tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682428
Tiểu thuyết
20.07.2009
Hoài Anh
Mê Linh tụ nghĩa

Thấy Hùng Định vẫn giữ nguyên tục cũ của người Lạc Việt Tích Quang coi ông như cái gai trước mắt lúc nào cũng muốn tìm cách nhổ đi, nhưng lại e nếu trừng trị ông, nghĩa đệ của ông là Hoàng Phong Lôi sẽ trả thù. Hồi đó nhân Vương Mãng cướp ngôi vua Hán, bọn châu mục Đặng Nhượng, thái thú Giao Chỉ Tích Quang và nhiều thái thú khác ở Giang Nam đều chống cự triều Tân, giữ đất cát cứ. Giữa lúc loạn lạc, bọn đô hộ muốn mua lòng các lạc tướng, huyện lệnh để giữ vững chính quyền đô hộ, nên Tích Quang cũng không làm dữ đối với Hùng Định.


Tích Quang đã đón nhận các quí tộc sĩ phu Hán tộc ồ ạt lánh nạn Vương Mãng, và tìm cách cướp ruộng đất của các làng xóm Lạc Việt, Âu Việt cấp cho bọn này lập trang trại riêng. Theo sau sự việc này là một loạt người dân bản địa bị biến thành nông nô, nô tì cày ruộng và hầu hạ các “chủ nhân” Hán tộc.


Như vậy, người lao động ở Giao Chỉ bị mất đất, bị nô lệ hóa mà các lạc tướng cũng thấy phạm vi quyền hành của mình bị thu hẹp.


Tích Quang còn phối hợp với các sĩ phu Hán tộc mở trường dạy học, truyền bá lễ giáo phong kiến Nho gia, hình thành một hệ tư tưởng hoàn toàn xa lạ đối với người Việt và làm nẩy sinh một tầng lớp Nho sĩ bản xứ trực tiếp giao thiệp, phục vụ chính quyền đô hộ. Điều này cũng khiến các lạc tướng bất bình vì một bộ phận dân chúng tuột ra khỏi vòng kiểm soát của họ. Nếu trước đó số quân lính đồn trú tại các thành huyện, thành quận và vài chốt khác toàn là người Hán thì bây giờ Tích Quang tuyển thêm cả người bản địa vào.


Trên tường điện ở Lạc Dương treo một chiếc ngà voi của con voi một ngà quý hiếm và một cặp sừng tê, chiếc án trước mặt bày những viên ngọc trai lớn ánh lên đủ mọi màu sắc. Hán Quang Vũ nhìn những cống phẩm mà Thái thú Tích Quang đưa từ Giao Chỉ về, trong lòng đắc ý. Ông ta thầm nghĩ, người ta cứ đồn ở Nam hải có giống giao nhân nước mắt chảy xuống đọng thành ngọc, có biết đâu rằng muốn có được ngọc trai này phải đổi bằng nước mắt và cả máu của người dân Giao Chỉ lặn xuống biển nào lên.


Hán Quang Vũ tên thật là Lưu Tú, tự Văn Thúc, người huyện Thái Dương quận Nam Dương(1), sinh ở huyện Tế Dương(2) tháng chạp Kiến bình năm đầu(3) đời Hán Ai Đế. Ông ta là cháu sáu đờiTrường Sa Vương Lưu Phát, con Hán Cảnh Đế. Cha Lưu Khâm, huyện lệnh Tế Dương, mẹ Phàn Nhàn Đô. Ông ngoại là một đại địa chủ có 300 khoảnh ruộng đất tốt ở Tế Dương. Lưu Tú 8 tuổi cha mất, được chú là Lưu Lương nuôi. Do gia cảnh suy sụp, Lưu Tú từ nhỏ liền tham gia lao động ngoài đồng ruộng. Trước năm 20 tuổi, vào trường Thái học ở Trường An học sách Thượng thư.


