tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18980887
Lý luận phê bình văn học
23.07.2009
Hoài Anh
Bùi Hiển tuổi "sương chiều" còn "ngơ ngẩn mùa xuân" (2)

Tiếp đó, viên kỹ sư kể một chuyện truyền thuyết Anbani. Ba anh em đang hùn sức xây một ngọn tháp nhằm canh phòng bọn cướp Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng cứ mỗi lần ba anh em thành công kha khá, đắp được một búi cỏ lên tầng mái thì đến đêm gió và bọn phù thủy núi rừng lại đánh đổ cái tháp đi. Những người dân quê Xécbi, Anbani hoặc Bungari một mực tin rằng tai họa này là do nguyên nhân: xây một tòa nhà, muốn cho nó khỏi sụp đổ thì phải lo yểm vào chân nền một người đàn ông hoặc đàn bà để bộ xương người này nâng đỡ cái khối thịt bằng đá kia đến muôn đời. Người anh cả bảo hai em, sáng sớm tinh mơ ngày mai, nếu vợ của người nào trong số ba anh em đưa thức ăn đến cho họ, thì sẽ bắt người vợ đó đem chôn vào chân nền tháp. Anh cả yêu cầu hai em giữ im lặng lấy một đêm và chớ có ôm ấp người phụ nữ với quá nhiều nước mắt và tiếng thở dài. Người anh cả giữ im lặng, vì vốn ngấm ngầm thù ghét vợ, cứ muốn tống khứ để cưới một cô gái Hy Lạp xinh đẹp có mái tóc hung. Thế nhưng anh ta có tật hay nói mê nên đã để lộ ra âm mưu của mình trong khi ngủ mê. Anh hai muốn cứu vợ bằng cách bắt vợ ngày mai sớm tinh mơ bê rổ quần áo ra hồ và ở lại cho đến đêm để giặt giũ tất cả cho mình. Vợ anh cả và vợ anh hai đều kiếm cớ đùn việc mang thức ăn cho vợ người thứ ba, thế là cô bị bắt chôn vào chân nền tháp. Nhưng trước khi chết, cô yêu cầu mang con mình đến chỗ khe hở của bức tường đang xây để cô cho con bú.


Truyện Nhà thờ Đức bà chim én của Marguerite Yourcenar (Bùi Hiển dịch) kể chuyện một bầy nữ yêu trong hang hiện ra trêu đùa người sống, ông thầy tu Thérapion nghĩ ra cách xây một cái nhà thờ be bé dựa vào sườn đồi, án lấy miệng hang. Tin rằng đám nữ yêu trần truồng sẽ không dám tìm cách thoát bằng cách luồn qua nơi thánh thiện mà ông đã dâng lễ, rảy nước phép và đặt tượng Chúa Jésus chịu khổ nạn. Cuối cùng Đức Bà hiện ra trong hình dạng một phụ nữ bình thường, hóa phép biến nữ yêu thành chim én. Bầy chim én cứ hàng năm trở về bay qua bay lại trong nhà thờ, bận rộn nuôi con hay củng cố ngôi nhà đất thó của chúng.


Bùi Hiển thích dịch truyện của Marguerite Yourcenar vì hẳn ông cũng chia sẻ quan niệm của nhà văn nữ Viện sĩ Hàn lâm Pháp này khi bà sử dụng truyền thuyết để viết những truyện có ý vị triết lý như: Aleocis hay hiệp ước của cuộc chiến vô vị (1929), Hồi ký của Hoàng đế Hadrien (1951), Giai đoạn luyện chất cuối cùng (1968) và Cái đạo bảo mệnh của Vương Phật, sử dụng một truyền thuyết Trung Quốc về một họa sĩ già đã dùng phép thần kỳ thoát khỏi tay tên bạo chúa định giết ông sau khi hoàn thành bức tranh vẽ theo lệnh hắn. Khi có điều kiện để nói thực lòng, Bùi Hiển đã viết bài hồi ký văn học Man mác chiều sương đăng tạp chí Văn số 26, tháng 6-1993.


“Nhân vật ông lão chài trong Chiều sương vốn có nguyên mẫu là ông dượng tôi (chồng chị ruột bố tôi). Thỉnh thoảng lúc còn ở làng, tôi đến thăm ông, và ông cho tôi làm quà ăn tại chỗ như ăn kẹo, vài con cá trích khô (cá trích luộc ngay ngoài khơi với nước biển rồi phơi nắng), nhai thong thả thấy mằn mặn bùi bùi, tựa như khô mực. Chính vào một chiều sương giữa giêng hai man mác đượm buồn như thế, ông đã kể chuyện ma theo lời tôi gợi ý: Mới xế chiều, sương bỗng tỏa mù trời dưới cái nồng gắt ban trưa của nắng mới đã ùa vào đất liền. “ Trời không lạnh lắm, nhưng hơi sương ngấm vào mình; chàng trai lẳng lặng trong tâm hồn buồn, cái buồn tê tái và mang mang, cái buồn ôm trùm, như kết bằng những sầu thảm nào mơ hồ và đã xa xôi lắm, tưởng tượng hay là thực, chàng cũng không biết nữa. Hơi ấm đọng trên mi, chàng tưởng nước mắt rưng rưng”.


Dượng tôi kể chuyện ma chài mà như kể chuyện về người thật đang sống giữa dương gian, hơn nữa, như kể về những người bạn chài hiền hòa thân thiết. “Tuy đã tìm thấy cái chết trong tai ương bi thảm dữ dội – chàng trai trẻ là tôi lúc bấy giờ lắng nghe và suy ngẫm – không phải bao giờ hồn họ cũng ngậm giữ oán hờn, họ còn biết nghịch ngợm đùa trêu người sống” và “mấy chú ma hồn của những người dân chài bỏ mình trong bão tố, trở về ngồi lặng lẽ trên mạn thuyền, chắc hẳn chỉ để tìm lại chút hơi ấm cuộc đời vì cảm thấy lòng biển quá mênh mông lạnh lẽo”.


Từ chỗ nhà bố mẹ tôi xây mấp mé bờ sông Hào có nước thủy triều ngày càng lên xuống theo nhịp điệu vô cùng đều đặn, đi vài trăm mét là đến chân núi Rồng (quê tôi gọi là “Rú Rùng”) đứng ở chênh vênh sườn núi đã nom thấy cửa lạch rất gần, mở ra cái toàn cảnh của biển khơi, với cái sắc màu đổi thay thay đổi tùy thời tiết và thời gian của ngày, lúc xám nhạt hoặc rực rỡ ánh vàng, lúc tím biếc, lúc xanh ngăn ngắt. Không ít lần trong tôi bất giác ngân nga lên một đoạn trong Cung oán ngâm khúc, nhập tâm từ lâu (do đọc trong Văn đàn bảo giám, nhất là hai câu “Sóng cồn cửa bể nhấp nhô, Chiếc thuyền bào ảnh thấp tho mặt ghềnh”). Câu thơ mang đầy tính triết lý bi quan về thân phận con người giữa vũ trụ. Lâu về sau tôi biết thêm một câu của Pascal cũng mang ý nghĩa tương tự: “Chúng ta đã được đưa xuống thuyền”. Nhưng thời bấy giờ, ở tuổi mười tám đôi mươi, tôi chưa hề chú ý để cái âm vang triết lý mung lung, thắc thỏm hàm chứa trong những từ “nhấp nhô”, “bào ảnh” (cái bọt và cái bóng), “thấp tho”, “mặt ghềnh”, mà chỉ cảm thụ chủ yếu về hình thức nghệ thuật – nếu có thể nói thế – qua nhịp điệu và hình ảnh câu thơ và cả đoạn thơ Nguyễn Gia Thiều đan thêu trên một vốn ngôn từ giàu có cực kỳ, vừa hết sức “tinh luyện” và đài các (như nhà phê bình Nguyễn Lộc từng phân tích), vừa gợi một âm hưởng buồn buồn nhưng vỗ về êm ái, cứ như một lời ru (theo tôi nghĩ).


Sở dĩ như thế vì lúc bấy giờ, nhân quan của tôi về cuộc sống đang có những khía cạnh riêng, khác biệt trong nhận thức. Do sống cạnh những người dân chài, tôi nhận thấy tâm sinh lý họ phần nào khác với những người dân đồng ruộng. Nói chung họ khỏe mạnh, vạm vỡ, nói rất to (ăn sóng, nói gió), cười rất lớn, cuộc đời vật lộn với sóng gió bão táp tạo cho họ một ý chí kiên cường, khung cảnh sống giữa biển khơi khoáng đạt hình như cũng tạo cho họ tính phóng khoáng vô tư, lạc quan yêu đời (theo cái kiểu giản đơn thô lậu của họ).


Người nông dân cần cù trên đồng ruộng, cày bừa, gieo mạ, tát nước, bón phân, nhổ cỏ v.v... tiếp đó là cảnh nông nhàn, đợi cho lúa chín đều, từ màu xanh ngả sang màu vàng sậm thì gặt hái. Còn người dân chài nếu may mắn được mùa biển, chỉ vài ba lần chiều lưới là cá đầy khoang, giong buồm rẽ sóng vèo vèo trở vào bến, như một cuộc thắng trận tưng bừng. Trong “Chiều sương” tôi đã tả một chiều lưới như vậy, lao động khẩn trương nhộn nhịp, đầy khí thế, do đã có vài lần tôi theo thuyền ra khơi đánh cá. Thiên nhiên đối với họ thật hào phóng. Đúng là “của trời cho”.


Nhưng cũng chính cái thiên nhiên ấy đôi khi lại tỏ ra vô cùng khốc liệt, bỗng dưng nổi giận đùng đùng, dấy lên cơn bão tố. Hãy tưởng tượng một chiếc thuyền gỗ mỏng manh, chơ vơ như chiếc lá tre giữa mênh mông trời biển, bị táp đánh tứ phía bởi những ngọn sóng dữ dằn, không hề có đồng loại chung quanh để hòng cứu trợ. Và nếu xảy ra cái chết, đó là cái chết hoàn toàn câm lặng, không một ai chứng kiến, không một người thân thích chung quanh, không lễ lạt tang ma, cũng chẳng có nấm mồ nào khác hơn là đáy biển.


Từ xưa đến nay, dân làng chài tôi cũng như dân các làng chài quanh vùng đã hứng chịu bao nhiêu tai ương như vậy (phải nói ngày nay, nhờ có dự báo thời tiết, những trường hợp bất ngờ gặp bão tố ngoài khơi đã hạn chế được nhiều). Càng vô cùng cảm kích là cảnh tượng sau một cơn bão chết người hại của, các bác dân chài lại bình thản ôm rương xuống thuyền, giong buồm rẽ sóng ra khơi, thầm kỳ vọng một ân huệ mới của biển trời, có tính chất đền bù an ủi (vì theo kinh nghiệm lâu đời, trước và sau bão đều đánh được nhiều cá).


Tôi đoán rằng trong tâm khảm họ, ngoài sự bức thúc và kế sinh nhai, còn phảng phất một ý niệm siêu hình (tất nhiên không thật tự giác) về cuộc sống, về nhân sinh vũ trụ. Thiên nhiên đôi khi dữ dội và phá phách tàn bạo, nhưng nói chung là hào hiệp khoan hòa, có lòng chăm chút ân cần cho sự sống còn của mọi sinh vật, kể cả con người, cái kết thúc bạo liệt, bất đắc kỳ tử là hãn hữu, sự tồn tại mới là quy luật phổ biến vĩnh hằng. Có một sự hòa đối, một thế cân bằng, một trật tự vĩnh cửu nào đó hằng chi phối trong vũ trụ. Cho nên cũng có một thế cân bằng, thậm chí một sự hòa hợp nào đó giữa cái sống và cái chết. Vậy không cần quan tâm nhiều lắm đến cái sống và cái chết, nên cứ sống tự nhiên, thanh thản và chú ý vun bồi cho sự sống. Và cũng có một sự vấn vít nào đó giữa hai cõi âm dương. Người chết chỉ là người sống không còn tồn tại dưới dạng vật chất. Ma ư, ma vốn không phải ác nghịch, nói cho đúng, không ác cũng không hiền. Chỉ là do có người hiền người ác mà thôi. Trong “Chiều sương”, các chú ma chài trêu đùa người sống tí cho vui, để có cái vui thích mình còn biết nghịch ngợm thân tình với người đang sống. Chiếc thuyền ma có ý kéo chiếc thuyền bạn vào ghềnh đá, không phải chủ tâm muốn chơi ác, chơi khoảnh, mà có lẽ chỉ muốn rủ thêm dăm ba bạn đồng hành, đỡ cô đơn trên đường đi vào cõi âm gian mênh mông thăm thẳm.


Nói dân chài, ta hình dung những con người vạm vỡ chắc nịch, nói to, hò hét lớn át lên sóng gió trong lúc giương buồm, kéo lưới hoặc trong cơn bão tố hiểm nghèo. Hình ảnh ông dượng tôi ngược hẳn lại. Có lẽ do tuổi già, ông không còn vạm vỡ, chỉ còn săn gân và bàn tay rất to, đầy mấu, còn lời ăn tiếng nói chậm rãi, từ tốn của ông thì có thể là bản tính vốn có từ lâu. Cứ như là ông đã thấm nhuần hơn nhiều người khác cái quan niệm nhân sinh vũ trụ hiền hòa, nhân hậu như vừa miêu tả trên kia”.


Nhà khoa học Einstein, cha đẻ của thuyết tương đối nói: “Cảm xúc đẹp nhất mà con người có thể có được là cảm xúc thần bí, nó là mầm của mọi nghệ thuật và mọi khoa học chân chính”. Nhà triết học Heidegger phân tích rõ hơn: “Tâm hồn thản nhiên trước sự vật và tâm trí mở ra trước huyền nhiên bí mật”.


Tâm hồn thản nhiên thẩm thắn vật thể trong khi tâm trí lại cao vọng nắm bắt vật thể với hy vọng mô phỏng vóc dáng kỳ vĩ hoặc tái sinh lại chúng. Vượt lên thân xác tâm trí còn tham dự vào bộ tham mưu của tâm linh để tự quyết về khả năng lãnh hội vật thể cũng như tái sáng tạo hình ảnh của vũ trụ. Đó là trí năng có khao khát khám phá huyền nhiệm bí mật của vũ trụ. Nhà triết học William G. Burgh nói: “Con người trên tất cả mọi vật là siêu hình học, đó là một lý tưởng đang hình thành và cũng là động vật. Nó tìm kiếm nguyên nhân ở mọi nơi trong lịch sử, trong tự nhiên và cơn khát của nó chẳng bao giờ dịu đi cho đến khi nó tìm ra sự thật”. White Head nói: “Mọi suy luận không trông dựa vào siêu hình học đều có tính cách khiếm khuyết”. Spinoza cho rằng: “Trực cảm là nguồn gốc của lầm lạc”. Con người sống giữa hai thực tại: thực tại chất thể và thực tại tinh thần. Brunochwicg nói: “Thực tại là tinh thần”. David Hume nói: “Siêu hình học thực sự là khoa học của tinh thần nhân loại”.


Trong Chiều sương, Bùi Hiển đã bước đầu có cảm thức siêu hình, quan tâm đến vấn đề cuộc đời là gì, cuộc đời là cuộc đời hay là cả bí nhiệm về cuộc đời, cuộc đời là đời sống hay là cả cái chết, cuộc đời là con người hay toàn thể vũ trụ này chứ không chỉ dừng lại ở thực tại hay thiên về lịch sử thuần túy.


Bùi Hiển không chịu nhận mình là nhà văn hiện thực phê phán. Trong bài Khát vọng với những trang viết (tập Nhà văn nói về tác phẩm), ông viết: “Nhân vật của tôi trong hàng loạt truyện ngắn là những con người có thật trong cuộc sống quanh tôi. Đó là kết quả của sự quan sát chân thực và tự nhiên. Bây giờ tôi chưa có ý thức rõ về chính trị. Tôi cũng muốn trở thành một nhà văn hiện thực. Đi theo xu hướng lãng mạn thì tôi đã có kinh nghiệm xương máu rồi, cũng có người như anh Vũ Ngọc Phan xếp tác phẩm của tôi vào loại “tiểu thuyết phong tục”. Có lẽ đối với mỗi tác phẩm văn học cái vĩ đại thường không phụ thuộc vào việc nó thuộc xu hướng trào lưu nào. Các nhà văn lớn trên thế giới, ranh giới ảnh hưởng của các khuynh hướng trái ngược rất khó xác định. Tôi chỉ đơn thuần muốn phản ảnh con người quê tôi đúng như họ có. Người dân vùng biển có nhiều cái kỳ lạ lắm, sau này thoát ly, có điều kiện quan sát và sống với nông dân các vùng khác tôi càng nhận rõ điều đó. Tất nhiên ở đâu họ cũng vẫn nghèo, vất vả. Họ cũng không có nhiều trăn trở riêng tư như lớp tri thức. Đối với người dân chài, thiên nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến dáng vẻ và tính tình của họ. Biển cả dữ dằn và phóng khoáng đã tạo cho dân biển khí chất quật cường và một nhân sinh quan khỏe khoắn. Có thể nhận thấy rõ điều ấy khi nhìn ngắm họ. Nhiều người cho rằng cách miêu tả của tôi có đường nét tạo hình và cách giải quyết đôi khi dữ dội như trong truyện Thằng Xin. Tôi cảm thấy hài lòng vì đó chính là cái riêng biệt của con người quê tôi – những ngư dân xứ Nghệ mà trước đó đã vắng mặt trên văn đàn. Cách làm ăn, suy nghĩ và ngay cả đời sống tâm linh của họ cũng vậy. Tôi muốn nói đến một điều trong Chiều sương – hình ảnh những con ma vật lộn với sóng gió, tai họa, những cái chết bi thảm là điều không tránh khỏi đối với số phận những thuyền gỗ thô sơ. Ở nơi đây giữa cõi sống và cõi chết nương nhau vấn vít. Những câu chuyện mang màu sắc ma thuật rất phổ biến. Tôi muốn nhấn mạnh rằng ma thuật chứ không phải ma quỷ. Ma quỷ nghe nó độc ác và hay phá rối. Những con ma biển hiền lành hơn nhiều. Đó là những dân chài tuy chết trong tai ương nhưng oan hồn không ngậm giữ oán hận; họ cũng nghịch ngợm, trêu đùa người sống nhưng không làm hại ai. Những con ma hiện về như muốn tìm lại hơi ấm cuộc đời vì lòng biển quá mênh mông lạnh lẽo. Sự có mặt của ma biển không gây trở ngại gì chỉ làm phong phú thêm cho đời sống tinh thần ngư dân. Có bạn đọc nói với tôi: “Phải chăng Bùi Hiển muốn dùng hình ảnh những con ma – một đại diện trường tồn để nói đến tính cách: đùa cợt, hiền lành như là đặc điểm dị thường của con người nơi đây?” cũng là một cách hiểu.


Tôi thích nhìn vào tính chất đa diện của hiện thực. Mặc dù con người có nhiều điều khổ cực thiếu thốn trong xã hội nhưng họ vẫn có những niềm vui tự tạo trong gia đình lao động và xóm làng. Nhất là người dân biển, buộc phải kề vai sát cánh bên nhau để đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt. Tôi đã từng hòa nhập với cách sống ấy. Bên họ dường như tôi cũng phần nào hiểu thêm về tính cách con người Việt Nam, một nét riêng trong tâm lý, trong cốt cách lạc quan, đôn hậu và tình nghĩa của sinh hoạt hợp quần. Thực ra nếu vắng những tiếng cười ấy con người làm sao có thể sống nổi. Tôi muốn miêu tả cuộc sống bằng cái nhìn thiện cảm, thân thiết và một nụ cười vui. Nhân vật Năm Xười là một mẫu người có thật ở quê tôi: tính tình xởi lởi, nhiệt tình với bà con lối xóm đôi khi gần với tọc mạch nhưng là một thái độ rất thiện chí. Người con gái trong Ma đậu có một duyên phận hẩm hiu. Người chồng hơi ngớ ngẩn và vụng về. Và như thế là đã có sự can thiệp của trò đùa Năm Xười. Đây chính là chuyện từ nhiều cuộc sống. Và tôi muốn chọn chính điều này để viết, không nhất thiết là phải luôn tìm mọi chuyện để phê phán. Nói tóm lại tôi có lòng yêu mến thực sự những con người lao động ấy và có phần nào hòa nhập với quan niệm sống của họ. Khi nhìn vào những mặt yếu kém, tôi cũng chỉ dùng giọng châm biếm nhẹ nhàng xen lẫn cảm thông. Đó là những nét tính cách gắn với bản chất con người (mà chính tôi cũng có).


Những ngày làm công chức tôi có lần theo đám bạn rủ rê tới các cô đầu, ả hát. Cảnh phấn son, phù phiếm tạm bợ không che nổi cuộc sống bẽ bàng nhem nhuốc đã làm tôi phải suy nghĩ và trong số những người có mặt tại cuộc chè chén này, trong những gương mặt cố trưng ra vẻ thỏa mãn, no đủ này, tôi tự hỏi liệu ai có thể có niềm vui đích thực. Đó là một đêm rã rời thực sự trong cuộc đời tôi. Tôi đã viết Cái dọc tẩu với những suy nghĩ nặng nề về sự chán chường của người trong cuộc.


(còn tiếp)


Hoài Anh


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 26.04.2017
Nhân tính và nhân phẩm trong tập truyện Ký thác của Bình Nguyên Lộc - Vinh Lan 25.04.2017
Lời trong đời sống và trong thơ - Voloshinov 22.04.2017
Nỗi đau trong văn chương - Trần Đình Sử 22.04.2017
Hai cách đọc bài thơ Khiển hoài của Đỗ Mục - Hà Văn Thùy 21.04.2017
Đồng thuận xã hội - Một số vấn đề lý luận - Chu Văn Tuân 18.04.2017
Nguyễn Đăng Na và những thành tựu nghiên cứu văn học trung đại - Trần Đình Sử 05.04.2017
Những giới hạn của lý thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam - Trương Đăng Dung 31.03.2017
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
xem thêm »