tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682416
Lý luận phê bình văn học
28.07.2009
Hoài Anh
Thanh Châu Với khuynh hướng tiểu thuyết tình cảm trong văn học 1930-1945

Không có chuyện, hay câu chuyện mong manh chỉ là một cái cớ để bắt lấy một cử chỉ, một nét mặt, một im lặng; nhưng trong những cái thoảng qua ấy, có một cái gì khác thường, một dáng uể oải, một chút gượng gạo, một im lặng “trong đó thoảng có những rung động nhanh, những rung động của đôi cánh chim bị thương đang rộn ràng, rồi ngừng lại, rồi lại bắt đầu run run trong đêm.


Người ta nhớ đến những màu sắc của bóng tối trong một bức họa ấn tượng. Những truyện ngắn của bà cũng là những ấn tượng, những cảm xúc của một lúc tâm lý, những kỷ niệm năm xưa khêu lên trong dòng thời gian đang trôi. Một cách viết nhẹ nhàng, những hình ảnh tươi đẹp và long lanh, với một tính chất thơ âm thầm làm bởi những nét chấm, những cảm động và những yên lặng giữa dòng. Câu văn của bà một giọng, một nhịp, nặng trĩu cảm xúc mà vẫn lâng lâng như một giấc mộng trẻ”.


Tôi liên tưởng đến Katherine Mansfield khi đọc lại những truyện Thanh Châu viết cách đây sáu chục năm và kinh ngạc nhận ra rằng những truyện ấy “nặng trĩu cảm xúc mà vẫn lâng lâng như một giấc mộng trẻ” đúng như nhà văn Tô Hoài đã nhận xét: “Những gì nhà văn viết ra đã sống được theo năm tháng thì lại không có tuổi...”. Nhà văn Bùi Hiển trong bài Tâm cảnh tình yêu (in trong tập Bạn bè một thuở, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1999) cũng viết: “Từ giữa những năm 30 thế kỷ này, Thanh Châu xuất hiện đều đặn, hầu như hàng tuần, qua những trang tuần báo Tiểu thuyết thứ Bảy. Còn nhớ văn đàn Việt Nam ở thời điểm ấy khá rộn rịp, nhiều màu sắc, nhiều giọng điệu chen nhau: có thể nói là một cuộc nở rộ văn học. Trong cuộc nở rộ ấy, truyện ngắn Hoa tigôn của Thanh Châu đã góp phần hương sắc và tiếng nói riêng biệt của mình, giản dị đến mức mộc mạc và chân tình, sâu lắng, thoáng chút buồn êm dịu, thiết tha, Thanh Châu kiên trì đi theo con đường ấy, không bao giờ mãnh liệt, công phá. Ngòi bút ông chỉ tựa hồ lời thủ thỉ tâm tình, nhắn nhủ hoặc nhắc nhở rằng mỗi con người chúng ta, giữa cái cảnh đời vốn trần trụi khốn khó này, ít ra còn có một vật báu sở hữu, đó là một trái tim, một linh hồn. Trái tim ấy, mảnh linh hồn ấy có nhu cầu được nuôi dưỡng thường xuyên bằng tình cảm nương nhẹ, bằng yêu thương cảm thông và độ lượng, tránh gây cho nhau đổ vỡ hoặc làm cho rỉ máu do lầm lẫn hoặc si mê. “Chàng nghĩ đến sự hiểu lầm đáng thương của người ta – Thanh Châu chăm chú theo dõi dòng suy tư khắc khoải nhân vật của mình – Chàng nghĩ đến cái vẻ hào nhoáng của mỗi người đi trên đường đời. Thật đáng buồn: không ai nhìn rõ ngọn lửa cháy bên trong mỗi cuộc đời, ngọn lửa cháy yếu ớt, nghèo nàn, chẳng đủ ấm lòng người. Người bạn học cũ của Bình hôm nay cũng chỉ nhìn thấy cái lấp lánh bên ngoài cuộc đời Bình...”.


Hai truyện vừa Tà áo lụa (1941) và Cái ngõ tối (1944) phải chăng là những quả hái được trong lúc tư tưởng và văn phong tác giả đang độ chín tới, ở tuổi trên dưới ba mươi. Hai câu chuyện tình. Hai trái tim phụ nữ. Hai cách chọn lựa trong tình yêu và lối sống. Cách chọn lựa nào, cách ứng xử nào là đúng, là hợp lý, ở tình huống khó khăn tế nhị này? Tác giả không đứng ra làm người thuyết giáo hoặc phân xử, vì cuộc sống tâm hồn bao giờ chẳng chứa nhiều uẩn khúc. Nhà văn chỉ muốn vẽ lên bức tranh tâm cảnh. Với những nét bút khá tinh tế, uyển chuyển, đi sâu vào những ngõ ngách nội tâm, những sắc màu không rực rỡ, nhưng lại có cái thoáng nhẹ của tranh thuốc nước.


Thế rồi, bao trùm lên tất cả, cái ấn tượng toàn cảnh, khi gập sách lại, là một nỗi buồn se se và thanh thoát. Thanh Châu là vậy. Ông có cách nhìn đôn hậu, trầm tĩnh, đôi khi luyến tiếc ngậm ngùi, nhưng luôn luôn nhạy cảm, thân thiện và yêu mến, những đức tính làm nên giá trị cơ bản của con người sống giữa xã hội, dù bất cứ xã hội nào và ở thời đại nào.


Cũng nhìn đức tính ấy tạo thành giá trị khiến cho hai thiên truyện (trong tập Cái ngõ tối) đượm chất trữ tình bâng khuâng lẫn chất hiện thực hồn hậu này, mặc dù đã được viết từ nửa thế kỷ, đến nay vẫn còn giữ được nguyên vẹn dư âm. Tôi nhớ nhà văn nữ Anh - Peneloppe Lively từng nói: “Truyện ngắn cung ứng khả năng trình bày một vài vấn đề mà tôi xem như là một khoảnh khắc cô đọng trong thời gian, điều đó có thể cho phép nó bộc lộ những điều muốn nói với người đọc như là một con người trong giới hạn của hoàn cảnh nhỏ nhoi... Nó là hình thái mới mẻ và hoàn hảo, vì thế những kiệt tác truyện ngắn cô đọng trong tâm trí ta như một hình ảnh hội họa đậm đà, mạnh mẽ, từ ở chỗ nó tác động với những vấn đề của phương pháp và cảm hứng ở các nhà văn”.


Trong Hoa tigôn, Thanh Châu viết: “Chiều qua, lúc Chất sắp đạp xe rất nhanh qua đó, tình cờ liếc mắt vào nhà, bỗng thấy một thiếu nữ đứng trên một chiếc ghế cao, đang với tay lên những cây hoa đỏ trên giàn nứa. Người con gái mặc áo cánh lụa cụt tay, hở cổ, để lộ một màu da khỏe mạnh, như thứ da thường ra nắng của những cô gái nhỏ. Hai má ửng hồng, vài sợi tóc trên vùng trán, cảnh “con gái hái hoa” ấy như một bức tranh linh động, khiến người họa sĩ phải dừng chân ngắm không chán mắt. Khuôn mặt đều đặn, vẻ đẹp thông minh, nhất là đôi mắt có một nét vẻ lạ, đó là thứ nhan sắc hiếm hoi, ai trông thấy một lần đều in trong trí nhớ”.


Đúng là một bức tranh vẽ bằng văn xuôi. Nhưng điều thú vị là áng văn xuôi đó lại gợi ý cho T.T.KH. làm bài thơ Hai sắc hoa ti gôn và nổi tiếng nhờ Hoài Thanh nhắc đến trong Thi nhân Việt Nam. Từ họa đi vào văn xuôi, từ văn xuôi đi vào thơ, từ thơ đi vào phê bình để đọng lại mãi mãi trong tâm hồn người đọc như một loài hoa bất tử.


Truyện Cơn giông cũng viết bằng bút pháp gây ấn tượng như thế:


“Tôi về gần đến chỗ giường cũ, lại một tiếng sét long trời giáng xuống cành cây cao nhất trong vườn, xé đôi thân cây ra như xé một tờ giấy. Một ánh sáng hồng nhoáng lên lúc đó làm tôi nhắm mắt. Tôi vừa vịn lấy thành giường vừa khóc thét. Mãi một lúc sau cô tôi mới nghe tiếng chạy lên. Chỉ thấy một mình cô hốt hoảng chạy lên. Có lẽ người đàn ông đã ra về bằng cửa sau rồi.


Người tôi run như một cây sậy trong gió lốc.


Mặt cô tôi xám xanh đi, nửa cảm động, nửa vì lo sợ. Cô ôm chầm lấy tôi, nhưng tôi vội tránh ngay. Tôi không muốn người đàn bà ấy mó vào người tôi lúc đó. Nước mắt bắt đầu giàn giụa trên mặt con người đau khổ.


- Con! Con lại với cô, tội nghiệp con... tội nghiệp cô...”.


Ánh sáng hồng của sấm chớp nhoáng lên đã soi rõ cho đứa trẻ thấy sự thực tàn nhẫn: cô nó không phải trong sạch như mình vẫn tưởng, cái đó còn để lại vết hằn trong tâm lý nó nhiều năm sau khiến nó ghét oan người cô tội nghiệp. Đoạn cuối, tác giả viết:


“Tôi đã hiểu, đã biết thương cô, thì cô đã không còn. Biết làm sao tạ lỗi với người được nữa?


Đầu óc trẻ em như tờ giấy trắng, nhìn cái gì cũng chỉ thấy cái đẹp của nó. Trong truyện ngắn Nhật và Nguyệt (Sun and Moon) Katherine Mansfield tả em Nhật đã khóc khi thấy sau bữa tiệc của người lớn cái nhà con hồng hồng với mái tuyết và cửa sổ xanh làm bằng bánh kem lạnh đã vỡ rồi và tan đi một nửa ở giữa bàn. Nhưng những người trẻ có khi vô tình mà trở thành thật tàn nhẫn và độc ác.


Trong một truyện ngắn khác, Katherine Mansfield tả một cô gái già chiều chủ nhật nào cũng đến công viên nghe hòa nhạc và lắng nghe trộm chuyện của người khác. Bỗng nàng nghe thấy lời của một đôi trai gái:


“Thiếu nữ cằn nhằn:


- Không, bây giờ không được. Mà không phải ở đây, em không thể chiều anh đâu.


- Nhưng tại sao vậy? Vì con mụ ngốc ngồi ở đầu ghế kia hả? Tại sao mụ dẫn xác tới đây nhỉ? Ai cần mụ đến? Sao mụ không nằm ở nhà mụ với con vật mặt nhăn như khỉ ăn gừng ấy có được không.


Thiếu nữ đỏng đảnh đáp:


- Tại, tại cái khăn lông của mụ lố bịch quá. Trông y như con gà chết!”.


Trong truyện Vườn chanh, Thanh Châu đã sử dụng cả “ánh sáng của bóng tối” như Katherine Mansfield. Nhân vật xưng tôi mượn cái trại của ông chú già ở quê làm nơi đọc sách mấy tháng nóng nực. Tác giả viết:


“Một hôm tôi đi chơi rất xa về phía núi gần làng, lúc trở về trăng đã lên cao quá ngọn tre. Tôi vừa qua khỏi khúc sông ở đầu làng thì trên con đường đi vào trại bỗng thấy xuất hiện bóng một người đàn bà mặc áo trắng dài. Ở xứ quê đó là một điều lạ mắt. Ta chỉ quen nhìn màu nâu của những người làm việc đồng áng lẫn cùng màu đất. Một cái chấm sáng hơn tức thì khiến ta chú ý ngay.


“Cái bóng trắng kia đi vào bên ngõ cạnh vườn chanh. Người đầy tớ của chú tôi bảo đó có lẽ là người bên hàng xóm, vì thỉnh thoảng bên hàng xóm vẫn có người ở trên tỉnh về, nhất là người con gái lớn của chủ nhà. Tôi đã nói là hồi bấy giờ tôi mơ mộng lắm. Chưa chi tôi đã nghĩ đến một cuộc làm quen đầy thi vị với người áo trắng cạnh vườn nhà. Tôi tự nhủ: Ở đời không chỉ có Hoa và Sách là đáng kể. Ngoài hai thứ ấy còn nhiều cái đáng bận lòng hơn”... Một tuần sau, tôi mới lại được trông thấy người đó ở trong vườn, nhưng hôm đó trời đã tối. Nhìn qua lớp hàng rào bằng cây tôi chỉ nhận được hình dáng của nàng thôi. Nàng vẫn mặc áo dài trắng và người gầy đến nỗi tôi thương hại. Tôi cố ý gọi tên người đầy tớ trong nhà rất to, để cho nàng biết rằng bên vườn chanh cũng có người đang ở. Không hiểu sao tôi lại cho rằng nàng cũng là một người ưa tĩnh thường rời bỏ tỉnh thành tức là để đi nghỉ như tôi. Nghe tiếng động, người đàn bà vội lánh vào nhà. Và từ buổi ấy, nàng có ý giữ gìn hơn trước. Bên hàng xóm hình như không còn người sống, sự đó càng làm cho tính hiếu kỳ và lòng say mê của tôi tăng.


“Tôi cố rình mò lắm mới lại trông thấy nàng một lần nữa, nhưng người đàn bà thầm lặng chỉ bước ra khỏi nhà vào quãng đêm đã xuống rồi.


“Tôi chỉ có thể biết được rằng nàng có một thân hình mảnh dẻ, dáng đi cao quý, thế thôi! Còn mặt mũi ra sao tôi không bao giờ được rõ”.


Chàng viết thư cho nàng nhưng bức thư không có hồi âm. Hai tuần sau, chàng thu xếp hành trang về Hà Nội cũng không quên viết cho người đàn bà mà chàng gọi là Kiêu Kỳ vài hàng từ biệt trong đó để lộ cả sự buồn nản của người con trai bị “vết thương lòng” đầu tiên...


Buổi chiều chàng sắp ra đi thì bỗng đứa đầy tớ nhỏ của nhà bên cạnh chạy sang và đưa cho chàng một cái khăn tay trong để một tờ giấy nhỏ hẹn sẽ đợi chàng khi trăng lên ở bờ sông, nơi chàng gặp nàng lần thứ nhất.


“Tôi lo sợ, vì cái việc viết thư với việc giáp mặt một người xa lạ là hai điều khác hẳn. Trong lúc viết mình là tạo hóa, là một người si tình, rất bẻm mép. Nhưng lúc đứng trước một người đàn bà chưa quen thuộc nết, chưa hiểu tính tình, nó sẽ ra sao? Đó là điều tôi chưa từng rõ. Biết đâu người kia không già dặn hơn mình, nhỡ mình vụng về lúng túng thì nguy quá! Tôi băn khoăn cho đến lúc trăng lên. Nhưng khi trăng đã lên rồi, tôi lại thấy mình có thể đi trong cái ánh sáng không rõ rệt ấy mà không ngượng lắm.


“Ban đêm mùi lá cây, mùi đất, mùi ao bèo ở thôn quê làm tôi ngây ngất như một hơi rượu mạnh. Ban đêm, hình như hoa cỏ mới thật là đua sống. Ta thấy chúng nở nang ra, tỉnh táo ra hơn cả ban ngày. Hình như chúng sợ phí mất một giây khắc sống của cái đời hoa cỏ ngắn ngủi.


“Cuộc gặp gỡ của chúng tôi cũng thật ngắn ngủi. Tôi đi với nàng vài bước trên bờ sông. Tôi không còn nhớ tôi đã nói những câu gì. Đêm đó trời có nhiều mây, tôi chỉ chờ lúc mặt trăng hiện ra chỗ quang đãng để nhìn cho rõ mặt người thiếu nữ. Tôi lấy làm sửng sốt mà thấy nàng đẹp hơn người tôi hằng tưởng tượng. Thân hình nàng cũng đẫy hơn. Người tôi gặp trên bờ sông đêm đó là một thiếu nữ khỏe mạnh, dáng đi khác hẳn người mà tôi vẫn nhìn trộm qua hàng rào cây ở vườn tôi. Nàng cho biết tên nàng là Thủy, và vì nhà đã hứa hôn một chỗ rồi, nên cuộc gặp gỡ nhau đêm đó là đêm đầu mà cũng là đêm cuối của nàng. Vì không muốn tôi trở về Hà Nội với một kỷ niệm không vui, nên buộc lòng phải đến”.


Rõ ràng tất cả những cảnh trên chỉ có thể xảy ra ban đêm với sự đồng lõa của ánh trăng. Sau này chàng gặp một phụ nữ, nàng cho biết nàng là em của Thủy, chị nàng, và cái người đi đến chỗ hẹn bên bờ sông trong cái đêm sáng trăng ấy... là nàng.


“- Nguyên chị tôi đau đã lâu năm nên ngày đó thường về quê dưỡng bệnh. Một hôm tôi đến với chị tôi, chị đã đưa cho xem bức thư của ông... rồi bảo tôi đi thay, đến nơi đã hẹn với ông. Ông không thể hiểu trong vụ việc ấy bệnh tình của chị tôi đã nặng thêm lên nhiều lắm. Biết mình chẳng còn sống được bao lâu, nhưng cũng không muốn bỏ phí một cuộc tình duyên đẹp đẽ, mà có lẽ chị tôi không bao giờ được hưởng. Nên chị tôi mới nghĩ ra cách đó: mượn em thay mình một buổi để giữ cho cả ông và chị tôi một kỷ niệm không đến nỗi nhạt nhẽo, trong một vụ nghỉ hè. Đó là “trò chơi” của người tuyệt vọng, một người trọng bệnh. Bây giờ ông đã rõ, ông cũng nên tha thứ cho tôi”.


Tiểu thuyết thứ bảy số 410, ngày 25/4/1942 có đăng truyện Khô héo lá gan do Thanh Châu dịch theo truyện Destruction d’un coeur của Stefan Zweig. Truyện kể ông Salomonsohn làm nghề chào hàng, vất vả kiếm từng xu một để cho vợ con được sung sướng. Đến khi ông thành một người giàu có thì vợ con ông lại đua đòi ăn chơi. Khi cùng vợ con về miền Nam nghỉ chơi mấy bữa, ông ra ngoài dãy hành lang khách sạn để đi bách bộ một mình. “Nhưng lúc ông sửa soạn trở về phòng mình thì ông thấy một tia sáng lóe ra ở một phòng khách sạn xa, và bóng một người yểu điệu từ nơi ấy tiến về phòng con gái quý của ông, ở sát ngay phòng ông.


Ông già thoắt rùng mình. Erna, con gái ông mới 19 tuổi. Không, không thể như vậy được. Nó làm gì ở cái phòng lạ kia, để trở về đêm hôm khuya khoắt thế này? Ông vừa thở vừa đi tới phòng con gái và ghé mắt vào lỗ khóa. Trong phòng Erna có ánh đèn và chứng cớ đã dĩ nhiên: ánh đèn ấy lại vừa mới tắt. Phải, phải, đích thị là Erna ở một phòng người lạ trở về. Ông già run lên vì đêm lạnh, vì kinh khủng. Mồ hôi ông toát ra ướt đầm người...”.


Chuyện đó như một vết thương gặm mòn quả tim ông mãi, cho đến khi ông bắt gặp vợ ông đi cùng một người khách ăn mặc thực là sang trọng, quả tim ông chịu đựng không nổi, bị tàn phá. Nếu ánh sáng hồng của sấm chớp soi cho nhân vật xưng tôi thấy sự “dơ bẩn” của người cô mình hằng quý mến, thì tia sáng đèn khách sạn lại soi cho ông Salomonsohn thấy sự dơ bẩn của đứa con gái mà ông yêu chiều.


(còn tiếp)


Hoài Anh


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử - Triệu Xuân 31.05.2017
Truyện Dị sử của Ngọc Toàn - Triệu Xuân 31.05.2017
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
xem thêm »