Cuối đời Tây Hán, Vương Mãng cải cách chế độ bắt chước thời cổ, khơi dậy mâu thuẫn xã hội. Tiếp đó Vương Mãng cướp ngôi lên làm vua. Bắt đầu từ năm Thiên Phượng thứ tư(4) các địa phương không ngừng nổ ra cuộc khởi binh. Trong đó binh Xuân Lăng bảy tám nghìn con em thân tộc Nam Dương do anh em Lưu Tân, Lưu Tú tập hợp và quân khởi nghĩa nông dân Lục Lâm sơn Kinh châu Hồ Bắc là hai cánh quân nổi tiếng nhất.


Quân nổi dậy ban đầu tác chiến với quân Vương Mãng thất lợi. Tháng giêng năm Địa Hoàng thứ tư(1), quân của Lưu Tân, Lưu Tú diệt hơn 2 vạn quân Vương Mãng, cục thế bắt đầu biến chuyển. Trên vấn đề chọn lập hoàng đế, quân nổi dậy xảy ra tranh chấp. Quân Tân Thị, Bình Lâm chủ trương lập tôn thất nhà Hán Lưu Huyền, quân vũ trang của địa chủ Nam Dương và chủ tướng binh Hạ Giang chủ trương lập Lưu Tân. Trải qua đấu tranh, Lưu Huyền được lập làm Canh Thủy Đế, cũng đồng thời tiềm phục nguy cơ trong nội bộ quân nổi dậy.


Tháng sáu năm Địa Hoàng thứ tư, quân nổi dậy đánh thua to 40 vạn quân Vương Mãng ở Côn Dương(2), Lưu Tú trên thực tế chỉ huy chiến dịch lấy ít thắng nhiều nổi tiếng trên lịch sử này. Đồng thời cũng dẫn tới mâu thuẫn gay gắt và công khai hóa trong nội bộ quân nổi dậy, tướng lĩnh quân Tân Thị, Bình Lâm và bộ phận hào cường Nam Dương căm ghét Lưu Tân, Lưu Tú. Canh Thủy Đế bị họ xúc xiểm cuối cùng sát hại Lưu Tân. Lưu Tú nén nỗi đau đớn, xin tội trước Lưu Huyền, tranh thỏi số phận bị giết. Sau đó Lưu Tú lại lợi dụng cơ hội Lưu Huyền sai ông ta đến Hà Bắc giám sát quân đội, thuận theo xu thế lịch sử “được hay không được, ở Hà Bắc”, bắt đầu độc lập phát triển thế lực của mình. Ông ta ở Hà Bắc vỗ về quận huyện, biếm truất quan lại, sử dụng hiền tài, chỉnh đốn quân kỷ, từng bước thu phục lòng người. Đồng thời ông ta lại mua chuộc lôi kéo được một đám tướng soái có tài như bọn Đặng Vũ, Phùng Dị, Cảnh Hâm về sau được gọi là “38 tướng Vân đài”. Do Hà Bắc là phạm vi thế lực của Vương Lang trá xưng là Lưu Tử Hưng con Thành Đế, Lưu Tú trên đường đánh lên Bắc bị vô số khó khăn: bị bắt, dứt bữa vân vân. Ông ta tranh thủ được Chân Định Vương Lưu Dương, tôn thất Hán có vài chục vạn quân, cuối cùng bình định được Vương Lang, đứng vững chân ở Hà Bắc. Lưu Tú lại bình định, tranh thủ các đội quân nông dân như Đồng Mã ở Hà Bắc, thế lực tăng lớn, được gọi là “Đồng Mã Đế”. Tháng saú năm Canh Thủy thứ ba(1), Lưu Tú năm ấy 30 tuổi, xưng đế ở Thiên thu đình huyện Cao(2) đặt niên hiệu là Kiến Vũ. Tháng mười định Lạc Dương làm kinh thành. Canh Thủy Đế sau khi quân khởi nghĩa nông dân Xích Mi tiến vào Quan Trung bị giết, hình thành hình thế quân sự đối chọi giữa Lưu Tú và Xích Mi. Năm thứ ba Kiến Vũ(3), Phùng Dị cầm đau quân Hán đánh thua to quân Xích Mi ở Hào Để(4) Lưu Bôn Tử, Phàn Sùng trở xuống bị bức phải đầu hàng Lưu Tú. Lưu Tú thuận theo lòng dân “hài hòa hay không hài hòa, ở Xích Mi”, không sử dụng chính sách chém giết, mà để nông dân trở về quê cũ. Năm đầu Kiến Vũ(5) Vương Mãng bị một thương nhân Trường An cắt đầu lâu nộp cho Quang Vũ. Từ năm Kiến Vũ thứ hai(6) đến Kiến Vũ năm thứ mười hai(7), Lưu Tú lại tiến hành chiến tranh thống nhất Trung Quốc, hoàn thành nghiệp “Trung hưng” xây dựng lai vương triều Hán, nhân đó tên thụy của Lưu Tú gọi là Quang Vũ Đế. Do xây dựng kinh đô Lạc Dương ở mặt đông Trường An, nên sử gọi là nhà Đông Hán.


Sau khi đã ổn định được tình hình trong nước, Quang Vũ bắt đầu chú ý đến các nước dưới sự đô hộ của nhà Hán trước đây. Quang Vũ thấy cần phải đồng hóa nhanh chóng đất Âu Lạc cũ, để làm cầu khống chế các nước phía nam. Như vậy việc cai trị không thể để lỏng lẻo như dưới thời Tây Hán nữa.


Nguyên, nhà Tây Hán sau khi diệt nhà Triệu, đã áp dụng chế độ quận huyện như ở Trung Quốc, tức là chia mỗi quận ra làm một số huyện, đứng đầu mỗi huyện là chức huyện lệnh (đối với huyện có trên một vạn hộ, còn huyện có số hộ dưới một vạn thì đặt chức huyện trưởng) do triều đình bổ dụng. Nhưng ở Giao Chỉ và cả ở Cửu Chân, Nhật Nam, nhà Hán coi mỗi bộ, lạc hoặc liên minh bộ lạc là một huyện và vẫn để các lạc tướng cai trị với quyền thế tập như cũ, chỉ đổi danh hiệu ra là huyện lệnh hoặc huyện trưởng mà thôi.


Cai quản mỗi quận là chức thái thú, có thêm chức đô úy chỉ huy số quân sĩ đồn trú để trấn áp nhân dân khi cần.


Đứng đầu bộ Giao Chỉ là viên thứ sử. Nhưng thứ sử không cai trị trực tiếp mà chỉ giám sát các quan lại ở các quận. Hàng năm vào tháng tám, thứ sử đi tuần tra xem xét công việc cai trị của các thái thú. Sang đầu năm sau, y về kinh đô tâu trình. Hàng năm thái thú thu cống phẩm là các của quí vật lạ như ngà voi, sừng tê, ngọc trai…đưa tiến về triều…


Để có những cống phẩm ấy, dân Âu Lạc phải chịu bao cay đắng và tội vạ, phải xông pha lam chướng, xuống biển lên rừng. Nhưng dần về sau, sự áp bức bóc lột còn tăng lên mạnh hơn. Nạn gánh chịu phu phen tạp dịch, xây cất thành lũy, công thự, tư dinh... ngày một nặng nề. Rất nhiều người biến thành nô tì phục vụ bọn quan lại đô hộ, thậm chí biến thành món hàng đổi trao mua bán.


Tây Hán còn cho những tội nhân Trung Quốc bị đầy sang ở lẫn với người bản địa, vừa để chế ngự, vừa đồng hóa người bản địa. Chính sách này đã bị dân Âu Lạc phản ứng gay gắt, họ thường nổi lên giết quan lại nhà Hán.


Vào đời Hán Bình Đế nhà Tây Hán lâm vào cơn khủng hoảng. Nông dân Trung Quốc nổi lên khắp nơi. Lợi dụng tình hình đó, vào năm Kỷ Tị(1) Vương Mãng cướp ngôi vua, lập ra nhà Tân. Rất nhiều quí tộc, quan lại, sĩ phụ mà quyền lợi gắn bó với nhà Hán đã chống lại Vương Mãng. Một số chạy sang Giao Chỉ. Bọn này bổ sung thêm “quân số” cho bộ máy đô hộ, góp phần quá trình vào công cuộc đồng hóa mà chính quyền Tây Hán đã thực hiện, đồng thời đẩy mạnh quá trình chiếm đoạt ruộng đất của các cộng đồng người Âu Lạc, lập ra những trang trại riêng nằm ngoài vòng kiểm soát của các lạc tướng huyện lệnh.


Hán Quang Vũ quyết định ra sức tăng cường quyền lực ở các địa phương xa. Trước đó hàng năm thứ sử tự mình về kinh đô báo cáo tình hình cai trị ở các quận thì từ bây giờ phải ở luôn tại trị sở, dù có tang cha mẹ cũng không được bỏ chức, hàng năm chỉ cử một viên kế lại về thay. Cũng từ đây thử sử được giao thêm chức năng cai trị chứ không chỉ thanh tra như trước. Và một số chức vụ gọi là tòng sự sử được đặt ra để trông coi công việc cai trị giúp thứ sử như công tào tòng sự sử coi việc dân chính, binh tào tòng sự sử coi việc binh…


Coi giữ các quận vẫn là thái thú nhưng có đặt thêm chức quận thừa để giúp việc. Các quận ở xa có thêm chức trưởng sử. Về mặt binh bị, trước đó ở mỗi quận có viên đô úy trông coi lực lượng vũ trang đồn trú, chức phó là đô úy thừa. Năm Kiến Vũ thứ 6 có lệnh bãi hai chức này mà giao cho thái thú kiêm giữ. Như vậy là quyền lực của thái thú được nâng cao hơn trước. Do đó bộ máy giúp việc thái thú cũng được bổ sung, dưới thái thú và quận thừa có đặt các chức duyện sứ chuyên trách từng phần việc dân, chính, quân sự…như nơi nào có muối thì thêm chức diêm quan, nơi nào có nghề rèn sắt thì vẫn là huyện lệnh, huyện trưởng - vốn là lạc tướng - cai quản nhưng bị thắt buộc hơn trước và quyền lực cũng bị thu hẹp.


Bộ máy cai trị được bổ sung và tổ chức lại chặt chẽ hơn. Để đủ cung cấp lương thực và phát lương cho các quan lại, binh lính chính quyền đô hộ phải đánh thuế đều đặn, ráo riết. Mỗi người dân từ 15 tuổi đến 56 tuổi mỗi năm phải nộp thuế 120 đồng tiền gọi là toán phú. Trẻ em từ 7 tuổi đến 14 tuổi hàng năm phải nộp 23 đồng tiền gọi là khẩu phú. Ngoài ra, mỗi người dân từ 23 tuổi trở lên, mỗi năm phải luân phiên phục dịch việc binh một tháng, muốn được miễn thì phải nộp 3000 đồng tiền gọi là canh phú. Lại còn hộ phú đánh vào từng hộ gia đình, quân phú (thuế cung cấp cho binh lính), tạp thuế, dao dịch thuế... Cuộc sống nhân dân bị gò bó, khốn đốn hơn, lao dịch nặng nề hơn, việc sách nhiễu tăng lên, ruộng đất của các bộ lạc, các cộng đồng bị bao chiếm nhiều nên số người Âu Lạc trở thành nông nô, nô tì cho bọn quan lại quí tộc Trung Quốc cũng đông lên. Đời sống của họ càng cơ cực vì ách bóc lột trực tiếp của bọn địa chủ ngoại tộc mới này rất nặng nề và tàn bạo.


Năm Kỷ Sửu(1) nghe lời chiêu dụ của Chinh nam đại tướng của Đông Hán là Sầm Bình bọn Đặng Nhượng, Tích Quang lại quy phục và nhận chức tước của triều đình Lạc Dương.


Năm Canh Dần(2) nhà Hán bãi bỏ chức đô úy và đô úy thừa là hai chức trưởng và phó chỉ huy quân đội, coi việc canh phòng trị an, cho thái thú kiêm giữ cả. Được toàn quyền, lại có chủ trương “dĩ Man trị Man”, Tích Quang có thể tạo ra một cơ cấu lính ngụy tay sai để tiếp tay đàn áp dân Việt có hiệu quả hơn.


Tích Quang cho đem vàng ngọc của cải đến biếu xén tù trưởng các bộ lạc mua chuộc bọn này làm tay sai cho phủ đô hộ bóc lột dân chúng. Nhiều tù trưởng đầu hàng bọn chúng, thậm chí còn làm quan, làm tướng cho chúng và quay lại chống phá lẫn nhau, đàn áp những cuộc trỗi dậy chống ách thống trị. Mặt khác Tích Quang cho thám tử đi ngấm ngầm dò xét xem trong nhân dân ai có ý đồ chống lại chính quyền đô hộ, y sẽ tìm cách trừng trị hay thu phục, hòng dập tắt mọi mưu mô chống đối.


Thỉnh thoảng y lại bày trò mị dân, không dùng phẩm phục quan lại mà mũ áo nhà nho thân đến giảng sách ở ngôi trường do y sai lập lên để truyền dạy thi thư cho học trò.


Bữa nay y cất giọng bình một câu văn trong sách xưa:


- Bắc đẩu cư chính vị nhi chúng tinh giai củng chi, nghĩa là: Sao Bắc đẩu ở ngôi giữa, các ngôi sao khác đều chầu vào. Cũng ví như Trung Quốc là nước ở vị trí chính giữa thiên hạ, các xứ bốn chung quanh là Man, Di, Nhung, Địch, đều phải chầu vào Trung Quốc. Các ngươi là giống Nam Man, nếu biết học theo phong hóa lễ giáo Hoa Hạ, sẽ bỏ được thói tục man rợ của mình, noi theo những cái hay cái tốt của văn hóa Trung nguyên, há chẳng nên hay sao?


Nghe tên quan đô hộ xúc phạm đến nòi giống mình, mọi người đều tím mặt nhưng vì sợ oai nên phải nín lặng, chỉ có một người đứng lên nói:


- Bẩm đại nhân, tôi nghe nói đời Thành vương nhà Chu, nước Việt chúng tôi đã cử người sang sứ nhà Chu hiến chim trĩ trắng. Chu công khen nước Việt là nước có văn hiến, lại nói: “Chính lệnh không ban đến thì người quân tử không coi người ta là bề tôi của mình” rồi sai làm xe chỉ nam đưa sứ Việt về nước. Chu công là bậc đại hiền mà còn khen nước Việt là văn hiến, không coi như là bề tôi, cớ sao ngài lại chê là man rợ và bắt buộc phải làm tôi mọi? Vả chăng Đại Thuấn là người Đông Di nhưng là bậc vua giỏi trong ngũ đế, Văn Vương là người Tây Di vua là bậc vua hiền trong tam đại. Người trong thiên hạ không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở tài, đức mà thôi!


Tích Quang giận dữ nhưng làm ra vẻ khoan hòa:


- Ai nói với nhà ngươi câu ấy?


Người học trò thưa:


- Bẩm, thầy tôi là ông Triệu Tam Chinh ở Mai Động dạy tôi như vậy.


Tích Quang biết chuyện đó có căn cứ trong sử sách Trung Quốc đời xưa nên không tiện bắt bẻ, truyền bãi buổi giảng sách rồi trở về dinh. Y sai thám tử đi điều tra về Triệu Tam Chinh. Thám tử đi dò xét về thưa:


-          Bẩm thái thú, theo con được biết thì Triệu Tam Chinh mở trường dạy cả văn lẫn võ, nhiều học trò y rất giỏi võ nghệ chưa biết chừng sau này sẽ là mối lo cho ta. Theo ý ngu thì hay là ta bắt y về đây trị cái tội loạn ngôn xúc phạm tới Thiên triều và tụ tập đồng đảng mưu đồ khởi loạn…


(còn tiếp)


Nguồn: Mê Linh tụ nghĩa. Quyển 1 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 








(1) Nay ở tây nam Táo Dương, Hồ Bắc





(2) Nay ở đông bắc Lan Khảo, Hà Nam.




(3) Năm 6 trước công nguyên.




(4) Năm 17 sau công nguyên.




(1) Năm 23.




(2) Nay là huyện Diệp, Hà Nam.




(1) Năm 25.




(2) Nay ở phía bắc Bách Hương, Hà Bắc.




(3) Năm 27.




(4) Nay ở đông bắc huyện Lạc Ninh, Hà Nam.




(5) Năm 22.




(6) Năm 23.




(7) Năm 36.




(1) Năm 9.




(1) Năm 29.




(2) Năm 30.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »