tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682433
Lý luận phê bình văn học
24.07.2009
Hoài Anh
Phải chăng điện ảnh truyền hình giết chết tiểu thuyết

Hiện nay thanh niên ta có khuynh hướng thích xem truyền hình hơn đọc sách văn học. Có người cho đó là xu hướng tất yếu của thời hiện đại, như các nhà lý thuyết của chủ nghĩa hậu hiện đại phương Tây đã nói, trong thời hậu hiện đại, văn hóa nghe nhìn sẽ thay thế văn hóa đọc.


Không phải đến nay vấn đề ấy mới bùng nổ ra, mà ở phương Tây người ta đã tiên liệu được từ trước rất lâu, giải quyết về mặt nhận thức và đưa ra biện pháp khắc phục những hiện tượng thái quá và thiên lệch trong xu hướng thẩm mỹ nghệ thuật.


Ngay từ năm 1956, nhà nghiên cứu phê bình văn học Pháp René-Marill Albérès đã viết trong cuốn Tổng kết văn học thế kỷ XX: “Có lúc người ta đã sợ rằng điện ảnh và phát thanh giết chết “văn chương”; người ta cũng sợ cuốn sách nói và hình ảnh chạy, sẽ thay thế cho việc đọc sách. Căn cứ vào các con số thống kê, điều đó không đúng. Điện ảnh chỉ giết chết các cuộc họp vui ở làng. Có khi cuốn sách còn được tăng thêm phần quý giá do sự cạnh tranh của các nghệ thuật mới kia. Trịnh trọng đi “coi một cuốn phim hay” vẫn là sở thích của những người có kiến thức, trong đó phải kể những người dân Paris, họ có thể tự ý lựa chọn phim để coi. Còn ở tỉnh, trung bình mỗi tuần có sáu phim chiếu trên các rạp trong thị xã, thì thường là những phim thuộc loại bình thường. Như vậy, tuy rằng tỷ lệ sách tốt sách xấu cũng tương đương như tỷ lệ phim hay phim dở, ít ra người ta còn có quyền hoàn toàn tự do đặt mua những cuốn sách hợp sở thích; trái lại, người ta không thể đòi một rạp chiếu cho mình coi những phim theo sở thích.


Trong thực tế sự cạnh tranh giữa cuốn sách và cuộn phim không thể có: bởi vì cuốn sách có một tiếng nói và một âm điệu không thể thay thế được. Một bút pháp dầu hợp lý hay không, theo đúng ngữ pháp hay không, cũng là một hình thức của tiếng nói nhân loại, người ta có thể bỏ qua tiếng nói đó song không thể thay thế nó bằng tiếng nói khác được. Về phương diện này, người ta thường phạm một lỗi lớn khi nói đến “nhịp điệu” và sự mau lẹ của lối văn điện ảnh.


Thực ra, điện ảnh chậm chạp vô cùng trong sự kể chuyện và sự phân tích, và hình ảnh kể chuyện không thể nào mau bằng tiếng nói. Người ta hãy thử diễn dịch trọn vẹn ra hình ảnh cuốn truyện Ba người lính ngự lâm hoặc Đỏ và Đen mà không bỏ sót một đoạn nào: như vậy cuốn phim sẽ chiếu trong ba chục giờ mới hết. Các phim đã thực hiện theo các tác phẩm ấy đã đủ chứng minh điều đó, bởi vì những phim này đã phải tóm tắt và rút bớt câu chuyện rất nhiều. Người ta lại giải thích rằng điện ảnh có một “nhịp điệu” khác, và chỉ phỏng theo tác phẩm. Thực sự một giờ chiếu phim chỉ tương đương bằng mười phút đọc sách. Ấy là chưa kể rằng trong một giờ đó, cuốn phim đã phải rút gọn cuốn sách, và do đó không phản ảnh được đầy đủ giá trị cuốn sách...”.


Nhưng đến cuối thế kỷ 20, ở Pháp lại có nhiều tiếng kêu tiểu thuyết đang chết! Dịch giả Trần Hinh thuật lại:


“Tạp chí Lire trong một chuyên mục đặc biệt dành cho tiểu thuyết gần đây đã trương lên một cái “tít” mập mờ: - Phải chăng tiểu thuyết đã cạn kiệt?! (...)


Cuộc tranh luận chia thành hai phe rõ rệt. Một nửa trong số này bao gồm Marc Lambron, nhà văn, nhà phê bình văn học của tạp chí Point, Philippe Sollers, nhà văn, nhà phê bình văn học và xuất bản của tờ Le Monde, Michel Crépu, nhà văn, nhà phê bình văn học của tạp chí L’Express... thì nhất nhất trả lời với một vẻ ảo não: Tiểu thuyết khó ở, tiểu thuyết đang ốm nặng, thậm chí rất trầm trọng.


Các “đệ tử bi quan” này, mỗi người theo cách riêng của mình, đều giải thích hiện tượng trên bằng những nguyên nhân khác nhau. Michel Crépu cho rằng “Tiểu thuyết hiểu được câu đố của cuộc đời. Nếu như nó phản ánh, minh họa, nó sẽ không còn là tiểu thuyết”. Trong khi đó, suốt từ đầu thế kỷ đến nay, bắt đầu từ Proust, không ít nhà tiểu thuyết Pháp, đã cố khẳng định tiểu thuyết của thời đại mình không còn giống thời đại Balzac. Mối lo lắng này qua đi, mối lo khác lại hình thành. Trước tiên, vì phá hủy cốt truyện và nhân vật, tiểu thuyết đã mất dần đi độc giả. Vì vậy, chính họ lại đi đến nghi vấn: Phải chăng, do các nhà tiểu thuyết quá chú trọng ưu thế của hình thức so với nội dung, phải chăng, lỗi là ở chủ nghĩa cấu trúc? Hay là những trò chơi cực đoan của kỹ thuật? Marc Lambron diễn giải lý do dẫn đến sự lạnh lùng của độc giả đối với tiểu thuyết. Ông nửa đùa, nửa thật nói rằng: đó là lỗi của điện, ở thế kỷ XIX, khi chưa sáng chế ra điện, người ta đọc tiểu thuyết bằng nến, chưa có truyền hình, điện ảnh và các phương tiện điện tử khác, tiểu thuyết được đặt ở vị trí độc tôn... Rồi ông lại nói, là một phần ở các nhà tiểu thuyết mới, một phong trào do chính các nhà tiểu thuyết Pháp đề xướng hồi những năm 50, 60 của thế kỷ XX. Dạng tiểu thuyết “vật thể” này đã giết chết ham muốn của người đọc, vì trong khi họ muốn được biết nhân vật và câu chuyện, thì tiểu thuyết mới lại hủy bỏ nó. Hoặc nữa, sự khủng hoảng của tiểu thuyết hiện nay là do các nhà tiểu thuyết không muốn hoặc không dám đề cập những vấn đề lớn của thời đại. Ở thế kỷ XIX, Balzac tuyên bố “Nhà văn là thư ký trung thành của thời đại”. Lịch sử chấp nhận ông. Còn bây giờ, người ta không tìm thấy trong tiểu thuyết các sự kiện cấp thiết và kịp thời đang diễn ra ở Rwanda, Algérie, Israel hay Iraq, rồi cả vấn đề thất nghiệp và việc làm nữa... Truyền hình và các phương tiện truyền thông khác đã “nẫng” tay trên lợi thế này của tiểu thuyết (?).


Những lý lẽ được nêu ra trên đây, dưới cái nhìn của nhóm thứ hai, mà chúng tôi tạm gọi là “nhóm lạc quan” bao gồm Félicien Marceau, nhà văn François Nourissier, nhà văn, nhà phê bình văn học của tạp chí Figaro, đồng thời là chủ tịch Hội đồng trao giải Goncurt và Jean Claude Lebrun, nhà phê bình văn học của tờ Nhân đạo, lại không mấy thuyết phục. Họ cho rằng, những lý lẽ ấy chỉ là tư biện. “Nói về sự kết thúc của tiểu thuyết, chẳng khác gì nói những chuyện chẳng đâu vào đâu, không thuyết phục được ai”. Nhóm này không hoàn toàn phủ nhận tiểu thuyết hiện nay rõ ràng đang có “vấn đề”, nhưng theo họ đó là vấn đề của tất cả mọi hiện tượng trong quá trình phát triển. Tiểu thuyết Pháp đang phải chống lại một xã hội của những “trò diễn”, đối lập với một thứ tiếng Pháp đang bị đe dọa, nhà tiểu thuyết cần phải có khuynh hướng mỗi ngày một giản dị hơn. Đã qua rồi những bản “hùng ca”: Đi tìm lại thời gian đã mất kiểu Proust và những thám hiểm Hành trình đến tận cùng đêm tối kiểu Céline. Tiểu thuyết đang bị xã hội học làm cho mất đi tính hấp dẫn. Để tạo được tính hấp dẫn, tiểu thuyết cũng như nhà tiểu thuyết phải tạo được nét “đặc thù”. Nhà tiểu thuyết không giống nhà báo, nhà tiểu luận, nhà sử học, họ cũng không phải là con người của hiện thực. Không phải cứ nhất nhất nói rằng, cứ phản ánh hiện thực cập nhật, thì tiểu thuyết tồn tại. Félicien Marceau cũng nêu được những lý lẽ thuyết phục cho điều này. Tiểu thuyết Những người Chouans của Balzac, chỉ được viết ba mươi năm sau khi các sự kiện đã diễn ra. Nhà thờ Đức Bà Paris của V. Hugo thậm chí còn quay ngược lại lịch sử gần bốn thế kỷ vẫn hấp dẫn người đọc. Con đường xứ Flandre của Claude Simon xuất bản năm 1960, nhưng lại nói về các sự kiện diễn ra những năm 30-40. Vậy thì, vấn đề không phải ở chỗ, tiểu thuyết có phản ánh hay không những vấn đề cập nhật nó mới tồn tại. Trên cùng một vấn đề, ở mỗi thời đại sẽ có cách giải quyết khác nhau. Chẳng hạn, nếu trong tay các nhà tiểu thuyết hiện đại, bà Bovary của Flaubert thế kỷ XIX sẽ ly dị, chứ không thể chấp nhận một tình yêu tẻ nhạt như thế để rồi cuối cùng dẫn đến cái chết. Cha Goriot của Balzac cũng sẽ được giải quyết “về hưu” hoặc được xếp ở trong các trại dưỡng lão, không đến nỗi phải chết thảm hại trong sự thờ ơ, ghẻ lạnh của chính những đứa con ruột thịt của mình... Ở thế kỷ XIX tiểu thuyết là tượng trưng cho tiếng thét tự do, còn ngày nay, cái gọi là tự do này của tiểu thuyết, lại bị ngập trong tự do chung... Marceau đại diện của nhóm “lạc quan” cuối cùng đã đụng chạm đến một phần cốt lõi vấn đề tranh luận: Tiểu thuyết đã ở hồi kết thúc hay chưa? Không thể “hồ đồ” nói rằng đã đến lúc tiểu thuyết không cần nữa! Nhưng nó cần thiết và tồn tại như thế nào? Đó mới chính là điều quan trọng. Về vấn đề này, theo giáo sư Đặng Thị Hạnh, cũng trên tờ tạp chí Lire số mùa hè năm 1997, đã diễn ra một cuộc điều tra khá thú vị: “Sự kiện quan trọng nhất của thế kỷ XX là gì? Sự kiện vô nghĩa nhất là gì?”. Năm mươi nhà văn được hỏi thì thì có bốn mươi người trả lời, trong đó phần lớn đều cho rằng ba nhà cách tân lớn nhất thế kỷ XX là Proust, Kafka và Joyce. Nhưng một số khác lại cho rằng, sự kiện lớn nhất của thế kỷ là điện ảnh. Điện ảnh đã làm đảo lộn cái nhìn của chính nhà văn, đảo lộn cả thói quen của người đọc. Chính điện ảnh, truyền hình đã “giết chết tiểu thuyết...”.


Ai sẽ là trọng tài phán xét cho sự đúng sai của cuộc tranh luận này? Hãy cứ đợi vì không còn lâu nữa, sẽ kết thúc thập niên đầu của thế kỷ XXI. Mọi “dự báo” sẽ được sáng tỏ dần. Ta hãy cứ tạm tin như thế. Nhưng để kết thúc bài viết, tôi xin được dịch lại nguyên văn lời kết luận của Philippe Solles: “Chúng ta đang sống trong một xã hội bị thôi miên. Ai sẽ được đánh thức? Ai không? Căn phòng sẽ sáng sủa”.


Liệu đến thế kỷ sau, tiểu thuyết có còn độc giả không?


Đó là chủ đề cuộc gặp gỡ quốc tế của 56 nhà văn châu Mỹ La tinh ở Buenos Aires.


Một trong những nhà viết tiểu thuyết lớn của châu Mỹ La tinh, Uslar Pietri đã trình bày một tham luận lý thú về tiểu thuyết. Theo ông tiểu thuyết được tạo nên từ nhiều chất liệu: lịch sử, hiện thực, kinh nghiệm, tưởng tượng và thu hút những chất liệu mà các loại hình khác (thơ ca, chính luận), không dung nạp được, để trở thành nên thơ và không định nghĩa được. Mỗi nhà văn bắt đầu viết là sáng tạo ra một loại hình mới và chính đó là thứ bảo đảm cuộc sống lâu dài cho cuốn tiểu thuyết đó.


Có hai câu hỏi được đặt ra. Câu thứ nhất là phải tự hỏi: Tiểu thuyết dùng để làm gì?


Câu thứ hai: Khi đưa ra những phát minh và những tình tiết; những trực giác và những ảo vọng của mình, nhà văn tìm kiếm điều gì? Umberto Eco đã thử trả lời một cách đơn giản: Người ta chỉ tìm cách giải trí cho độc giả. Nhiều người khác thừa nhận là họ muốn giành lấy một phần nào việc nhận thức con người và thế giới xung quanh. Một số nhà văn khác lại mong muốn sáng tạo ra một tầm cỡ khác và tạo dựng nên một thế giới hợp lý, cũng chân thực như bản thân hiện thực. Một vài người khác lại thử tổ chức một quy mô mới với những từ, cũng xác thực như thời gian và bền vững như khát vọng của sinh vật.


Dù ý định của người này hay người khác như thế nào đi nữa, chúng ta cũng đứng trước sự thách thức của các phương tiện truyền thông đại chúng và phim ảnh phải chấp nhận sự thách thức này trong danh dự.


Thế kỷ Ánh sáng mang lại một cuộc cách mạng trong giáo dục. Sự ra đời của bản in đúc, giá giấy giảm và sự phát triển của giáo dục cao đẳng đã mở ra sự phát triển loại truyện đăng nhiều kỳ (feuilleton) và sự phong phú của tiểu thuyết.


Các công nghệ đã được triển khai và ta đã được chứng kiến cái mà Marshall McLuban gọi là sự mở rộng năng lực của các giác quan. Không một phương tiện thông tin nào lại đẩy một phương tiện khác ra khỏi vị trí: điện ảnh không thủ tiêu sân khấu, truyền hình không giải thể điện ảnh, viđêô không hủy bỏ truyền hình. Cũng vậy, ca kịch không thay thế ôpêra, ảnh không chấm dứt hội họa, truyền thanh không ngăn cản các diễn giả thuyết giảng, không ngăn cản các ban nhạc diễn tấu, báo chí không bắt buộc các nhà xuất bản sách đóng cửa. Mỗi thể loại đối đầu nhau buộc thể loại trước phải vượt qua chính mình và cả hai vẫn có giá trị.


McLuban nêu ra trường hợp Lamartine, người đã mù quáng dự đoán là vào năm 1830 báo chí sẽ chấm dứt nền văn hóa do sách phổ biến. Trên thực tế, chính thập kỷ sau đó tiểu thuyết đã phát triển mạnh nhất. Tại sao ta lại không chờ đợi sự dũng cảm như vậy của các nhà viết tiểu thuyết của chúng ta? Tại sao lại không tin là có thể đương nối sự ganh đua trong tương lai bằng trí tuệ?


Các ngôn ngữ mới sẽ quy định ngôn ngữ của tiểu thuyết thế kỷ thứ 21. Nghệ thuật bao giờ cũng có tính cách trò chơi: nó là một sự ngợi ca dẫn đến sự hiểu biết tốt hơn về con người và môi trường mà con người đang sống. Rõ ràng là Shakespeare tìm cách kiếm sống bằng cách mua vui cho khán giả. Lope de Vega cũng làm như vậy đầu thế kỷ Hoàng kim, Balzac cũng làm thế với các Feuilleton của mình.


Ngôn từ phải phục vụ cho cái nằm ngoài mọi sự thưởng thức, phát hiện cái bị che khuất, khoác bộ áo cho cái không có thân xác. Đấy là cách duy nhất để chống lại sự tấn công của hình ảnh. Tiểu thuyết thế kỷ thứ 21 sẽ chấp nhận sự thách thức của các phương tiện truyền thông đại chúng, chỉ ra ở đằng sau tấm gương có cái gì và quên đi hình ảnh phản chiếu.


Bài Vâng, nhưng đọc sách vẫn hơn của Thane Rosenbaum viết (Phúc Tự Thanh dịch) bàn về điện ảnh chuyển thể từ tiểu thuyết:


“Khi một bộ phim được dựng từ một tiểu thuyết danh tiếng, những độc giả nghiêm túc thường có khuynh hướng nói: “Vâng, phim rất hay, nhưng đọc sách vẫn thích hơn” (...).


Một công trình chuyển thể được khen là “trung thành” với tác phẩm văn học thì không chắc đã đáng khen về mặt điện ảnh. thành công nhất phải là cái gì đó giống như sự ngoại tình. Vâng, ở đây tự do phải được tôn trọng, mọi sự gian lận (tất nhiên phải hiểu là những thủ pháp sáng tạo) đều được đảm bảo quyền miễn trừ bị lên án. Môn bài nghệ thuật cho phép người nghệ sĩ có quyền thực hiện những cú nhảy lớn, tùy cảm hứng. Có những cái kết được thiết kế lại, các chu kỳ thời gian được dồn nén, và thậm chí có những nhân vật mới tinh được chào đời. Và một cách thông thường nhất, đó là lối kể chuyện với cấu trúc khác hẳn. Bất kỳ ai đọc Bệnh nhân người Anh trước khi xem bộ phim đoạt giải thưởng Viện Hàn lâm Điện ảnh Mỹ thì đều vô cùng ngạc nhiên về cách tác giả kịch bản phim đã xử lý cuốn tiểu thuyết nội tâm tuyệt vời này. Có thể nói, điện ảnh đã phát sáng một cách đúng lúc và rất huy hoàng.


Nhưng phim trường cũng rất biết cách để hy sinh bớt nhưng cơ hội khi hiểu đó không phải sở trường của mình. Những hiệu ứng dàn cảnh, tăng giảm tiết tấu, chia nhỏ màn hình hay chồng chất các lớp diễn... tất cả đều để tạo ra những khoảnh khắc nghe nhìn không thể dễ dàng mô tả bằng văn xuôi, thậm chí kể cả khi độc giả giàu trí tưởng tượng nhất tái mường tượng thì họ cũng khó hình dung ra nổi. Những thủ thuật này có thể để tăng tính hấp dẫn cho phim, nhưng trong phần lớn trường hợp chúng thường để lại những ấn tượng xúc cảm rất sâu đậm.


Điện ảnh đòi hỏi được tha thứ khi kịch bản phim hy sinh những nhân vật phụ không cần thiết, bởi dù họ rất hợp trong khung cảnh tiểu thuyết, nhưng lại làm cho các khuôn hình bị rối. Đôi khi nhiều nhân vật nhỏ được kết hợp lại để tạo nên một nhân vật lớn. Trong những trường hợp khác, các nhà làm phim có thể thay đổi về mặt địa lý bối cảnh câu chuyện.


Như Chekhov từng một lần tâm sự thân mật, nếu có một khẩu súng trong cảnh I, thì cần phải có tiếng nổ ở cảnh II hoặc đâu đó. Khẩu súng ở đây là điện ảnh vậy (xin đừng hiểu lầm rằng tôi đang muốn kết liễu một ai đó). Khi đã phải làm phim thì dứt khoát nó phải có cái gì khác tiểu thuyết, thậm chí càng nhiều càng tốt. Hãy thử tưởng tượng những độc giả đã từng đọc văn chương, liệu họ có thích đến rạp chỉ để xem người ta kể lại những điều đã biết?


Còn nữa, trong tiểu thuyết, mọi kiểu đạo cụ đều có thể được phô bày lên trang giấy, nhưng lại không phải tất cả đều được dọn dẹp. Không phải mọi cái kết lỏng lẻo của tiểu thuyết đều cần phải thít chặt lại. Trong khi đọc, độc giả nhiều lúc có thể tha thứ cho sự tối nghĩa, cái lôgích thông thường khó lòng chiếm thế độc tôn trong văn học hiện đại. Vậy thì điện ảnh có nên (và có thể) cắm cổ theo đuổi văn học không?


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh. NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử - Triệu Xuân 31.05.2017
Truyện Dị sử của Ngọc Toàn - Triệu Xuân 31.05.2017
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
xem thêm »