tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20034136
Lý luận phê bình văn học
29.07.2009
Hoài Anh
Jorge Luis Borges, người mở đầu chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin (1)

Jorge Luis Borges sinh ngày 24 tháng 8 năm 1899 tại Buenos Aires thủ đô Achentina trong một gia đình thầy thuốc có huyết thống Anh. Cha ông là một luật sư, nhà ngôn ngữ học, nhà tâm lý học, nhà phiên dịch và nhà diễn thuyết. Hồi nhỏ ông được gia sư người Anh kèm cặp, đầu tiên học biết Anh ngữ, nghe hiểu truyện nhi đồng Anh, đọc được tác phẩm văn học Anh, sau đó học biết ngữ Tây Ban Nha, 4, 5 tuổi đã viết được bài bằng các ngữ đó. Lúc 9 tuổi vào học tiểu học, bắt đầu tiếp xúc với văn học cổ điển Tây Ban Nha và Achentina một cách có hệ thống, từng dịch một tác phẩm Anh sang tiếng Tây Ban Nha. Năm 1914, do đại chiến thứ hai nổ ra, cha mẹ Borges mang ông, em gái ông Nora và bà ngoại ông dời Achentina sang ở Thụy Sĩ. Ông ở Genève học trung học Pháp văn, thời kỳ này ông còn tự học Đức ngữ, mượn tự điển đọc tác phẩm của Heine và bản dịch tiếng Đức các tác phẩm văn học Trung Quốc, cũng thường sáng tác thơ. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông vào đại học Cambridge Anh đào tạo sâu, và nắm vững các ngữ Anh, Pháp, Đức v.v... Lúc đó ông thích thơ Whitman và tư tưởng triết học của Schopenhauer. Khoảng năm 1919 đến năm 1921, Borges sống ở Tây Ban Nha và nhanh chóng gia nhập phong trào Ultraismo. Ông tiếp xúc thân mật với một số nhà văn trẻ phái cực đoan, cùng họ biên tập tập san văn học, nhưng không hoàn toàn tán thành chủ trương của họ.


Năm 1921, gia đình Borges trở về Buenos Aires. Lúc đó ông đang độ tài hoa nảy nở, thường học cùng mấy bạn thân, làm thơ viết văn, đem bài viết dán trên báo tường ngoài đường phố. Ông cùng với một số nhà văn nổi tiếng khác sáng lập tờ tạp chí văn học Proa (Lăng kính), tích cực giới thiệu văn học phái tiên phong Âu châu. Năm 1922, ông cùng nhà triết học Achentina Machedonio Fernandez lại sáng lập tạp chí Con thuyền, đăng một loạt bài bình luận văn học hiện đại châu Mỹ La tinh.


Năm 1923, tập thơ đầu của ông Nhiệt hứng của Buenos Aires xuất bản. Năm đó để kết giao càng nhiều hơn bậc thầy nổi tiếng trong giới văn học Âu châu, ông lại hai lần vượt Đại Tây Dương, du lịch khắp London, Paris, Madrid, Andalousia và Majorka. Năm 1925, khi ông về nước, tập thơ thứ hai Đối diện trăng ra đời. Năm 1929, ông cho in tập thơ Sổ tay thánh Martin. Hai tập thơ này rõ ràng chịu ảnh hưởng của phái tiên phong, cảnh sắc, sự vật miêu tả đều mang sắc thái thần bí nồng đậm.


Năm 1935, tập truyện ngắn đầu tiên của ông Truyện những du côn ra đời, phong cách sáng tác độc đáo của nó được giới phê bình chú ý, từ đó xây dựng địa vị vững chắc của ông trên văn đàn Achentina. Năm 1938, ông làm quản lý viên thư viện thành phố để sống. Năm 1941, một tập truyện ngắn khác của ông Vườn hoa đường nhỏ giao thoa xuất bản. Đó là một tác phẩm tiêu biểu của ông. Ông khéo léo đem triết lý, tượng trưng, hư ảo và bầu khí thần bí Đông phương dung hợp làm một thể, cấu tứ độc đáo, khắc họa nhân vật tế nhị. Tập truyện ngắn này có tiếng tăm rất lớn ở các nước châu Mỹ La tinh. Năm 1943 tập Thơ ca ra đời, ngoài ra còn có thêm một số tác phẩm mới, trong đó nổi nhất là Thơ dự đoán. Năm ấy, ông công khai khiển trách chủ nghĩa phát xít và bọn thống trị độc tài quân sự Achentina. Năm 1946, Peron lên cầm quyền không lâu, Borges ký tên vào bản tuyên ngôn phản đối chủ nghĩa phát xít của Peron, bởi thế bị cách chức vụ ở Thư viện quốc gia, phái ông đi làm kiểm kê viên thị trường. Ông từ chối nhận chức, đăng thư công khai tỏ ý kháng nghị, được sự chi viện của phái trí thức. Từ đó, ông dựa vào xuất bản, dạy học và sáng tác để sống. Từ năm 1950 đến 1953 được bầu làm chủ tịch Hội nhà văn Achentina. Năm 1953, chính phủ Peron đổ, xét thành tựu văn học của Borges và để khôi phục danh dự cho ông, chính phủ mới đặc biệt cử ông giữ chức giám đốc Thư viện Quốc gia. Cùng năm, ông còn được bầu làm viện sĩ Viện Văn học Achentina, và bắt đầu dạy môn văn học Anh ở khoa triết học văn học Trường Đại học Buenos Aires. Năm 1961, ông được Trường Đại học Osding bang Daksas Mỹ mời sang dạy về văn học Achentina. Lúc đó, tác phẩm của Borges đã được dịch ra tiếng Anh, Đức, Pháp, Italia, Thụy Điển. Giới phê bình phương Tây nhận định Borges là nhà văn đại biểu quan trọng nhất của Achentina. Năm 1963, ông được các nước Anh, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Pháp mời sang dạy học. Cùng năm, Trường Đại học Andes, Colombia trao tặng ông danh hiệu tiến sĩ danh dự. Do cống hiến về văn học ngữ hệ Tây Ban Nha của ông, ông trước sau 11 lần được trao tặng giải thưởng văn học quốc tế và một số quốc gia, chủ yếu có giải thưởng văn học quốc gia Achentina, giải thưởng văn học Formento Tây Ban Nha, giải thưởng văn học Pan-Americain, giải thưởng văn học Miguel de Cervantes Tây Ban Nha, giải thưởng Olyn Joliziti Mexico và giải thưởng văn học Barsan Italia. Bắt đầu từ năm 1960, ông nhiều lần được đề cử vào danh sách những người được tặng giải thưởng Nobel văn học, nhưng chưa được như nguyện.


Trong một đời Borges tổng cộng xuất bản 30 - 40 cuốn thơ văn xuôi, tùy bút, truyện ngắn, bình luận văn học. Ngoài những cuốn đã nhắc tới ở trên, tác phẩm quan trọng của ông còn có tập truyện ngắn: Những hư cấu (1944), El Alefeh (1949), Kẻ hành sự (1964), Cái chết và la bàn, Thông tin về Brodié, Đấng sáng tạo (1960) v.v..., tập thơ: Cho sáu dây đàn (1965), Ca tụng bóng tối, Vàng của cọp (1972), Sách của cát, Hoa hồng thâm trầm (1975), tập văn xuôi: Lịch sử của vĩnh cửu, Martin Fijero. Ngoài ra ông còn dịch rất nhiều tác phẩm của Faulkner và Kafka.


Giới văn học châu Mỹ La tinh gọi Borges là “một bậc thầy văn học lớn kết hợp hoàn mỹ thủ pháp biểu hiện mỹ học và kinh nghiệm bản thổ châu Mỹ La tinh”. Là “một nhân vật vĩ đại tư tưởng nhạy bén nhất, tư duy sáng rõ nhất của thế kỷ này”. Đúng vậy, thành tựu văn học của Borges là ở kết hợp hiện thực với hư ảo, sáng tạo ra một mô thức của chủ nghĩa siêu thực ở châu Mỹ La tinh. Ông từ góc độ khách quan để quan sát hiện thực, miêu tả bầu khí, cấu tạo tình tiết, trình bày câu chuyện, mới mẻ độc đáo, mang lại cho người liên tưởng vô hạn, ý vị sâu xa. Dưới ngòi bút của Borges, đời sống là mê cung vàng thau lẫn lộn, hư hư thực thực. Nhưng nhìn vào điều kiện lịch sử mà ông ở, tác phẩm của Borges tràn đầy cô độc, hoang mang, bi quan và tuyệt vọng. Điều đó phản ảnh tâm lý phức tạp bất mãn với hiện thực nhưng lại bất lực của tác giả.


Phong cách ngôn ngữ của Borges cũng có chỗ độc đáo. Nhà văn Mexico, được trao tặng giải thưởng Nobel văn học Octavio Paz nói Borges “giỏi dùng ngôn ngữ ít nhất biểu đạt nội hàm nhiều nhất”. Có thể thấy ông dùng từ chọn lọc, sáng sủa, gọn gàng như thế nào. Khi đọc văn của Borges, người ta có thể phát hiện ông tiết kiệm chữ, lời giản ý sâu, tuyệt đối không có lời thừa.


Borges về đời sống rất không may mắn. Năm 1950, ông mắc bệnh về mắt, nhưng nhiệt tình sáng tác của ông vẫn không nhân thế mà giảm sút. Rất nhiều tác phẩm của ông là xuất bản sau lúc đó. Đến cuối đời, ông bị mù cả hai mắt, tuy vậy ông vẫn sáng tác bằng cách đọc cho thư ký ghi lại. Hôn nhân của ông cũng không hạnh phúc. Hơn 60 tuổi mới tuân lời mẹ kết hôn với Elsa Asted, xuất thân vọng tộc, nhưng không lâu lại ly dị chia tay. Tháng 4 năm 1986 ông còn kết hợp với Maria Eryu nữ thư ký người Nhật bầu bạn với ông hơn 20 năm. Được biết mình mắc bệnh ung thư gan, Borges mang Maria Eryu người vợ mới kết hôn được hai tháng rời Achentina đến Genève nơi ông sống thời trẻ để kết liễu cuộc đời tàn. Ngày 14 tháng 6 năm 1986 ông qua đời ở Genève.


Tập tiểu thuyết quan trọng của Borges có: Tin đồn xấu mang tính thế giới (1935), Vườn hoa đường nhỏ giao thoa (1941), Thủ công nghệ phẩm (1944), Giả dối (1944), El Alefeh (1949), Cái chết và la bàn (1951), Thông tin về Brodié (1970) và Sách của cát (1975). Ngoài ra còn có Nhà lục vấn Ysieoro Barody, ông cùng viết với Pieuy Kasaleys.


Tin đồn xấu mang tính thế giới bao gồm sáu câu chuyện ngắn, đại bộ phận mô phỏng hoặc trực tiếp căn cứ vào trứ tác cổ điển cải biên mà thành. Như Người ở góc phố màu hoa hồng là mô phỏng câu chuyện lưu manh côn đồ miền Tây nước Mỹ cãi nhau đánh nhau; Chuyện hai người nằm mộng là lấy từ đêm thứ 351 Ngàn lẻ một đêm; Thầy phù thủy không đạt được mục đích lấy từ sách răn đời của bá tước Lucanor và Patronio mà nhà văn Tây Ban Nha Hoan Manoer (1282-1348) viết. Mục đích của tác giả là ở chiều lòng độc giả, bởi vậy sử dụng thủ pháp kiểu hoạt họa và ngôn ngữ uy-mua phúng thích. Trong lời tựa tập tiểu thuyết, Borges viết: “Những văn xuôi mang tính kể chuyện tập hợp thành cuốn sách này phần nhiều là bài tập viết khoảng năm 1933 đến 1934. Tôi nghĩ đó là đọc lại tác phẩm của Stevenson, Chesterton, xem kết quả của phim ảnh của Von Stri và tự truyện của Evaristo Kalego. Trong tác phẩm lạm dụng một số thủ pháp, như trình bày la liệt sự thật, đột nhiên cắt đứt tình tiết và đem cuộc đời một người rút lại trong hai ba cảnh”. Thứ thủ pháp bút mực không nhiều, nhưng lại vạch rõ thứ tình cảm nào đó một cách tận tình, đặc sắc, hàm súc, thành một đặc điểm lớn của kỹ xảo sáng tác của Borges. Nhưng từ nội dung tư tưởng mà nói, Borges không hài lòng về tác phẩm thời kỳ đầu của mình, ông nói Tin đồn xấu mang tính thế giới là “trò chơi của một thằng nhát không chịu trách nhiệm”, “Ngoại trừ hỗn loạn và một đống hình tượng thô thiển ra, không có chỗ nào khả thủ”.


Tập truyện ngắn thứ hai Vườn hoa đường nhỏ giao thoa xuất bản năm 1941, biểu hiện rõ phong cách độc đáo của ông, bắt đầu dẫn tới sự coi trọng của giới văn học Mỹ La tinh. Năm 1944, tập truyện ngắn này lại in chung với một tập truyện ngắn khác, Thủ công nghệ phẩm, nhan đề là Những hư cấu, là một trong những tác phẩm chủ yếu của Borges.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh (Thành viên Nhóm Văn chương Hồn Việt). NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
Đôi lời về Vecte và nỗi đau của chàng - Quang Chiến 07.07.2017
Huyền thoại Faust - Triệu Thanh Đàm 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (3) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (2) - Phan Quang 07.07.2017
xem thêm »