tình yêu của mình đối với một người (person) thì thấy hình như hết thảy giá trị của người được yêu không dính dáng gì đến tình yêu cả. Luôn luôn vẫn còn lại cái thêm lên “vô bằng” (unbegrundliches Plus). Cái “thêm lên” đó là nhân vị cụ thể của người được yêu là đối tượng chân thật của tình yêu. Giá trị đạo đức tối cao của một người (person) chỉ đưa ra cho chúng ta khi chúng ta chia sẻ trong sự tương thành (Mitvolezug) về hành vi yêu thương của người đó.


Tình yêu là một dòng vận chuyển trong đó mỗi cá thể cụ thể, mang những giá trị đạt đến một giá trị cao đẹp hơn tùy theo lý tưởng chỉ định cho nó. Trong cố gắng nâng cao tình yêu, nó cũng nâng cao cả người được yêu mến. Tình yêu hiểu biết là một nhà điêu khắc, bằng một hành động đơn giản, bằng một cử chỉ duy nhất – biệt lập với tất cả nhận thức thường nghiệm và quy nạp hay che phủ yếu tính của nhân vị – có thể nắm bắt qua cái nhìn những đường yếu tính giá trị của con người. Chính vì thế mà sự tiến bộ đạo đức, và một cách tổng quát tiến bộ giá trị luận, luôn luôn do những nhân vật xã hội điển hình, thiên tài anh hùng và thánh nhân.


Chúng ta hiểu vì sao T. không yêu Đ, Chương không yêu Thu vì tình yêu không phải là lòng vị tha. Ái có thể thay lòng vị tha bằng tình yêu tiền bạc. Xương có thể thay tình yêu nam nữ bằng tình yêu văn học. Thuần có lòng vị tha không cần đến tình yêu nam nữ, còn tình yêu của họa sĩ Lê Chất và nhân vật kể chuyện trong Vườn chanh là tình yêu lý tưởng, chỉ tình yêu giữa Huyền và Phúc mới là tình yêu nhằm vào giá trị của nhân vị, do đó mang lại hạnh phúc cho đôi lứa họ. Tiểu thuyết tình cảm ở đây đã bắt đầu đi theo hướng phân tích tâm lý.


(còn tiếp)


Hoài Anh


Nhóm Văn chương Hồn Việt


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »