tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21282903
Tiểu thuyết
19.07.2009
Hoài Anh
Mê Linh tụ nghĩa

Chắc và Nhì từ phòng bên bước ra. Hai cô mặc yếm kín ngực ở trong, áo cánh xẻ ngực ở ngoài, thắt lưng có trang trí quấn ngang bụng, liền đó là chiếc váy kín cũng có trang trí, buông chùng đến gót chân, chiếc đệm váy có hình gần chữ nhật cũng có trang trí, thả ở trước bụng và sau lưng. Các cô búi tóc tròn sau gáy, trùm vắt khăn thành chóp nhọn ở ngoài phần tóc búi, đeo vòng tai hình vành khăn, hạt chuỗi hình trụ, nhẫn có tiết diện hình vành khăn.


Hai cô xin phép cha mẹ cho tới trường học. Hùng Định vui vẻ gật đầu.


Thầy dạy văn võ do bà Đoan mời về dạy Chắc, Nhì là ông Đỗ Năng Tế. Cha ông tên Đỗ Năng quê ở Khoái Châu(1), sau dời sang cư ngụ ở trang Khang Hợp(1) làm nghề bốc thuốc. Đỗ Năng lấy vợ người làng này là bà Đào Thị Đức và sinh được một trai, đặt tên là Đỗ Năng Tế. Lớn lên Năng Tế nổi tiếng là thông tuệ, làm bạn với con gái thầy học là Tạ Cẩn Nương. Vì quê bà Đoan ở gần trang Khang Hợp, nên quen biết vợ chồng Đỗ Năng Tế, liền mời cả hai ông bà về dạy cho con gái. Bà Đoan lai làm cho hai ông bà một cái nhà sàn ở gần nhà mình, trước nhà có bãi rộng để tập võ.


Khi ông Đỗ Năng Tế hỏi Nàng Chắc muốn học môn võ gì thì nàng nói:


- Con chỉ muốn học môn võ nào có thể địch nổi ngày người mà thôi.


Đỗ Năng Tế cười:


- Con nói như vậy thì cũng giống như lời Ngô Khởi ngày xưa.


- Lời Ngô Khởi như thế nào, xin thầy nói cho con biết.


- Sách Võ kinh nói người tướng, ngày chịu mệnh quân quên cả nhà; ra bày quân nằm ở đồng thì quên cả cha mẹ; vén áo bào mà đánh trống thì quên cả mình.


Ngô Khởi ra trận, người tả hữu dáng gươm, Khởi nói: “Tướng chỉ chuyên cầm cờ trống mà thôi. Lâm nạn quyết đánh, vẫy gươm chỉ giáo là việc của tướng, dùng một thanh gươm không phải là việc của tướng. Cho nên người biết đạo trước hết phải dự tính đến sự thất bại vì không biết chỗ dừng. Có phải là chỉ tiến thì mới nên công đâu! Khinh tiến mà cầu đánh thì định sẽ mưu dừng lại, nếu ta tiến đi ta sẽ bị địch đánh. Cho nên Binh pháp nói: Tiến mà theo, thấy thì đánh, nhà vua không dám đương mà cứ lấn vượt, như thế thì sẽ mất quyền”.


Lời nói không cẩn thận thì bị lấn; lấn át không chừng mực thì bị phá. Nước tràn sét đánh ba quân rối loạn. Nếu muốn yên được nguy, trừ được nạn, thì lấy trí mà quyết đoán, xem lời bàn ở lang miếu(1) là cao, xem lời nói khi chịu mệnh là trọng. Lời bàn vượt cõi phải cho sắc bén như thế thì có thể thắng phục nước địch.


Thấy Chắc nghe giảng Binh thư tỏ ra thích thú, Đỗ Năng Tế biết nàng là người thông minh, cơ trí, trầm tĩnh, có chí lớn, nên từ đó chuyên tâm dạy nàng về binh thư đồ trận. Nàng học một biết mười, lại hay nêu ra những câu hỏi sắc bén, nhiều khi thầy cũng phải lúng túng.


Đỗ Năng Tế hỏi nàng Nhì muốn học gì, thì nàng nói:


- Con chỉ muốn học sao cho thập bát ban võ nghệ đều tinh thông.


Đỗ Năng Tế biết nàng là người vũ dũng, hiếu động, từ đó truyền thụ cho nàng đủ thập bát ban võ nghệ. Những môn võ này đều là các môn bí truyền về kiếm pháp, thương pháp, đao pháp, kích pháp,... do vị Tản Viên chân nhân truyền cho ông. Nghe đồn vị Tản Viên chân nhân là con cháu Nguyễn Tuấn tức Thần Tản Viên và Mỵ Nương. Núi Tản thắt cổ bồng bên trên xòe ra như cái tán, nên người võ nghệ tầm thường không thể nào leo lên được. Đỗ Năng Tế là người ở gần núi Tản, có lần Tản Viên chân nhân đi vân du qua, thấy ông là người có căn cốt, nên thu làm đồ đệ. Tới chân núi, Tản Viên chân nhân cắp ngang người ông phi thân lên núi ông nhắm mắt lại chỉ nghe thấy tiếng gió ù ù bên tai. Tới đỉnh núi Tản Viên chân nhân đưa ông vào trong một động đá ngày đêm truyền dạy võ nghệ. Khi thấy ông đã học thành tài, lại cắp ông nhảy xuống dưới chân núi, từ đó trở đi ông không bao giờ gặp được sư phụ nữa. Khi chia tay, Tản Viên chân nhân chỉ nói: “Ta truyền thụ võ nghệ cho con chỉ cốt sau này con truyền lại cho các môn đồ, đồng tâm đứng lên quét sạch bọn đô hộ, khôi phục lại quốc thống của các Vua Hùng, là ta mãn nguyện rồi”.


Học xong thập bát ban võ nghệ, Đỗ Năng Tế lại dạy cho Nàng Nhì cách bắn nỏ bí truyền từ thời Thục An Dương Vương. Mũi tên của nàng bằng đồng, cánh én, hai cánh xòe rộng và xuôi về phía sau giữa thân có đường sống nổi dày. Cuối thân có đoạn chuôi dẹt.


Nàng Nhì vốn sáng dạ, nên chẳng bao lâu đã có thể từ ngoài trăm bước bắn xuyên lá cây trên cành.


Khi tập bắn, nàng dần dần khám phá ra bí mật của chiếc nỏ vũ khí lâu đời của dân Âu Lạc, vừa để săn bắn vừa để chiến đấu. Thân nỏ vừa là nơi chứa thế năng giữa cánh nỏ và dây được tích lực tại huyền, cánh nỏ được giải phóng lực dãn lại như cũ, go rất mạnh dây cung tạo thành một chuyển động thẳng, tức thời đẩy vọt tên về phía trước. Chỉ có thế thôi, chứ làm gì có chuyện lấy móng của thần Kim Quy làm lẫy nỏ thì bắn bách phát bách trúng. Nàng quyết tâm học bắn nỏ sao cho thành thạo, để chiêu tuyết cho nàng Mỵ Châu xưa bị oan vì tội sơ ý trao lẫy nỏ cho chồng là Trọng Thủy. Mỗi phát tên bắn ra nàng tưởng chừng như đâm thủng ngực bọn xâm lược Hán từng diệt nước Nam Việt ngày trước. Những hình nộm mà nàng tập bắn, nàng đều đề những cái tên An Quốc Thiếu Quý, Lộ Bác Đức; Lưu Triệt(1). Nàng chỉ còn chờ dịp bắn vào giữa ngực tên Tích Quang và tướng lĩnh của y để quét sạch ách đô hộ đè nặng lên đất nước. Nàng ngửa mặt lên trời, thầm khấn:


- Mỵ Châu nương nương! Ở cõi u minh có khôn thiêng xin phù hộ cho tôi mau chóng thành công!


Trả lời nàng, một tiếng cuốc kêu rỏ máu như từ hồn oan của Thục Đế vẳng lại.


Trên bãi rộng đặt một dàn gồm bốn chiếc trống đồng cỡ lớn. Trống chia ra làm ba phần, mặt và tang trống phình ra thành một vòm chứa đựng âm thanh, cộng hưởng và chuyển qua thân trong hình trụ thon lại, và cuối cùng, òa ra ngoài từ chân trống loe rộng như một miệng loa. Người ta còn đào thêm hố cộng hưởng dưới đất để khuếch đại âm thanh cho càng thêm hùng vĩ.


Mấy người cầm gậy như cầm chày đứng dóng thẳng xuống mặt trống.


Phối hợp với trống đồng là trống da, được đặt trên vật nâng đỡ hình trụ đứng thẳng. Người ta đánh ngang vào một mặt để đệm cho ca hát của nam nữ.


Một đoàn người tiến ra, nam đóng khố, đuôi khố thả vừa chấm mông, nữ mặc váy xòe làm bằng lông vũ hoặc bằng lá cây ken kết lại, có hai vạt trước và sau đùi. Mọi người đội mũ làm bằng lông vũ cắm cao trên đầu và phía trước cài thêm những bông lau. Họ hát và múa trong tiếng trống da đệm. Người múa cầm xênh phách, chuông nhạc để gõ làm nhịp, cũng có người vừa thổi khèn vừa múa nhảy.


Vừa nhìn thấy nàng Chắc cầm đầu đoàn múa nhảy với gưong mặt xinh đẹp và dáng điệu hùng dũng, Thi Sách con trai quan lạc tướng huyện Chu Diên theo cha đến dự hội, đã đem lòng yêu mến. Nàng khác hẳn với những cô gái mềm yếu trong con người nàng toát ra một nghị lực lớn lao. Trên nét mặt nàng hiện ra vẻ thông minh, cơ trí và quyết đoán, chứng tỏ nàng được rèn luyện cả về văn lẫn võ.


Khi trở về, Thi Sách đã nói với cha xin cha đến gặp Hùng Định để hỏi cưới nàng. Hùng Định từ lâu đã nghe tiếng Thi Sách là người tài đức, hỏi ý kiến con gái thì nàng Chắc cũng vui lòng ưng thuận.


Trong lễ cưới, bà con lối xóm tặng cho nhà trai gói muối và gói ngói (là một loại đất sét nung). Ngói là món ăn ưa thích của phụ nữ khi có thai, ăn dở. Muối là món ăn khem khi sinh con (muối nung). Hai thứ này nói lên sự chúc tụng chóng có con, vợ chồng hòa thuận.


Đôi vợ chồng trẻ vào phòng riêng, lấy rượu và cơm nếp ăn uống. Thi Sách rót bát rượu đưa cho vợ, nàng Chắc cũng rót rượu đưa cho chồng, chéo tay nhau, rồi cùng uống. Hai vật này ý nói say sưa gắn bó mãi với nhau. Sau đó, giết trâu dê làm lễ, hai họ ăn uống no say.


Khi dẫn dâu về nhà chồng, dân đàng gái ném hoa quả theo, ý nói không được bỏ chồng mà về nữa. Trước đây người ta thường ném đất đá theo nhưng sau thay bằng hoa quả cho đỡ lấm láp. Thi Sách âu yếm nhìn Nàng Chắc:


- Mối tình của đôi ta đẹp chẳng kém gì Chử Đồng Tử và Tiên Dong ngày xưa.


- Chỉ có khác chàng không phải là một chàng trai mình trần không khố... nàng Chắc mỉm cười trêu chọc.


Chậu cây tùng uốn thế hình tròn đặt trên một chiếc kỷ vuông chân dài nhỏ mình, bằng gỗ trắc Tàu đen bóng. Kỷ để trên bàn, một thứ bàn dài cuộn vòng hai đầu như một cuộn giấy mà để hai đầu cuộn lại. Trên bàn cuộn còn đặt một cục đá kim qua thạch (đá da dừa vàng) pha đen hình dáng như một người cúi đầu trầm tư, thần quái an nhiên, tỷ lệ thích đáng nhất là phần tay áo cực kỳ xảo diệu, dù là chất đá rất rắn, nhìn cũng thấy như đang bay phơ phất. Cạnh đó là vài cuốn sách, một nghiên mực, một ống bút bằng tre mà ở trong đó cắm bút, phất trần, như ý. Một đỉnh đồng vuông đời Chu, khói buồm bốc lên che mờ một bức chữ viết hai chữ “Thạch cừ” do chính tay Tích Quang đề.


Sang cai trị quận Giao Chỉ từ thời Hán Bình Đế(1), Tích Quang thấy xã hội này còn giữ những truyền thống tập tục của thời kỳ mẫu hệ. Cứ xem như gia đình Lạc tướng Mê Linh Hùng Định thì biết. Trong nhà, vợ Hùng Định là Trần Thị Đoan có quyền ngang với chồng, bà con được dân chúng trong vùng kính trọng, gọi là Man Thiện hay là Dạ, bà còn là cháu ngoại vua Hùng. Khi nhà Hán sang cai trị đất này, vẫn sử dụng những người thuộc dòng lạc tướng cũ, gọi bằng một cái tên mới thuộc chức danh bộ máy cai trị mới là Huyện lệnh hay Huyện thừa, nhưng dân chúng vẫn quen gọi họ là Lạc tướng.


Gần đây, Tích Quang được tin Hùng Định mời thầy đến dạy võ nghệ cho hai con gái là Chắc và Nhì, nhưng biết có nuôi dị chí hay không? Dù sao chăng nữa thì việc cho con gái học cả văn lẫn võ, cũng là điều trái với xã hội phụ hệ ở Trung Quốc vốn trọng nam khinh nữ.


Tích Quang nhận thấy cần phải đem lễ giáo Thiên Triều giáo hóa cho dân tộc bán khai này. Chế độ phụ quyền dựa vào tính thiêng liêng của quyền lực của người cha. Người mẹ chỉ được sử dụng phản xạ của cái quyền lực ấy và vay mượn của chồng mình quyền hành đối với con cái. Nghĩa vụ của con cái phải phục tùng bề trên, là đạo lý chung của con người trong xã hội đó. Cái tôi của người con đường như bị xóa bỏ bởi cái tôi của người cha, chừng nào người cha còn sống. Nhưng ngay cả sau khi người cha đã chết, quan hệ vẫn không thay đổi về nguyên tắc. Người cha của gia đình, có toàn quyền đối với con cái, tự thừa nhận bên trên mình quyền lực tuyệt đối của thân phụ đã quá cố và thông qua đó quyền lực của tất cả các vị tổ tiên theo phả hệ. Cơ sở của mọi đức hạnh và mọi trật tự là chữ hiếu của người con, mà đức hiếu thực thụ là đức hiếu không chỉ đối với cha ông đương sống, mà còn cả đối với cha ông đã mất. Một người đàn ông không bao giờ có thể hành động xuất phát chỉ từ bản thân mình, anh ta chỉ thừa hành ý chí của tổ tiên, anh ta luôn luôn và trong mọi sự phục thuộc vào quá khứ gia tộc của mình.


Nếu người chủ gia đình là tư tế trong công việc thờ cúng tổ tiên, hỏi ý kiến tổ tiên bằng cách xem bói khi quyết định một việc gì, với tư cách người con người cháu của cha ông đã mất, ông ta là người môi giới giữa họ với gia đình của mình, thì hoàng đế Đại Hán là vị từ tế trong việc thờ cúng Trời, với tư cách Thiên tử (con Trời) trên mặt đất, ông ta làm trung gian giữa trời với đất, cai quản bách tính (trăm họ) là tất cả các bộ tộc trong nước. Những người đã chết có công đức và phẩm hạnh khi còn sống, sẽ được Thiên tử phong làm thần, hợp lại thành bách thần là tất cả những vị thần thuộc Thần điện Trung Hoa, họ là những Nhân thần bên cạnh những Thiên thần, tượng trưng cho các lực lượng tự nhiên như gió, mưa, sấm, chớp... và những Địa thần như thần sông, thần núi, thần nước,... Thiên tử giữ độc quyền tế Trời và phong sắc cho bách thần, như vậy tôn giáo và chính trị đã hợp làm một trong con người Hoàng đế. Cả cái dân Lạc Việt này sẽ phải phục tùng mệnh lệnh của đức Hoàng đế nhà Đại Hán.


Tích Quang thấy cần phải cải cách từ chế độ hôn nhân trước. Mới đây ông ta được tin Hùng Định đã gả con gái lớn là Chắc cho con trai Lạc tướng huyện Chu Diên là Thi Sách. Như vậy sẽ tạo thành liên minh quân sự giữa hai bộ tộc, có hại cho chính quyền đô hộ sau này. Theo sách Lễ ký thì hôn nhân được sắp đặt để cho con người có thể phụng sự tổ tiên đã qua đời. Nếu mục đích của hôn nhân nói chung có quan hệ khăng khít với tổ tiên, thì trong từng trường hợp một vai trò chính yếu trong sự kết hôn phải thuộc về tổ tiên của vị hôn phu và vị hôn thê.


Nghi thức kết hôn bao gồm hai phần chính: lễ nạp thái (dạm ngõ) và lễ vấn danh (ăn hỏi), cả lễ này đến lễ kia đều quan hệ đến tổ tiên. Lễ dạm ngõ được cử hành như thế này. Người cha của vị hôn phu với toàn bộ gia quyến đến nhà thờ họ, mang trên một cái đĩa bức thư gửi người cha của vị hôn thê, bức thư ấy được đặt lên bàn thờ. Sau khi đã làm lễ cúng tổ tiên với nhiều nghi thức phức tạp, cúi xin anh linh của tổ tiên tiếp nhận những đồ cúng bằng một loạt lời khấn và thần chú, một loạt động tác vái lạy, người cha của vị hôn phu khấn như sau: “Ngày này, tháng này năm này, con tên là thế này xin được kính báo tất cả các vị tổ tiên (gọi tên tất cả các vị từ đời kỵ cho đến cha mẹ) một việc như sau: con trai của con, tên là thế này, đã đến tuổi thành niên và chưa kết hôn với ai, muốn lấy con gái của ông bà này làm vợ, kính cẩn dâng rượu và hoa quả, con xin kính báo các vị rằng hôm nay sẽ làm lễ nạp thái hỏi tên vị hôn thê”. Sau lời khấn cuối cùng, người ta cầm lá thư từ bàn thờ - như là đã được tổ tiên phê chuẩn - và giao cho sứ giả đem đến cho người cha của vị hôn thê. Ông này cũng với những nghi thức như thế bẩm báo tổ tiên và sau đó gửi thư trả lời, bức thư này lại được báo cáo cho tổ tiên của vị hôn phu, sau đó bằng cách bói toán, người ta hỏi ý kiến các vị ấy về ngày lành tháng tốt để làm lễ cưới. Trong nghi lễ thứ hai, vấn danh, những tặng phẩm mà ông bố của người chồng chưa cưới gửi tới ông bố của người vợ chưa cưới, trước khi gửi đi được đệ trình cho tổ tiên của người thứ nhất và sau khi nhận được trình cho tổ tiên của người thứ hai với những bẩm báo và khấn vái tương ứng. Cũng những bẩm báo và khấn vái ấy đi theo lời đồng ý cuối cùng của cha cô vợ chưa cưới cho việc tổ chức lễ cưới trong ngày đã được chọn.


Vào ngày thứ ba sau lễ cưới, một nghi lễ nữa được cử hành, bằng nghi thức lễ ấy người vợ tân hôn được chuyển giao cho sự cai quản của các vị tổ tiên mới, tức là tổ tiên của nhà chồng. Toàn thể gia quyến tụ tập trong nhà thờ họ, trước bài vị của tổ tiên, và sau những nghi thức cúng bái thường lệ gia chủ khấn lời thỉnh cầu như sau: “Con trai tôi, tên là thế này, ngày này tháng này đã kết hôn hợp pháp và giờ đây tôi xin được trình diện trước tổ tiên người vợ tân hôn của nó. Kính mong các vị thi ân quan tâm đến nó, ban cho nó cuộc sống hạnh phúc trường tồn, che chở nhà mới của nó và cho nó niềm vui được sống giữa đàn con cháu đông đúc. Xin kính cẩn khẩn cầu”.


(còn tiếp)


Nguồn: Mê Linh tụ nghĩa. Quyển 1 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.







(1) Nay thuộc Hưng Yên.




(1) Nay thuôc xã Tam Hiệp, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây.




(1) Lang miếu: là triều đình.




(1) Tên thật của Hán Vũ Đế.




(1) Năm 1-5 sau công nguyên.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »