tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20782873
Lý luận phê bình văn học
25.07.2009
Hoài Anh
Phải chăng điện ảnh truyền hình giết chết tiểu thuyết (2)

Những điều vừa nêu ở trên để giải thích một hiện tượng là, ví dụ, Franz Kafka chưa bao giờ được hưởng một vinh quang điện ảnh, mặc dù ông được coi là hình ảnh chói sáng nhất của nền văn học hư cấu thế kỷ XX. Chủ nghĩa hiện thực kỳ ảo cũng vậy, hầu như đã không được chuyển thể thành công lên các ngày hội của thế giới màn bạc. Tương tự, tính phức hợp tâm lý đến mức tăm tối thì chưa bao giờ thích hợp với điện ảnh, cho nên các tiểu thuyết của Fyodor Dostoevsky đành phải chịu cảnh nằm ngoài các liên hoan phim lớn. Một diễn biến tâm lý đơn giản nhất cũng dường như không thể dễ dàng đưa lên phim, kể cả khi người ta cho phép những lời tường thuật ngoại đề chảy thao thao bất tuyệt.


Với biết bao những cản trở và rủi ro kiểu như vậy, bạn có thể hiểu vì sao giữa muôn vàn thủ thuật kỹ xảo, thì những thành công lớn nhất bao giờ cũng thuộc về những lớp diễn chân thực và cổ điển nhất. Khác hẳn những chuyên gia điều hành ngành điện ảnh, không độc giả nào muốn được xem những ý tưởng ôm đồm với những màn hình lộn xộn chất chồng các lớp lang mờ tỏ. Và tất cả những điều này chỉ thuộc về trách nhiệm một loại người: các nhà biên kịch chuyển thể.


Cuối cùng, phim truyện không thể là một bản sao của kinh nghiệm đọc, càng không phải là cái túi chứa tất cả những gì tiểu thuyết dựng lên, kể cả khi ê kíp làm phim có tài năng vô hạn đủ để làm những điều tương tự. Các nhà làm phim phải được coi là những người rất giỏi thỏa hiệp và nhượng bộ. Họ không vứt cuốn sách qua cửa sổ, nhưng họ cũng kịp đạt đến cái đích của họ một cách đầy đặn nhất, và đó là một điều kỳ diệu.


Với một tiểu thuyết, tác giả tạo ra một mối cộng tác ngầm với độc giả. Ông ta tạo ra câu chuyện và giọng điệu, còn độc giả thêm vào các kiểu mường tượng. Quyền năng của tiểu thuyết thường được tôi rèn trong một thế giới các chi tiết mơ hồ. Khá nhiều những chi tiết trong thế giới đó được quăng ra rồi để nguyên đó để ám ảnh độc giả. Người đọc, đến lượt họ lại tự do gọi hồn các nhân vật theo cách riêng của họ, tự do vẽ ra hình hài, tính cách, bởi con mắt bên trong tâm trí độc giả giúp họ cách lắp ghép rất khác lối mà màn ảnh điện ảnh chỉ đưa ra được một phương án. Cho đến lúc kết thúc, tiểu thuyết gia đã hoàn toàn dâng nộp cuốn sách của ông ta cho độc giả. Từ đó trở đi, dù có muốn ông ta cũng không còn có thể làm gì được nữa, thích thú hay cay đắng cũng đành phải phó mặc cho đám đông không quen biết ngoài kia.


Với điện ảnh thì ngược lại. Phim truyện được kiểm soát kỹ càng hơn. Người chỉ huy đòi hỏi cảnh quay, và các ống kính chú mục vào cảnh diễn. Những đôi mắt của độc giả đương nhiên bị hướng vào nơi người nghệ sĩ thích, chỉ không cần theo thứ tự bắt buộc từ trái qua phải mà thôi. Vậy thì việc gì những người làm điện ảnh cứ phải sợ bị khán giả chê là không đúng nguyên tác?


Chỉ có điều, người nghệ sĩ chuyển thể có dám và đủ khả năng chinh phục cõi hoài niệm của các độc giả văn học hay không mà thôi”.


Khi tỏ ra lo ngại về sự suy giảm năng lực đọc sách trong xã hội Mỹ hiện nay, một nhà văn Mỹ viết (Lã Thanh Tùng dịch):


“Không giống như khi thụ động xem TV, xem các đầu đĩa DVD, hay khi lướt trên các trang web giải trí... sự đọc nghiêm túc luôn thực sự là những cuộc dấn thân, trải nghiệm đầy tính chủ động. Trang sách mở luôn đòi hỏi con người phải tập trung cao độ, trong một thời gian đủ dài, để đắm chìm hết cỡ vào cõi hoài niệm và tưởng tượng bay bổng. Việc đọc các giá trị văn chương còn giúp ta tăng cường cũng như mở rộng thêm nhiều lòng trắc ẩn, đức khiêm cung, giúp chúng ta từ một cuộc đời đến với thật nhiều cuộc đời, dù chúng khác ta và khác nhau biết mấy.


Trong thực tế, đôi khi chúng ta đã đánh giá chưa đủ vai trò và tầm quan trọng của văn học cùng những giá trị văn chương trong tiến trình trưởng thành và thuần thục của một quốc gia, đặc biệt khi chữ nghĩa thực sự chuyển tải đến giới trẻ bản chất các sự kiện quá khứ, những nguyên tắc sống còn của việc duy trì và phát triển một xã hội dân sự hiện đại. Chúng ta đã quên rằng, người Hy Lạp trong quá khứ đã học được từ các trường ca của Homer nhiều hơn hẳn từ các bài thuyết giảng khô khan của Plato. Mà chẳng nói đâu xa, con dân nước Mỹ ngày nay có biết chăng, nền tảng của các phong trào bãi nô thế kỷ XIX chính là tác phẩm Túp lều Bác Tom?


Cũng như vậy, liệu dân Mỹ hiện nay có biết rằng, những vần thơ của Walt Whitman đã giúp cho nước Mỹ tự ý thức được về mình nhiều hơn hẳn mọi chiến dịch vận động chính trị? Ngày nay, khi các công dân Mỹ tưởng nhớ về cái thời suy thoái khủng khiếp trong quá khứ, liệu điều gì ấn tượng hơn hình ảnh gia đình Joad trong tác phẩm Chùm nho nổi giận của văn sĩ John Steinbeck? Nếu không có những di sản văn chương như thế, lịch sử liệu đã tiến hóa theo hướng nào?


Tuy nhiên, để có thể chú tâm được đến các ý nghĩa xã hội, nhân văn của nền giáo dục trong nhà trường, chúng ta không thể bỏ qua các tác động cá nhân của văn học. Hàng ngày, các tác giả vẫn hay nhận được những bức thư từ độc giả, đại loại nói “Cuốn sách của Ngài đã làm thay đổi đời tôi”. Lịch sử từng chỉ ra vô số các trường hợp, trong đó các nhân vật nổi tiếng luôn bị ám ảnh bởi những tác phẩm gối đầu giường. Khi nhà tư tưởng John Stuart Mill thời Victoria phải chịu ách đè nén nặng nề thời niên thiếu, chính thơ ca của Wordsworth đã phục hồi cho ông niềm lạc quan và sự tự tin cần thiết trong đời, đến mức sau này ông đã phải thốt lên “đó thật sự là những viên thần dược cho trạng thái tinh thần của tôi”.


Một vài thập kỷ sau, W. E. Dubois đã nhận thấy một tác dụng kỳ diệu khác của văn chương, đó là sự giải thoát của Jim Crow khỏi thế giới nhạt nhòa đến với tự do và bình đẳng. “Tôi được ngồi cùng Shakespeare”, Dubois mô tả, “và ông giúp tôi làm bạn với Dumas và Balzac, cùng yêu thương những gã trai đang mỉm cười và những thiếu phụ đôn hậu diễu qua trang sách”. Văn học thật sự là một chất xúc tác vô song của văn hóa và giáo dục.


Sự hiển nhiên về tầm quan trọng của văn chương đối với con người, đời sống, và phát triển thật đã rõ và không thể coi thường. Sự suy giảm năng lực đọc trong xã hội Mỹ hiện nay đang phủ bóng mây u ám lên mọi vấn đề kinh tế lẫn xã hội dài lâu, thậm chí nó cũng ảnh hưởng xấu đến cả những đề tài hàng ngày đang gây tranh cãi trên chính trường nước Mỹ. Các thư viện, các cơ sở đào tạo, rồi các tổ chức xã hội đang nỗ lực thực hiện những công việc đáng kính, nhưng để định vị được một khả năng thức tỉnh lớn cho toàn cộng đồng, thì đòi hỏi phải có sự ra tay của lãnh tụ các đảng phái, cùng giới chủ trong mọi cơ sở sử dụng lao động.


Văn học hiện đang phải thi đua với một loạt các phương tiện truyền thông đại chúng. Nếu như không loại hình thông tin nào một mình phải chịu trách nhiệm về sự nông nổi của các công dân Mỹ, thì chính là sự quảng cáo khuếch trương quá lớn các giá trị thực dụng trên tất cả các loại hình phương tiện đó đang phải chịu trách nhiệm này.


Đọc không bao giờ là một khả năng tự có, dễ dàng. Đó thực sự là một kỹ xảo trí thức cao cấp, phụ thuộc rất nhiều vào các tiền tố đạo đức, kinh tế, văn hóa, giáo dục... được xây dựng trước trong xã hội. Càng nhiều người Mỹ xa rời các giá sách, dân tộc này càng ít thông tin, ít ý thức, và ít bản lĩnh suy nghĩ độc lập, và đó không phải là những phẩm chất mà một xã hội được tiếng là năng động, cởi mở và tự do có thể dễ dàng coi thường”.


Bình tâm mà xét, trong nửa thế kỷ vừa qua, điện ảnh đã có những bước tiến khổng lồ, và ngày càng trở thành một nghệ thuật độc lập có những quy tắc xây dựng tác phẩm riêng của nó, có ngữ pháp riêng của nó, có thủ pháp thu hút khán giả riêng của nó. Do đó đã diễn ra hiện tượng sau đây:


1. Những tác phẩm văn học lớn như Hamlet của Shakespeare, Những người khốn khổ của Hugo, Chàng ngốc, Anh em nhà Karamazov của Dostoievski..., vì ý tứ quá phong phú, sâu xa, nên khi được dựng thành phim, cái hay bị mất mát rất nhiều, bộ phim vẫn phải dựa vào uy tín của tác phẩm văn học mới thu hút được khán giả, người đi xem phim chính vì đã thích thú đối với tác phẩm văn học từ trước, nhưng sau khi xem vẫn cảm thấy bộ phim không thể thay thế được cho tác phẩm văn học, nhiều khi còn thất vọng.


2. Những tác phẩm văn học như Những hy vọng lớn của Dickens, Kiêu hãnh và định kiến của Jane Austen, Người mang mặt nạ sắt của Dumas cha..., khi được thành phim không mất mát bao nhiêu mà còn được bổ sung thêm màu sắc, âm thanh mới, khiến cho nó càng chân thực, sinh động hơn, tuy nhiên bộ phim vẫn không thể hoàn toàn thay thế cho tác phẩm văn học, nhiều khi một mình ngồi đọc sách vẫn có cái thú riêng khác với khi xem phim, ti vi cùng với nhiều người, vì có thể sống trong không khí đặc biệt lúc đọc sách, bình tĩnh đem những cái tác giả diễn tả trong sách đối chiếu với những từng trải và tâm trạng của mình.


3. Những bộ phim dựa theo tiểu thuyết của John Grisham, Kim Dung, Quỳnh Dao, chất văn học và chất điện ảnh hòa quyện với nhau không có khoảng cách đáng kể. Có khi chỉ xem phim cũng đủ không cần đọc tiểu thuyết nữa, cũng như người ta chỉ cần xem phim mà không cần đọc những cuốn tiểu thuyết Titanic, Nô tỳ Isaura..., ngược lại sau khi phim đã chiếu người ta mới dịch và cho xuất bản sách để mong bán chạy.


4. Những bộ phim được coi là phim của đạo diễn, đạo diễn quyết định chủ đề và bố cục, kết cấu cũng như âm điệu, phong cách của bộ phim, kịch bản văn học chỉ là chất liệu trong bàn tay nhào nặn của đạo diễn. Không cứ gì trong lĩnh vực điện ảnh, ngay cả trong sân khấu, Firmier Gémier đã cho rằng: “Nhà dàn cảnh là chính kịch”. Antonin Arthaud cũng nói: “Tôi cho rằng sân khấu là một nơi hữu hình, cụ thể đòi hỏi người ta phải lấp đầy, phải để cho sân khấu nói lên ngôn ngữ cụ thể của nó.


Tôi nói rằng thứ ngôn ngữ cụ thể đó dành cho giác quan và độc lập đối với lời nói, trước tiên phải thỏa mãn giác quan đã, rằng có một thứ thơ cho giác quan cũng như có một thứ thơ cho ngôn ngữ, rằng thứ ngôn ngữ hữu hình, cụ thể mà tôi nói tới trên chỉ có tính chất kịch khi nào những tư tưởng mà nó diễn tả thoát khỏi ngôn ngữ nói. Thứ thơ này rất khó tả và phức tạp vì nó mặc muôn ngàn khía cạnh, trước hết nó bao gồm tất cả những phương tiện diễn tả có thể dung được trên sân khấu, như âm nhạc, tạo hình, bắt chước, hề, ngâm nga, kiến trúc, ánh sáng và trang trí”.


Điện ảnh và phim truyền hình còn ứng dụng nhiều phương tiện diễn tả hơn cả sân khấu. Từ năm 1920, Dziga Vertov đã xác định các nguyên lý của “điện ảnh - mắt”. Truyền hình cũng đã có những nghiên cứu về truyền thông “đa phương thức” (multi - médias), áp dụng nhiều phương tiện kỹ thuật kể cả vi tính, điện tử.


Tuy vậy, dù cho không trực tiếp đưa những tác phẩm văn học lớn lên phim, nhưng các đạo diễn vẫn phải dựa vào kịch bản văn học cũng như vay mượn chủ đề trong văn học. Còn về truyền hình thì như cuốn Văn hóa thế kỷ XX, Từ điển lịch sử văn hóa của Michel Fragonard (Bordas, 1995) đã viết: “Một số tiết mục phát hình và nhân viên dẫn chương trình được đông đảo khán giả quen thuộc (trò chơi, tạp kỹ), việc nâng cao sức hấp dẫn của các mẩu quảng cáo kiểu “video-clip”, cũng có thể xác lập được một thứ “văn hóa truyền hình”, đặc biệt là ở giới trẻ, nhưng cũng không dễ gì hòa hợp được với văn hóa truyền thống.


Nhưng qua sự hiện diện mọi nơi mọi lúc của truyền hình, đã thấy xuất hiện trong những năm 1980 nhiều thay đổi trong hoạt động truyền hình khiến cho các ứng xử văn hóa có nhiều biến động. Một số bắt nguồn từ những đổi mới về kỹ thuật: mở rộng phương pháp truyền hình cáp nên có thể gia tăng số lượng chương trình cũng như sử dụng các loại đầu viđêô trong gia đình, giải phóng khán giả khỏi các ràng buộc về giờ giấc và chương trình phát sóng, phương thức điều khiển từ xa được áp dụng rộng rãi. Một số khác liên quan tới những yếu tố đơn thuần văn hóa: hưởng thụ đến quá tải các hình ảnh khiến truyền hình dần dần trở thành nhàm chán và mất lòng tin ở người xem (trong bối cảnh diễn biến ý thức hệ quá phức tạp những năm 1980-1990), khán giả trước hết giảm hẳn niềm tin ở các buổi phát sóng về nội dung chính trị, sau đó ở cả những lĩnh vực khác), một thái độ hoài nghi như vậy đối với truyền hình đã tác động bất lợi ngay cả đối với bản thân ngành truyền hình”.


Tôi chú ý đến mấy chữ “hình ảnh quá tải”. Theo kinh nghiệm riêng, khi tôi xem phim, nếu những hình ảnh làm cho nhức mắt, thấy mệt hay buồn ngủ, thế là mất hẳn một đoạn, nhưng nếu tôi đọc sách, thì khi mệt có thể gấp sách lại nghỉ ngơi, sau đó đọc tiếp, hay đọc lại cả đoạn trên để hiểu rõ thêm ý của tác giả. Đọc sách còn có thể tự do tưởng tượng, mỗi người đọc có thể hình dung ra một Trịnh Sâm, Đặng Thị Huệ, Xuân Tóc Đỏ, Tuyết, Chí Phèo, Thị Nở... theo tưởng tượng bay bổng của mình. Đọc sách còn có cái thú tinh thần riêng. G. Lecomte nói: “Khiếu đọc sách là triệu chứng trưởng thành về trí tuệ, là dấu hiệu của sự cao quý, tinh tế”. Đọc sách lại có thể tự bồi dưỡng năng khiếu và thị hiếu thẩm mỹ của mình, chín chắn dần theo với lứa tuổi. Tôi tin rằng điện ảnh, truyền hình dù phát triển đến đâu chăng nữa cũng không thể giết chết được văn học, và cái thú đọc tiểu thuyết.


Gunter Grass nói: “Không gì có thể thay thế cho văn hóa đọc”.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh. NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »