tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21078146
Lý luận phê bình văn học
22.07.2009
Hoài Anh
Nhu cầu nghiên cứu & giảng dạy thi pháp (2)


 


Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài rõ ràng có chịu ảnh hưởng của truyện cổ tích Việt Nam và những truyện cổ Grimm Andessen nhất là những cuốn Gulliver phiêu lưu ký của Swift, Télémaque phiêu lưu ký của Fénélon đã được nhóm Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra tiếng Việt trong bộ Âu Tây tư tưởng. Do đó có thể xác định Dế mèn phiêu lưu ký thuộc thể loại truyện đồng thoại.


Dẫu có ảnh hưởng văn học nước ngoài nhưng tài năng của Tô Hoài là ở chỗ cuốn truyện được viết một cách hết sức Việt Nam.


Thi pháp tiểu thuyết của Tô Hoài cũng như Nguyên Hồng đã định hình ngay từ trước Cách mạng Tháng Tám, cho nên sau đó, mặc dầu phương pháp sáng tác có thay đổi nhà văn vẫn không bận tâm lắm đến việc thay đổi thi pháp mà chỉ mở rộng và đào sâu thêm, cũng như không bận tâm lắm đến việc học tập cách viết của các nhà văn nước ngoài mà chủ trương “Hãy viết theo ý mình thích. Không giống ai càng hay. Bản thân khái niệm thế nào là truyện ngắn cũng do người viết phê bình dựa trên sáng tác của các nhà văn mà đặt ra chứ có phải họ nghĩ ra đâu. Cứ viết, không có khuôn nào hết” (ý kiến của Tô Hoài trong báo Văn Nghệ các số 218, 219, 223... năm 1967 được Vương Trí Nhàn tóm tắt lại trong Sổ tay truyện ngắn).


Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, ngoài việc tiếp thu có phê phán, chọn lọc những tinh hoa của văn học Việt Nam từ Truyện Kiều của Nguyễn Du đến tiểu thuyết trước Cách mạng Tháng Tám còn chịu ảnh hưởng của văn học Pháp từ Balzac đến Roger Martin du Gard, văn học Nga từ Lev Tolstoð, cho đến Aleksay Tolstoð... Nhưng có lẽ ảnh hưởng sâu đậm nhất là từ tiểu thuyết của Lev Tolstoð như Chiến tranh và hòa bình, Anna Karenina. Trong cuốn Công việc của người viết tiểu thuyết, Nguyễn Đình Thi đã nhiều lần đưa Lev Tolstoð ra làm dẫn chứng cho quan niệm của mình về tiểu thuyết. Nghiên cứu thi pháp của thể loại tiểu loại toàn cảnh - sử thi, không thể không đề cập đến Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi với tất cả những mối tác động qua lại nằm trong bản thân cấu trúc của nó, từ ảnh hưởng của Truyện Kiều đến Chiến tranh và hòa bình đối với Vỡ bờ.


Trường hợp Nguyễn Khải lại có khác. Khi viết Xây dựng, cùng một thời kỳ với Võ Huy Tâm viết Vùng mỏ, Nguyễn Khải cũng đã sử dụng cùng một biện pháp nghệ thuật như Võ Huy Tâm tức là viết theo kiểu “tiểu thuyết tập thể”, nhưng Nguyễn Khải không thành công bằng Võ Huy Tâm trong lĩnh vực này, nguyên nhân vì Nguyễn Khải thiếu vốn sống chân thực đến từng chi tiết về người lao động như của Võ Huy Tâm, cũng như cảm giác có tính chất vật thể của nhà văn xuất thân công nhân này. Khi viết Người con gái quang vinh về nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi, cùng một thời kỳ với Nguyên Ngọc viết Đất nước đứng lên, Nguyễn Khải cũng sử dụng cùng một biện pháp nghệ thuật như Nguyên Ngọc tức là viết theo kiểu truyện “người thật việc thật” có hư cấu, nhưng Nguyễn Khải không thành công bằng Nguyên Ngọc trong lĩnh vực này, nguyên nhân vì Nguyễn Khải thiếu chất lãng mạn bay bổng, cảm hứng sử thi kết hợp với trữ tình như Nguyên Ngọc. Mãi đến khi viết Xung đột, Nguyễn Khải mới tìm được cách viết phù hợp với cái tạng của mình, tức là kiểu tiểu thuyết xã hội - luận đề kết hợp với tính chất châm biếm, cách viết ấy Nguyễn Khải đã sử dụng trong tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm mới đây.


Cũng vì không nghiên cứu dưới góc độ thi pháp nên mới có nhà phê bình đòi hỏi Nguyễn Khải phải tăng chất trữ tình trong tác phẩm phải mê chứ đừng tỉnh quá, cũng như phải thêm nhiều nhân vật chính diện, tích cực tiêu biểu cho nhiều thành phần giai cấp trong xã hội. Lại cũng có nhà phê bình cho rằng trong sáng tác Nguyễn Đình Thi đã có sự lẫn lộn giữa các thể loại, tiểu thuyết giống như thơ, thơ giống như lý luận, kịch lại giống như tiểu thuyết; mà không thấy rằng một nhà văn có thể vận dụng rất nhiều thủ pháp cốt để chuyên chở tư tưởng của mình một cách hiệu quả nhất. William Faulkner đã tâm sự: “Người cầm bút nào cũng mong muốn được là thi sĩ. Thất bại rồi họ mới viết truyện ngắn, tức là loại sáng tác mà sau thơ ca, đáng kể vào thể loại văn học khó viết nhất: Nếu vẫn chưa thành công, họ mới viết tiểu thuyết”. Việc Nguyễn Đình Thi đi từ thơ, sang truyện ngắn rồi tiểu thuyết rồi lại đến kịch là phù hợp với quy luật vận động của tư tưởng của bản thân nhà văn. Thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch chỉ là những hình thức chuyển tiếp qua đó nhà văn thể hiện những vấn đề mà mình quan tâm, tình cảm và tư tưởng của mình, đồng thời bộc lộ tâm hồn mình. Tiểu thuyết của Faulkner tuy dựng nhiều nhân vật khác nhau trong xã hội mà có nhà phê bình còn cho rằng: “Tác phẩm của ông là một loại nhật ký của sự giày vò nội tâm của chính ông, một thiên tự truyện viết vội vã, của một người cho thấy rõ mối tranh chấp giữa thiện chí và lòng trung thành của người đó”. André Malraux lại cho rằng tiểu thuyết của Faulkner là “bi kịch Hy Lạp ở trong tiểu thuyết trinh thám”.


Các nhà văn tự mệnh danh thể loại của mình chứng tỏ họ không bận tâm lắm đến ranh giới giữa các thể loại bằng bản thân vấn đề được nêu ra. Ngô Thừa Ân gọi tiểu thuyết chương hồi của mình là Tây du ký trong khi Ngô Kính Tử gọi là Nho lâm ngoại sử. Nguyễn Công Hoan gọi những truyện ngắn buổi đầu của mình là Xã hội ba đào ký cũng như Balzac gọi toàn bộ tiểu thuyết của mình là Hài kịch nhân gian. Chekhov dùng chữ comédie để gợi những vở kịch không lấy gì làm vui vẻ của mình. Turgernev gọi tên tác phẩm của mình là Bút ký của người đi săn, mặc dù có thể coi đó là một tập truyện ngắn. Gogol gọi Những linh hồn chết là trường ca, mặc dầu viết bằng văn xuôi.


Aimatốp gọi Con tàu trắng là tiền thần thoại. Xuân Diệu gọi tập Phấn thông vàng là tập truyện ngắn, hơn nữa Phấn thông vàng mang nhiều tính chất tùy bút hơn Vang bóng một thời cũng như Vang bóng một thời mang nhiều tính chất truyện ngắn hơn Phấn thông vàng. Nguyễn Tuân không thấy cần thiết phải phân thể loại tác phẩm của mình trong khi Lỗ Tấn lại có ý thức phân chia thành truyện ngắn cố sự, tạp văn tạp cảm, hồi ức, thơ văn xuôi... tiểu thuyết đặc tả, báo cáo văn học.


Thời cổ Hy Lạp; người ta chia văn học ra làm ba thể loại chính: kịch, tự sự và trữ tình. Trong ký có thể vừa có chất chính luận vừa có chất trữ tình. Trong văn học hiện đại có hiện tượng “cộng sinh” giữa các yếu tố đó, cho nên muốn chia thể loại phải dựa vào đặc điểm nổi trội nhất mang tính chất “di truyền” của nó, để xác định một cách tương đối nó thuộc thể loại nào. Lại phải chú ý đến tính chất kiến nghị của nó. Trong hoàn cảnh đặc biệt của văn học nước ta giai đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, thể loại ký, truyện ngắn hết sức phát triển, đó là do đặc điểm của tình hình quy định. Nhưng từ đó đi tới chỗ muốn quy định rạch ròi về đặc điểm thể loại của ký và truyện ngắn lại là một việc khó khăn phức tạp, vì giữa ký của Nguyễn Tuân, Nguyễn Khải, Chế Lan Viên với Thép Mới chẳng hạn lại còn cách biệt nhau xa hơn khoảng cách từ ký đến truyện trong tác phẩm của Nguyễn Tuân. Theo ý chúng tôi: ký của Nguyễn Tuân đại thể thuộc loại tùy bút (essai), ký của Nguyễn Khải đại thể thuộc loại ký sự (ôtrex), ký của Chế Lan Viên đại thể thuộc loại chính luận (pôllimica), ký của Thép Mới đại thể thuộc loại bút ký (dapixki). Về truyện ngắn cũng vậy, Vũ Ngọc Phan không thấy cần phải đặt truyện ngắn thành một thể loại riêng để nghiên cứu vì đặc điểm tình hình văn học nước ta trong thời Pháp thuộc không đòi hỏi như vậy. Nay Vương Trí Nhàn muốn đặt riêng truyện ngắn thành một thể loại để nghiên cứu, nhưng cũng tự thấy vấn đề hết sức phức tạp. Người ta tự hỏi nếu đã phân biệt truyện ngắn với tiểu thuyết và ký, tại sao Vương Trí Nhàn không chia nhỏ thêm nữa thành các thể như récit, conte, nouvelle để tìm hiểu đặc điểm thể loại cho vấn đề bớt rối rắm có được không? Cũng như Nga đã chia ra các thể pôviex (truyện vừa), raxcat (truyện kể), nôvel (tiểu thuyết đoản thiên), pôviexna nôvellac (truyện gồm nhiều đoản thiên, nôvelet (truyện ngắn) skazha (truyện kể) rôman (tiểu thuyết. Chừng như cũng cảm thấy cách giải quyết vấn đề của mình chưa thật ổn nên cuối cuốn Sổ tay truyện ngắn, Vương Trí Nhàn có hứa là sẽ trở lại vấn đề “những giao lưu qua lại giữa truyện ngắn với các thể tài khác, đặc điểm dân tộc của truyện ngắn từng nước, đặc biệt sự phát triển độc đáo của truyện ngắn Việt Nam”. Chúng tôi nghĩ rằng muốn giải quyết được những vấn đề trên không thể chỉ dựa vào việc nghiên cứu văn học mang tính chất cụ thể lịch sử dựa theo phương pháp đồng đại mà phải kết hợp với phương pháp nghiên cứu theo loại hình, phương pháp nghiên cứu văn học so sánh, đặc biệt vấn đề ký và truyện ngắn cũng như vấn đề thơ, kịch, tuồng, chèo, cải lương mang tính chất phục vụ chính trị kịp thời, còn phải được nghiên cứu theo chức năng - lịch sử nữa. Có như vậy mới tránh bớt được tình trạng dùng những ngôn ngữ khác nhau trong khi đối thoại, gây ra những ngộ nhận đáng tiếc.


Về tiểu thuyết, trong Nhà văn hiện đại (1941) của Vũ Ngọc Phan, phân các nhà văn theo các khuynh hướng: 1) Tiểu thuyết phong tục, 2) tiểu thuyết luận đề, 3) tiểu thuyết luân lý, 4) tiểu thuyết xã hội, 5) tiểu thuyết truyền kỳ, 6) tiểu thuyết hoạc kê, 7) tiểu thuyết tả chân, 8) tiểu thuyết tình cảm, 9) tiểu thuyết trinh thám, 10) tiểu thuyết phóng sự.


Doãn Quốc Sỹ trong Văn học và tiểu thuyết (Sài Gòn, 1973) viết: “Vì ông Vũ chỉ chú trọng đến khuynh hướng chính của nhà văn nên khi phân loại, ông đã bỏ rơi một loại tiểu thuyết lịch sử”.


Kế đó Doãn Quốc Sỹ đề nghị phân mười loại tiểu thuyết: 1) tiểu thuyết phiêu lưu, 2) tiểu thuyết phong tục, 3) tiểu thuyết hương xa (exotic novel), 4) tiểu thuyết lịch sử, 5) tiểu thuyết tự sự (gồm cả loại tự thuật), 6) tiểu thuyết huấn hỗ (gồm cả loại tiểu thuyết luận đề), 7) tiểu thuyết tâm lý, 8) tiểu thuyết kinh dị, 9) tiểu thuyết tả chân, 10) tiểu thuyết hoạt kê.


Viết bảng phân loại này, Doãn Quốc Sỹ đã căn cứ vào những cuốn Bách khoa toàn thư của Pháp, Anh... Nhưng với sự phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết trong thế kỷ 20, tiểu thuyết hiện đại (1960) của Dorothy Brewster và John Angus Burrell (nhà xuất bản Littefield, Adame & Co Paterson, New Jersey (Mỹ), đã nhắc đến những loại tiểu thuyết gia đình, tiểu thuyết nông dân, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết quan sát thế giới, truyện không tưởng, tiểu thuyết chiến tranh, tiểu thuyết về sự liên quan giữa các chủng tộc, tiểu thuyết quốc tế, tiểu thuyết về những cuộc xung đột hiện đại.


Văn hóa thế kỷ XX - Từ điển lịch sử văn hóa của Michel Fragonard (Paris: Bordas, 1995), đã nhắc đến những loại: tiểu thuyết - ảnh (roman - photo), tiểu thuyết tình báo, tiểu thuyết điều tra, tiểu thuyết “đen”...


Tả tác từ điển (1999) của Trung Quốc (chủ biên Tề Đại Vệ, Ngụy Thư Trung), đã nhắc đến những loại tiểu thuyết truyền hình, tiểu thuyết triết lý, tiểu thuyết thể thơ, tiểu thuyết thể nhật ký, tiểu thuyết thể thư từ, tiểu thuyết tự sự, tiểu thuyết ký thác, tiểu thuyết nông thôn, tiểu thuyết truyền kỳ, tiểu thuyết khiển trách, tiểu thuyết ngôn tình, tiểu thuyết văn hóa, tiểu thuyết kỷ thực, tiểu thuyết bút ký, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết suy lý, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết phái hiện đại, tiểu thuyết hậu hiện đại, tiểu thuyết kinh điển, tiểu thuyết dòng ý thức, tiểu thuyết nhiếp ảnh, tiểu thuyết thể báo chí, tiểu thuyết vấn đề, tiểu thuyết khoa ảo...


Chúng ta thấy tiểu thuyết trinh thám trước đây được Vũ Ngọc Phan coi là một loại, đến nay đã phân ra thành tiểu thuyết tình báo, tiểu thuyết điều tra, tiểu thuyết uy lý, tiểu thuyết “đen”... Tiểu thuyết truyền kỳ trước đây được Vũ Ngọc Phan coi là một loại, đến nay đã phân ra thành tiểu thuyết truyền kỳ và tiểu thuyết kinh hiểm. Tiểu thuyết phóng sự trước đây được Vũ Ngọc Phan coi là một loại, đến này đã phân ra thành tiểu thuyết thể báo chí, tiểu thuyết kỷ thực, tiểu thuyết vấn đề... Tiểu thuyết tình cảm trước đây Vũ Ngọc Phan cho là một loại đến nay đã phân ra thành tiểu thuyết ngôn tình, tiểu thuyết ký thác, tiểu thuyết thể thư từ, tiểu thuyết thể nhật ký, ngược lại những loại tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết luân lý, tiểu thuyết xã hội, tiểu thuyết hoạt kê, tiểu thuyết tả chân mà Vũ Ngọc Phan coi là những loại riêng, thì trong thực tiễn sáng tác lại lẫn lộn chồng chéo với nhau, hoặc phải chia ra thành những loại khác nhau như tiểu thuyết tự sự, tiểu thuyết khiển trách, tiểu thuyết tâm lý...


Theo cách phân loại mới thì tiểu thuyết của Thế Lữ là tiểu thuyết suy lý, tiểu thuyết của Phạm Cao Củng là tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết của Hữu Mai, Nguyễn Trường Thiên Lý... là tiểu thuyết tình báo, Yêu tinh của Hồ Phương là tiểu thuyết phản gián, tiểu thuyết của Trần Tử Văn là tiểu thuyết điều tra, không thể dồn chung vào một bị được.


Vàng và máu của Thế Lữ là tiểu thuyết suy lý, Thần hổ của Tchya là tiểu thuyết truyền kỳ, không thể đặt chung Thế Lữ và Tchya là nhà tiểu thuyết có khuynh hướng truyền kỳ.


Những nhà nho như Tản Đà, Ngô Tất Tố... viết tiểu thuyết theo quan niệm thể loại tiểu thuyết của Trung Quốc trước đây. Theo Thiếu Thất Sơn Phòng Bút Tùng của Hồ Ứng Lân, tiểu thuyết Trung Hoa xưa được chia làm 6 loại: 1) Chí Quái (những truyện ma quái kinh dị), 2) Truyền Kỳ (những truyện thần tiên), 3) Tạp Lục (những chuyện ghi chép không quan trọng), 4) Tùng Đàm (những truyện nói để vui chơi), 5) Biện Đính (những truyện dùng để biện thuyết ý mình), 6) Châm Quy (những truyện có mục đích luân lý khuyến thiện).


Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục Đề Yếu của Kỷ Quân, chia tiểu thuyết làm 3 loại: 1) Tự Thuật Tạp Sự (ghi chép chuyện vụn vặt), 2) Ký Lục Dị Văn (ghi chép chuyện lạ), 3) Xuyết Thập Tỏa Ngữ (dùng lời để giải thích).


Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, Vũ Phương Đề, Trương Quốc Dụng, Vũ Trinh... đều viết văn xuôi theo quan niệm thể loại này. Tản Đà cũng gọi những cuốn văn xuôi của mình là tiểu thuyết, nhưng đây là quan niệm tiểu thuyết của Trung Hoa xưa mà không phải là quan niệm tiểu thuyết của phương Tây. Ngô Tất Tố viết không hẳn ra ký cũng không hẳn ra tiểu thuyết mà có sự phối hợp của cả hai thể loại, vì còn mang nặng quan niệm “kỷ thực” của Trung Hoa xưa, cho nên Vũ Ngọc Phan gọi tác phẩm của ông là tiểu thuyết phóng sự, trong khi tác phẩm của ông có cả các loại: tiểu thuyết tả chân, tiểu thuyết phong tục, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết xã hội... theo cách phân loại của Vũ Ngọc Phan. Trong số tác phẩm của Vũ Trong Phụng có cái là phóng sự đơn thuần, có cái là tiểu thuyết tả chân, có cái là tiểu thuyết xã hội, có cái là tiểu thuyết hoạt kê... theo cách phân loại của Vũ Ngọc Phan. Như vậy cách phân loại đó đã tỏ ra bất hợp lý và lẫn lộn.


Lại lấy thí dụ như vấn đề trường ca. Không thể dựa theo định nghĩa về trường ca của văn học Xô viết để quy định đặc điểm thể loại cho trường ca Việt Nam.


Muốn tìm hiểu vấn đề trường ca phải đi ngược dòng lịch sử từ thể ngâm khúc và thể sử ca của văn học Việt Nam cổ. Ngâm khúc như Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Ai tư vãn, Tự tình khúc... Sử ca như Thiên Nam ngữ lục; Đại Nam quốc sử diễn ca... Thể ngâm khúc và thể sử ca đã có một quá trình phát triển trong lòng nền văn học dân tộc. Khi Tố Hữu viết Ba mươi năm đời ta có Đảng, Nước non ngàn dặm, đã có kế thừa tinh hoa của những ngâm khúc, sử ca thời xưa kết hợp với truyện thơ dân gian như Mụ Đội, Mã Long Mã Phụng. Nhưng trước Cách mạng Tháng Tám, Huy Thông viết Tiếng địch Sông Ô, Giấc mộng của Lê Đại Hành... lại chịu ảnh hưởng của Shakespeare và Byron trong Childe Harold. Nguyễn Nhược Pháp khi viết Sơn Tinh Thủy Tinh lại chịu ảnh hưởng những bài hành của Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị và thơ Victor Hugo, Leconte de Lisle...


Sau Cách mạng Tháng Tám, Xuân Diệu viết Ngọn quốc kỳ, Hội nghị non sông là sự phát triển cao độ của thơ nước ta, Nguyễn Đình Thi viết Bài thơ Hắc Hải kết hợp thể thơ trường thiên sử thi của dân tộc với cái tôi trữ tình của nhà thơ. Trần Hữu Thung viết Gió Nam lại chịu ảnh hưởng của vè hát giặm, Hai Tộ hò khoan ảnh hưởng của hò khoan. Thái Giang viết Lửa sáng rừng và Thu Bồn viết Bài ca chim Chơ-rao lại chịu ảnh hưởng của Trường ca Đam San Tây Nguyên. Thanh Thảo viết Những người đi tới biển và Hữu Thỉnh viết Đường tới thành phố lại sử dụng bút pháp tự biểu hiện như trong các trường ca của Maiakốpxki, bên cạnh nhiều ảnh hưởng khác nữa như của Neruda, Hikmet... Muốn tìm hiểu vấn đề trường ca vừa phải nghiên cứu thực tại và cách phản ảnh thực tại bằng văn học của nhà thơ; chính cái đó quy định biện pháp nghệ thuật của từng nhà thơ để thể hiện đề tài của mình vừa phải tính đến những liên hệ lịch sử và những tác động qua lại trong bản thân sáng tác của nhà thơ. Nhà nghiên cứu văn học Xô viết M. B. Khrapchenko đã nhắc nhở: “Sự khám phá ra những yếu tố chủ đạo của quá trình văn học, sự khám phá ra vai trò của cá tính sáng tạo của nhà văn trong quá trình có đòi hỏi sự nghiên cứu những mối liên hệ nội tại nảy sinh trong sự phát triển thực tế của văn học. Ở đây phải chú ý tới tính chất phong phú của những sự tác động qua lại”. Điều đó nói lên sự cần thiết của việc nghiên cứu thi pháp của từng thể loại văn học cũng như của từng nhà văn, hai cái đó có quan hệ khăng khít với nhau. Nhà nghiên cứu, phê bình, nhà văn học sử có xác định được thể loại mà nhà văn viết thì mới có thể dựa theo đặc trưng của thể loại để đánh giá đúng nhà văn và đặt ra yêu cầu đối với nhà văn.


Việc xác định đặc trưng của thể loại cũng giúp cho nhà văn tự nhìn lại mình. André Gide gọi Những đầm lầy, Prométhée bị xiềng không chặt, Những nhà ham của Vatican là “kịch hề”; Kẻ vô luân, Cửa hẹp, Giao hưởng đồng quê là tuyện; mãi đến Bọn làm bạc giả ông mới gọi là tiểu thuyết.


Ngay đến Hermann Hesse cũng khắt khe tự nhận: “Tôi bay giờ đột nhiên giác ngộ triệt để, mà cảm thấy long nguội lạnh… tiểu thuyết của tôi không phải là tiểu thuyết: dù cho như vậy, mỗi người lại đều cho rằng tôi đang viết tiểu thuyết, đó là một tội ác và nhược điểm thực sự của tôi”.


Giữa lúc một số nhà văn và độc giả đã lên tiếng chê trách cái chúng ta viết là sử thi hay là tự truyện chứ không phải là tiểu thuyết. Hãy khoan tranh luận về những vấn đề này, chúng ta trước hết cần đủ tự trọng và dũng cảm thừa nhận cái mình viết ra có phải là tiểu thuyết hay không, hay mình đang viết cái gì ấy mà mình cứ ngỡ là tiểu thuyết.


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh. NXB Văn học, 4-2007.


www.trieuxuan.info


 



 



 



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »