tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18518244
Lý luận phê bình văn học
19.07.2009
Hoài Anh
Khuynh hướng tư liệu trong sáng tác văn học hiện nay

Lâu nay một câu trách cứ thường vang lên nghiêm khắc: “Tại sao chúng ta còn ít những tác phẩm đề tài hiện đại?”. Điều đó rất đúng, tuy nhiên, chúng ta phải thấy hết khó khăn của sáng tạo văn nghệ trong thời hiện tại.


Trước kia, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm, chế độ tư bản cũng đã trải qua mấy trăm năm lịch sử, trong những thời kỳ ấy, xã hội phần nào lắng đọng, không có những biến chuyển tận gốc, nên các nghệ sĩ dễ dựng được những nhân vật có tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình, qua đó khái quát được những nét lớn của toàn bộ xã hội. Văn học nghệ thuật các quốc gia phần lớn thu hẹp trong phạm vi lãnh thổ của mình và được nhân dân các nước đó thưởng thức, hoan nghênh. Nhưng ngày nay, cuộc sống trên toàn thế giới đang thay đổi hàng ngày hàng giờ, rất khó dựng được những tính cách ổn định, hơn nữa, những thiết chế xã hội mới không tạo hoàn cảnh cho nhân vật tự do hành động theo đúng tính cách của mình. Trước kia, một cuộc chiến tranh khu vực chỉ cần thông qua một vài nhân vật tướng lĩnh là có thể phản ảnh được, nhưng với cuộc chiến tranh tổng hợp, có quy mô thế giới ngày nay không dễ gì thể hiện trong một tác phẩm với một số nhân vật nhất định. Trình độ tri thức của nhân dân trên thế giới ngày càng được nâng cao, việc giao lưu văn hóa ngày càng được mở rộng, nên nhân dân ở mỗi nước không những có thể đọc sách báo xem phim của khắp mọi nước, mà còn khao khát muốn có đầy đủ thông tin về những sự kiện xảy ra trên toàn thế giới. Không chỉ những sự kiện nóng bỏng, mà những bí mật của các thế chiến 1, 2, cuộc chiến tranh ở Việt Nam... cũng dần dần được phanh phui, có khi một tư liệu mới phát giác có thể đánh đổ uy tín của nhiều cuốn sách đã biết trước đây. Sách được dịch nhiều và nhanh chóng, một tác giả trong nước phải tranh giành người đọc với các tác giả ở khắp năm châu bốn bể.


Tình hình đó khiến cho người đọc chán tác phẩm trong nước, viết theo lối sáng tạo hư cấu nhưng nghệ thuật chưa cao, không mới mẻ, đi theo đường mòn, lặp lại những tình huống, chi tiết trong các tác phẩm khác, mà thích đọc những cuốn sách đầy ắp tư liệu, sự kiện, về những biến cố đã xảy ra trong nước và trên thế giới. Nhưng nếu không có giá trị nghệ thuật, thì sau khi thỏa mãn tính tò mò, những cuốn sách này cũng bị người đọc bỏ rơi và chìm vào quên lãng.


Đã có một thời kỳ điện ảnh thế giới chạy theo khuynh hướng làm phim tiểu sử cá nhân. Nhưng chỉ có phim Hoàng đế cuối cùng về Phổ Nghi và Gandhi là thành công, vì màu sắc xã hội, phong tục, sinh hoạt... của Trung Quốc và Ấn Độ có những nét khác lạ với phương Tây nên được khán giả phương Tây hoan nghênh. Phim về Van Gogh cũng được chú ý, vì cuộc đời bản thân nhân vật chính có nhiều điểm ly kỳ, độc đáo, nhất là lại dựa theo những tư liệu mới được phát hiện về mối quan hệ giữa Van Gogh và Théo, em trai nhà danh họa. Còn phim về Christophe Colomb và về Charlie Chaplin đều không thành công, vì Christophe Colomb không có những nét khác lạ so với phương Tây, còn Charlie Chaplin thì diễn viên đóng vai “vua hề Charlot” không thể hiện nổi cái hồn nhiên, ngây thơ của con người đầu thế kỷ mà dấu ấn để lại quá đậm nét trong trí óc, tâm hồn của nhiều thế hệ khán giả, qua những phim mà Charlot thật đã đóng. Ở nước ta bộ phim về Vua Minh Mạng cũng không thành công, vì không thể hiện rõ nét con người trong một thời kỳ lịch sử cụ thể. Qua đó, chúng ta thấy làm phim về những cá nhân, ngay cả những con người mà cuộc đời có nhiều tình tiết lạ lùng, hấp dẫn cũng đòi hỏi phải có trình độ nghệ thuật cao.


Tóm lại, những cuốn sách, tiểu thuyết tư liệu hay phim tiểu sử, chỉ là một khuynh hướng chứ không thể hoàn toàn thay thế cho những sáng tạo nghệ thuật phối hợp giữa chất liệu đời sống với hư cấu, tư tưởng của tác giả; cũng như ảnh dù là ảnh nghệ thuật không thể thay thế cho tranh của Picasso, Chagall. Người nghệ sĩ phản ánh hiện thực sau khi đã nghiền ngẫm về hiện thực, đây là hiện thực khách quan được nắm bắt và phản xạ thông qua lăng kính chủ quan của nghệ sĩ. Ngay đến nghệ thuật tạo hình thể hiện những hình ảnh mà người ta nhìn được bằng mắt mà các họa sĩ còn phải tìm muôn ngàn phương cách để chiếm lĩnh hiện thực với tất cả những chiều của nó; huống chi nghệ thuật ngôn từ, nhà văn chỉ có phương tiện là những chữ thể hiện cuộc sống muôn màu muôn vẻ bằng những hình ảnh hiển hiện trước mắt người đọc, gây cho họ những ấn tượng không thể phai mờ. Vì xét cho cùng, người đọc không chỉ có nhu cầu tìm biết những sự kiện, mà còn có khát vọng đi sâu vào thế giới tâm hồn của con người điều ấy chỉ có những sáng tạo nghệ thuật đích thực mới mang lại được.


Nhà văn Xécgây Đalưghin viết trong bài “Suy nghĩ về văn xuôi tư liệu” (Tạp chí Tác phẩm và Dư luận, số 138):


“Đối với tác giả văn xuôi tư liệu, phương tiện và lòng tin là ở chính trong sự việc, trong nguyên liệu tác giả sử dụng. Sự việc phải tự chúng khá hùng hồn, dù khi có sự lạc đề hay lời bàn của tác giả.


Văn xuôi tư liệu cũng là một hiện thực có tổ chức, với một sự chính xác tột cùng. Khi chúng ta dính dáng với tư liệu, những bằng chứng, lúc đó chúng ta có một hiện thực được nhân lên, chúng ta có được liên tiếp cái thật của sự việc, cái thật của tư liệu, cái thật của tác phẩm văn học tư liệu.


Sự nhận định về miêu tả phong tục là như sau: một người sống như thế này, như thế kia, ý nghĩa cuộc sống của hắn là như thế này, cuộc sống ấy thu gọn như thế này, đây vì sao con người ấy sống, tại sao hắn vui sướng, tại sao hắn đau khổ.


Tổ chức và cách xếp đặt nguyên liệu trong hiện thực loại tư liệu khác hẳn: Chúng ta thấy trước hết là vấn đề, việc nghiên cứu phong tục nói đến sau. Ngoài ra, nếu tác giả đưa phong tục vào tác phẩm, không bao giờ tác giả sử dụng một cách nhiều đến như vậy và chỉ dùng như một phương tiện để chứng minh sự nhận định của mình.


Một tác phẩm tư liệu không che giấu ý định của nó, ý muốn thuyết phục và tranh luận. Văn xuôi tư liệu tác động mau và bạo. Con người khi tin sâu sắc sẽ hành động đúng. Ngoài ra, nghị lực của tác giả là một phương tiện rất mạnh để diễn tả tính cách xúc động của tác phẩm.


Trong phần nhiều các trường hợp, tác giả tác phẩm tư liệu tránh việc tả cảnh. Tác giả cần nhiều nghị lực, đưa ra lời kêu gọi thẳng, tố cáo thẳng, khẳng định và bạo dạn, tất cả những cái đó là nhờ ở sự chính xác của sự việc. Tác giả luôn luôn đóng vai trò viên dự thẩm xét xử những vụ quan trọng, tất nhiên có tính cách chính luận. Không những tính cách xúc động của tác phẩm, nhưng tính cách thẩm mỹ học cũng dựa trên những đức tính của nghị lực.


Nếu chúng ta lấy một tân truyện tư liệu, chúng ta nhận thấy luôn luôn tác phẩm đưa sự việc vào hàng cuộc sống. Tác phẩm dạy cho chúng ta thấy cuộc sống toàn bộ phản ánh trong một sự việc nhỏ, trong một trường hợp nhỏ.


Trong một phạm vi nào đó, tiểu thuyết đưa cuộc sống ngang hàng với sự việc. Tác phẩm nghiên cứu dòng thác cuộc sống, phân tích và giải thích cuộc sống bằng cách trả lời những câu hỏi: Ai? Cái gì? Tại sao? Và mỗi câu hỏi đã là một sự việc. Văn xuôi tư liệu mở đầu bằng những sự việc và kết thúc bằng sự nhận định.


Nghệ thuật nói chung phản ánh khả năng của mỗi con người, tìm ra một quy luật đúng, một phương tiện mới liên lạc và tiếp xúc hợp hơn hết với thời đại.


Văn xuôi tư liệu ngày nay giữ vai trò trong một những phương tiện đó, chắc chắn hợp với nhu cầu của thời đại.


Nghệ thuật hoạt động trong một khu phi chiến, nhưng miếng đất đó còn quá to lớn, đủ rộng cho mọi loại, một dòng thác.


Điều cốt yếu là luôn luôn đó phải là một thứ nghệ thuật chính xác, một nghệ thuật nhân bản”.


Chúng ta phải thấy hết khó khăn của sáng tạo nghệ thuật hiện nay, nhưng không phải vì thế mà lùi bước, trái lại phải hết sức vượt mọi khó khăn, trở ngại về phía chủ quan của người viết, cũng như phía khách quan của người đọc, kể cả sự dửng dưng lạnh nhạt của công chúng đến những thị hiếu nhất thời của xã hội, để làm tròn thiên chức của người nghệ sĩ là mang đến cho họ những cái hay, cái đẹp kết tinh từ tài năng, tâm huyết của mình.


PHÓNG SỰ - KÝ HỌA
CHÂN DUNG CUỘC SỐNG HIỆN ĐẠI


Không thể loại nào kịp thời và có tính chiến đấu cho bằng phóng sự. Tuy cùng là thể ký, nhưng ký sự, bút ký, hồi ký, tùy bút, có thể viết về những chuyện trong quá khứ, có sự tham gia của yếu tố tưởng tượng, kết hợp cả chất chính luận và trữ tình... nhưng phóng sự thì nhất thiết phải viết về cuộc sống hiện tại, nếu không nêu tên người thực thì cũng phải là việc thực, do đó tính chân thực là yêu cầu quan trọng hàng đầu.


Văn phóng sự là một thứ văn thực, gần người nhất, gần đời nhất, không những đã sống động lại cho ta thấy những trạng thái ly kỳ, những tình tiết u uẩn mà bề ngoài người ta không thể thấy, chỉ có nhà phóng sự thấy mà thôi. Bởi thế, nhà phóng sự phải có một con mắt riêng để xét việc, xét người. Con mắt đó có giá trị hơn con mắt của ống kính máy ảnh bởi vì con mắt của ống kính chỉ chép lại đúng những cái mắt thấy mà thôi, chứ con mắt nhà phóng sự phải “trông thấy” cả những cái “tai nghe” nữa. Hơn thế, nhưng cái “mắt thấy tai nghe” đó, nhà phóng sự không phải cứ nhất nhất viết hết cả lên mặt giấy, mà phải gạn lọc, phải dàn xếp, phải kết cấu cách nào cho người đọc không cần ý kiến của người viết cũng có thể có một quan niệm về một hoàn cảnh, một công cuộc hay một tình trạng trong xã hội. Thảng hoặc cũng có người như Albert Londres chẳng hạn, dưới mỗi bài phóng sự dài, lại có một lời kết luận, nhưng những lời kết luận đó thường không dành cho độc giả mà viết cho những người có trách nhiệm của nhà nước để tỏ bày ý niệm của mình về việc mình nói trên, ngõ hầu các nhà cầm quyền thấy những hiện tượng tiêu cực lạc hậu cần phải chấm dứt hay một sự bất công vô lý cần hủy bỏ.


Thường thì những nhà phóng sự không cần kết luận làm gì cả, chỉ biết đem sự việc bày ra ánh sáng để cho người đọc suy nghĩ. Đó là cách làm việc của những nhà phóng sự như Marc-Chadourne, Louis-Charles Roger, Henri Béraud, Genevière Duhamelet, Blaise Cendras... Nhưng không phải yếu tố tình cảm hoàn toàn bị loại trừ. Trong cuốn “Đông Dương, Cấp cứu” (Indochine, S.O.S.) viết về chế độ thuộc địa ở Việt Nam thời Pháp thuộc, bà André Viollis có những đoạn văn sục sôi phẫn nộ. Bà Marcelle Tinayre đã làm cho người đọc xúc động trong cuốn Les Ratés de l’Aventure. Những cuốn phóng sự về Việt Nam đánh Pháp, Mỹ của Madeleine Riffaud, Monica Varnenska, Wilfret Burchett, Blaga Dimitrova... cũng xen những đoạn trữ tình và chính luận.


Blaga Dimitrova, Madeleine Riffaud vừa là nhà báo, vừa là nhà thơ. Khi trả lời phỏng vấn nhân dịp kỷ niệm Paris được giải phóng khỏi cái chế độ phát xít, Madeleine Riffaud đã nói:


“Nói cho đúng, tôi là một nhân viên y tế hụt. Nếu tôi đã có thể tiếp tục học ngành y thì hẳn tôi vẫn là một nhân viên y tế, nhưng Eluard đã mở cho tôi con đường đến với văn học và báo chí. Tôi đã được đẩy vào đấy. Tôi bắt đầu bằng việc điều tra cuộc đình công của những người thợ mỏ năm 1947, một cuộc đình công thật quyết liệt, có xe tăng của chính phủ để đàn áp những người đình công. Lúc ấy tôi vẫn là một phóng viên tập sự, tôi rất khâm phục thủ lĩnh Charles Débert và những người anh hùng của khu mỏ: tôi đã phải bàng hoàng. Tôi trú chân ở nhà người dân nằm trên đất với một tấm đệm bên cạnh những anh thợ mỏ. Rồi thì có những cuộc chiến tranh và tôi lao vào đấy. Điều may mắn của tôi là không bao giờ người ta ngăn cản tôi với lý do tôi là một phụ nữ. Tiếng tăm của tôi đã đi trước cả tôi, và nếu tôi nói với bất cứ tờ báo nào: “Tôi muốn đi tới một điểm nóng nào đó” thì không ai trả lời tôi: “Chị đừng nghĩ đến chuyện ấy!”. Tôi đi tới, và sử dụng mọi phương tiện kỹ thuật, bút máy, máy chữ, máy ghi âm, máy ảnh như tất cả những vũ khí hòa bình để làm một chiếc cầu nối giữa con người và con người. Tôi là một người bắc cầu và tôi mong muốn con người gặp gỡ nhau. Tôi luôn luôn được coi như một chiếc cầu nhỏ. Về thực chất tôi đã luôn luôn làm công việc của một người liên lạc, tôi rất thích những cuộc gặp gỡ. Điều hạnh phúc nhất có thể đến với các bạn trong cuộc sống chính là gặp gỡ, và điều bất hạnh nhất chính là không được gặp gỡ. Chúng ta cần nói chuyện với nhau. “Sa mạc đẹp chính là nhờ những ốc đảo của nó”.


Cuối bài, Riffaud đã mượn “Truyền thuyết của người lái đò của Việt Nam” để minh họa cho ý tưởng của chị. Riffaud được nhân dân ta gọi bằng cái tên thân yêu “Chị Tám”, đã có mặt ở nước ta cả trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, những tác phẩm của chị như Đôi đũa ngọc (lấy ý từ câu ca dao Việt Nam: Đôi ta làm bạn song song, Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng) và Ở vùng du kích Việt cộng, Miền Bắc Việt Nam (viết trong bom đạn), đều đầy chất thơ.


Nhưng dù có giãi bày ý kiến một cách kín đáo trong văn hay chỉ lấy con mắt khách quan mà nhìn việc, văn phóng sự bao giờ cũng có một giá trị rất cao trong văn học và trong báo giới, không những vì nó hợp với trình độ kiến thức phổ thông (vì văn phóng sự vui lại không khô khan, khó hiểu như một luận thuyết) mà lại còn vì nó ích lợi thiết thực cho đông đảo quần chúng.


Ở các nước Âu Mỹ, những nhà phóng sự có tiếng rất được hoan nghênh (như Albert Londres mất trong nạn đắm tàu ở Philippin, có người bảo là ông bị mưu hại vì có nhiều tài liệu rất quý để viết một thiên phóng sự về cuộc chiến tranh Trung - Nhật). Có những thiên phóng sự làm thay đổi cả chế độ lao tù (Biribi - Dante n’avait rien vu - Biribi, Đan-tê chưa từng nhìn thấy), làm sáng tỏ nỗi oan cho một người bị tử tội, hay làm cho một tổ chức xã hội hoàn bị hơn (Chez les fous - Ở nhà những kẻ điên).


Còn ở nước ta, tuy nền văn học mới có đã lâu nhưng những nhà phóng sự xuất sắc vẫn còn là của hiếm. Nói như thế không phải bảo là nước ta thiếu người có tài năng, nhưng chính vì thiếu điều kiện vật chất, bởi muốn làm một thiên phóng sự có giá trị, người ta phải đi, phải hỏi, phải trông, phải giao thiệp, nói tóm lại là phải tiêu nhiều tiền. Ở ta, không có chuyện như báo New-York Times trả nhuận bút một phóng sự về bọn cờ gian bạc lận tới mười ngàn đô la, báo Gringoire trả nhuận bút bài phóng sự ngắn một trang về thế vận hội ở Berlin tới hơn mười ngàn frăng (chưa kể tiền chi phí của phóng viên khi ở nước ngoài) hay như báo Journal cử ông Marc Chadourne mỗi năm đi làm một thiên phóng sự vòng quanh thế giới, tốn kém bao nhiêu cũng không nề hà. Hiện nay các báo Times, Life, Paris Match... đều có phóng viên tung đi thường trú ở khắp nơi trên thế giới mỗi năm chỉ cần viết một bài phóng sự ngắn, cốt sao đăng lên thiên hạ tranh nhau mà đọc, như vậy là có thể trả lương phóng viên và nhuận bút rất cao.


Cũng vì thiếu tiền, nên thời trước Cách mạng Tháng Tám, ở nước ta chỉ có những nhà phóng sự xuất sắc như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Tam Lang, Trọng Lang... còn hiện nay những nhà phóng sự có thể đếm trên đầu ngón tay. Có dạo người ta chú ý đến loạt bài phóng sự của Lửa Mới trên báo Đại đoàn kết, của Hoàng Quân, Trần Quang Thịnh, trên báo Sài Gòn Giải phóng, của Tham Lang trên Tuần tin Thanh Niên, nhưng những cây viết này vẫn chưa đều tay hay còn mang màu sắc văn báo chí nhiều hơn văn nghệ thuật.


Nhiệm vụ cấp thiết của chúng ta hôm nay là phải phát triển và nâng cao tính văn học cho thể loại phóng sự, để có thể xuất hiện những thiên phóng sự vừa bổ ích hấp dẫn làm vũ khí sắc bén và lợi hại trong cuộc đấu tranh chống tiêu cực, cũng như những nhà văn chuyên về thể loại phóng sự dành được cảm tình và sự mến mộ của đông đảo người đọc.


Muốn thế các báo cần tạo điều kiện thuận lợi cho người viết phóng sự, hay trả nhuận bút cao cho những bài phóng sự có giá trị.


Một cuốn phóng sự hay cũng có giá trị không kém gì một cuốn tiểu thuyết. Nhà văn Mỹ nổi tiếng Truman Capote khi được Madeleine Chapsal của báo L’Express hỏi về cuốn sách ông đang viết, đã nói:


-... Tôi viết lại một “kinh nghiệm”: một quyển sách không phải là tiểu thuyết mà là phóng sự. Đề tài là một vụ án mạng xảy ra tận một thành phố nhỏ ở Kansas, tại miền Tây Hoa Kỳ. Cách đây ít lâu, có bốn người trong một gia đình, thuộc hàng tên tuổi trong thành phố bị giết chết: ông cha, bà mẹ và hai người con... Tôi đã đến thành phố ấy, Garden City, và đã ở lại đó bảy tháng để hỏi hết mọi người, kể cả những kẻ sát nhân (vì người ta đã tìm ra và bắt được). Bây giờ tôi có hàng tấn tài liệu, và sẽ dùng nó để xây dựng tác phẩm. Bà thấy chứ? Mỗi một chữ trong cuốn sách đều thực, mỗi một chi tiết đều thực.


Tại sao ông lại nảy ra cái ý đi ôm một tập hồ sơ án mạng về để viết loại tiểu thuyết phóng sự như vậy? Cái gì đã xui khiến ông có cái quan niệm sáng tác ấy?


- Đó là tập ký sự mà tôi viết ở Nga trong khi đi theo đoàn Porgy và Bess, và những hoạt động báo chí khác. Tôi tin rằng một nghệ sĩ rất có thể dùng những tài liệu rút thẳng từ thực tại ra để xây dựng nên một tác phẩm không kém giá trị sáng tạo so với một quyển tiểu thuyết hoàn toàn tưởng tượng. Hơn nữa, theo ý tôi, thì đó là địa hạt cuối cùng còn lại chưa thám sát. Địa hạt kia([1]) đã được khai phá đầy đủ rồi, đã đi tới tận cùng chỗ có thể đi tới, tôi cho là bây giờ họ đang lâm vào cuối một ngõ cụt; bởi vì, ít ra theo chỗ tôi thấy, đó là một ngõ cụt...


Chapsal hỏi:


- Họ là ai vậy?


- Là những người tên Butor, Robbe Grille, Sarraute, Ionesco, Beckett... ấy mà. Họ thật tài tình, tôi phục công viêc của họ lắm và tôi nghĩ làm như thế là phải. Tuy nhiên tôi không tin rằng họ có đếm xỉa tới những kẻ đọc họ. Không có một ai trong bọn họ để ý tới hết. Tôi nghĩ họ bất cần là có sự thông cảm hay không có thông cảm với các độc giả hay khám phá... Tôi thì trái hẳn, tôi muốn giao tiếp mật thiết với độc giả, tôi tìm cách làm cho sự thông cảm được hoàn toàn chừng nào hay chừng ấy trong một sự minh bạch sáng sủa luôn luôn, luôn luôn và luôn luôn được cải thiện. Bà hiểu chứ? Vả lại sau cùng đó chẳng phải là điều mà Joyce tìm kiếm hay sao? Tôi tưởng hình như cũng là một lối dễ dãi khi mà một nghệ sĩ gạt quần chúng ra, hoàn toàn thu hướng vào mình và vào những mối quan tâm kỹ thuật.


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh. NXB Văn học, 4-2007.







([1]) Sự tưởng tượng (chú thích của người dịch).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
Hoài Anh, nhà văn đa tài và lặng lẽ - Triệu Xuân 16.03.2017
Mỹ học (40) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 16.03.2017
Mỹ học (39) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Mỹ học (38) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 15.03.2017
Gabriel Gacia Marqyez (Colombia) nói về bản thân và nghề nghiệp - Hoài Anh 15.03.2017
Mỹ học (37) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 14.03.2017
Mỹ học (Kỳ thứ nhất) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
Mỹ học (Kỳ 35) - Georg Wilhelm Friedrich Hegel 13.03.2017
xem thêm »