tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20034161
Lý luận phê bình văn học
18.07.2009
Hoài Anh
Nghĩ về truyện ngắn hôm nay

Trước khi trả lời câu hỏi: “Truyện ngắn hôm nay nên viết như thế nào?”, tôi xin lược qua vấn đề: “Từ trước đến nay người ta đã quan niệm về truyện ngắn như thế nào?”. Bởi trong thực tế, văn học có nhiều kiểu truyện ngắn, kiểu nào cũng có truyện hay và có những bậc thầy về thể loại này.


Kiểu thứ nhất là những truyện đòi hỏi cốt truyện chặt chẽ, như truyện của Guy de Maupassant, O’Henry, Somerset Maugham, Nguyễn Công Hoan... Maugham nói: “Tôi muốn truyện của tôi có một cái mạch chắc chắn, chạy từ đầu đến cuối. Theo tôi hiểu, truyện ngắn là sự trình bày một sự kiện theo trình tự của câu chuyện diễn biến, hoặc theo trình tự của tâm tình. Nhờ sự thống nhất có kịch tính, sự trình bày đó có thể loại trừ tất cả những gì không cần thiết để bộc bạch ý nghĩa. Tôi không muốn kết thúc truyện của tôi bằng những cái dấu ba chấm mà bằng những dấu chấm chính xác”.


Thế nhưng, cũng có nhà văn phản đối kiểu viết nặng về cốt truyện. Nhà văn Nga Olesa nói: “Người ta thường coi những truyện của O’Henry là mẫu mực về loại truyện ngắn. Những đoạn kết thúc bất ngờ làm cho mọi người ngạc nhiên. Người ta cho rằng nếu thiếu đi những cốt truyện ly kỳ, truyện ngắn không còn là truyện ngắn nữa. Tôi muốn nói một ý kiến riêng về vấn đề này như sau: Chính tổ chức chặt chẽ, yếu tố khiến cho truyện của O’Henry tạo ra hiệu quả như vậy, đối với riêng tôi, nó lại là yếu tố khiến cho tôi cảm thấy những truyện đó không thật là văn học”.


Kiểu thứ hai là truyện quan tâm nhiều hơn đến nhân vật, như truyện của Anton Chekhov, Katherine Mansfield, Lỗ Tấn, Nam Cao... Chekhov nói: “Anh hãy quan sát kỹ cuộc sống, quan sát kỹ mọi người. Sau đó, có khi anh đi chơi bên bờ biển Yanta chẳng hạn, bất thình lình cái lò xo của truyện chợt bật tung ra trong đầu óc và thế là một truyện ngắn đã có sẵn... Không việc gì phải lo tìm bằng được những cốt truyện cho thật lắt léo. Trong cuộc sống, tất cả cứ lẫn lộn với nhau, cái sâu sắc với cái tầm thường, cái vĩ đại với cái bé nhỏ, cái bi thảm với cái hài hước”.


Kiểu thứ ba là loại truyện viết giản dị như bản thân đời sống, con người tự bộc lộ ra qua ngôn ngữ, tâm tình, như truyện của Ernest Hemingway, Eskine Cadwell, William Saroyan... Hemingway nói: “Trong quá trình phát triển của hành động, mọi việc bỗng thay đổi. Chính điều đó tạo nên vận động, và đến lượt mình, vận động làm nên truyện ngắn. Cũng có đôi khi, sự vận động diễn ra rất chậm, đến mức người ta tưởng như nó không có. Nhưng cả hai cái đó, đều không thể thiếu: sự thay đổi và sự vận động”. Saroyan nói: “Trong truyện ngắn của tôi, không có tài liệu gì thật đáng kể. Trong đó cũng không xảy ra một việc gì cho quan trọng... Tôi chỉ muốn kể cho mọi người về những gì chính họ đã quen biết, bằng những lời lẽ ai cũng hiểu được”.


Kiểu thứ tư là loại truyện mà trong đó các yếu tố như tình tiết, sự kiện thường được triển khai theo mạch vận động của cảm xúc và suy tưởng gợi lên chất thơ hay chất hư ảo, như truyện của William Faulkner, Constantin Paoutovski, Thạch Lam... Faulkner nói: “Hình như mỗi người viết truyện ngắn đều có lúc ao ước làm thơ, sau đó, khi không làm thơ được, mới nhảy sang truyện ngắn, một hình thức ứng chiến tiếp theo thơ”. Ông còn nói: “Điều đầu tiên cần nói tới ở đây là: Nhà văn phải có nguyện vọng viết nên một cái gì đấy, nguyện vọng này giống như do một thứ ma quỷ xui khiến, chính anh ta cũng không hiểu tại làm sao, và nhiều khi muốn thoát ra cũng không được. Truyện ngắn có thể sản sinh trong đầu óc người ta, do một sự tình cờ nào đấy, ai biết được v.v...”.


Trên đây là mấy loại quan niệm chủ yếu và phổ biến về truyện ngắn, ngoài ra còn nhiều cách viết truyện ngắn hết sức đa dạng như tập trung cao độ chịu ảnh hưởng của nghệ thuật điện ảnh, dòng ý thức, huyền thoại... “truyện không có chuyện...”. Nhưng có một điểm chung nhất là truyện ngắn đòi hỏi một sự ngắn gọn tối đa. Edgar Poë nêu lên những nguyên tắc kết cấu truyện ngắn như sau:


1. Truyện ngắn phải hướng tới một ấn tượng nhất định.


2. Nó cần phải loại trừ những gì không liên quan đến hiệu quả đã định trước đó - truyện cần có một sự thống nhất triệt để.


3. Truyện cần ngắn, nhưng không thể ngắn hơn cái mức người ta có thể hiểu về ý đồ của tác giả.


Bách khoa toàn thư Compto (Mỹ, 1969) viết về truyện ngắn như sau:


“Một truyện ngắn hay thì phải đem lại một giá trị nào đó lớn hơn là cái việc chọc cười bạn đọc. Nó phải thường xuyên đưa ra sự cảm nhận mau lẹ, trong đó nhân vật đã ứng xử khi hành động hoặc diễn tả lại một diện mạo bất thường của đời sống cho bạn đọc. Một số truyện chú trọng đến việc tường thuật sống động các hành động, số truyện khác thì lại để tâm đến việc thiết định một hình thái hay ghi dấu một ấn tượng cảm xúc sâu sắc, và số truyện khác thì nhắm vào những sự kiện bình nhật nhưng chở mang ý nghĩa thâm sâu.


Một cây bút truyện ngắn thường tìm kiếm chất liệu trong đời sống hàng ngày. Anh ta tập hợp những cuộc xung đột - cãi cọ và đôi khi cả những điều dấm dớ trong đời sống thành một bức tranh ngôn từ có trình tự và khả tri. Tác giả có thể đề cập đến những sự kiện có thực còn thô ráp của đời sống, nhưng một tác giả sành sỏi sẽ tạo tác câu chuyện của mình thành một nghệ phẩm.


Những yếu tố chân thực của đời sống (true-to-life) có thể được xử lý bằng nhiều cách khác nhau... Dừ xử lý thế nào mặc lòng, người viết truyện ngắn phải bám sát “cứ điểm” của mình. Trái lại, nhà tiểu thuyết không cần bám sát lề một con đường quá hẹp và thẳng băng như vậy. Anh ta có thể lang bang chỗ này chỗ kia. Cây bút truyện ngắn không có đủ thời gian và không gian để trôi dạt khỏi cứ điểm của mình. Như Edgar Allan Poe nói: “Trong tất cả cấu trúc, không có một từ nào bị cuốn vào mạch dù là trực tiếp hay gián tiếp cái mạch văn đã dùng đến một lần”.


Cây bút truyện ngắn của quá khứ thường bám sát vào diễn biến. Anh ta muốn lấp đầy các hành động cho sự kiện và đi tới một kết cục xác định. Như vậy anh ta viết một truyện ngắn với nhát cắt đầu tiên rõ ràng, nhát chung cuộc mạch lạc và nhát kết cục phân minh. Cây bút hiện đại thì ít quan tâm đến vấn đề và giải pháp. Anh ta chú trọng nhiều đến tâm trạng và sự diễn biến của đời sống tình cảm.


Cây bút hôm qua rõ ràng là những nhà nhiếp ảnh. Cây bút hôm nay là những họa sĩ phác thảo. Trong đó hầu hết những chi tiết hoặc là bị bỏ rơi hoặc chỉ hoàn toàn gợi cảm. Như vậy, mặc dù chứa đựng ít tình tiết và kết cục, cây bút truyện ngắn hiện đại vẫn nhằm vào một hiệu quả duy nhất độc tôn với hy vọng để lại cho bạn đọc mối cảm kích biến thiên theo dòng chảy mà tác giả đã khơi nguồn”.


So sánh giữa truyện ngắn với tiểu thuyết, Paul Bourget nói: “Phong cách của truyện ngắn và của tiểu thuyết rất khác nhau. Phong cách của truyện ngắn là thuộc về tình tiết, của tiểu thuyết là dãy tình tiết. Cái tình tiết mà truyện ngắn dự định diễn tả, truyện ngắn đã tách nó ra, làm cô lập nó lại. Các tình tiết mà cả dãy đã làm nên đối tượng của tiểu thuyết, tiểu thuyết đã làm ngưng kết chúng nối chúng lại với nhau. Tiểu thuyết tiến hành thông qua các triển khai, còn truyện ngắn thông qua sự tập trung... Truyện ngắn là độc tấu. Tiểu thuyết là giao hưởng”.


Trong bài Vài điều ghi nhận về truyện ngắn phương Tây ngày nay của Nguyễn Chí Tình (Văn nghệ Quân đội số tháng 4-1999) viết: “Đúng như nhà văn R. Judrin nói: “Người ta đã nhầm lẫn khi tưởng rằng truyện ngắn là một cuốn tiểu thuyết đẽo gáy, và bào mỏng đi - tưởng như nhồi nhét một thiên anh hùng ca vào một bài xonnê. Vấn đề đâu phải là mô tả thu nhỏ những gì phải mô tả trên quy mô lớn”.


Cũng từ nhận định trên đây, các nhà văn truyện ngắn phương Tây dễ dàng đi đến một ý kiến - đúng hơn là một yêu cầu - thống nhất: chính vì nó ngắn, mà vẫn không phải là tiểu thuyết rút ngắn, nên chất lượng văn học của nó phải cao, giá trị nghệ thuật của nó phải chặt chẽ. Một cuốn tiểu thuyết có thể có những đoạn tầm thường, những trang đệm đọc lướt và cả những chương đáng bỏ qua, nhưng toàn bộ cuốn tiểu thuyết vẫn có thể hấp dẫn người đọc. Chiều dài, và quy mô kết cấu cho phép sự hỗ trợ và liên đới nghệ thuật giữa các thành phần. Nhưng truyện ngắn thì không được phép như thế. Ở đây, mỗi chữ mỗi câu, mỗi hình ảnh đều phải đáng giá. Nhà phê bình văn học Ch. Baroche trong một bài viết điểm lại tình hình truyện ngắn nước Pháp đã đề ra tiêu chuẩn: “Truyện ngắn không chấp nhận trò nửa vời... Mấy trang sách mỏng này nhưng lại có trọng lượng... Cái lớn lao được chứa đựng trong cái nhỏ bé”.


Để làm sao đạt được cái tiêu chuẩn chất lượng nghệ thuật đó là trọng tâm chú ý của các nhà truyện ngắn phương Tây, bộc lộ cả trong phát biểu lý thuyết và thực tiễn sáng tác. Ý kiến ở đây thường xuyên mâu thuẫn nhau song khá đa dạng.


Người ta không còn bàn nhiều đến chuyện: một truyện ngắn nên kéo dài tối đa hay tối thiểu là bao nhiêu trang, số lượng nhân vật nên là khoảng bao nhiêu, có cốt truyện hay không có cốt truyện, là diễn biến của một quãng đời hay cả một cuộc đời. Sự thực thì những tiêu chí hình thức đó đều gắn với yêu cầu bên trong của tác giả và tác phẩm, với những đặc điểm và đòi hỏi tự thân của truyện ngắn, biến thành một sự xử lý kết hợp nhuần nhuyễn tiềm thức và ý thức của người viết. Cái điều mà người ta nói đến trước tiên, là dù dài, dù ngắn, “động đến” một sự việc cỏn con hay cả một chặng đời chồng chất sự việc, thì truyện ngắn vẫn là “truyện của những khoảnh khắc”. Nghĩa là, mỗi truyện ngắn phải tạo ra được một hoặc vài ba khoảnh khắc nổi bật nhất đáng nhớ nhất, đến mức mà nói như D. Boulanger: “Đánh thức và cuốn hút cả năm giác quan của người đọc”. Tác giả này nói rõ thêm: “Như trên bức tường phẳng mà cả rêu và nước sơn đều mờ đi, trên vô số những ký hiệu, những tiếng động, những côn trùng... vụt bay lên một con bướm bí ẩn và rực rỡ. Đó là truyện ngắn”.


Còn ý nghĩa của cái khoảnh khắc nghệ thuật - cuộc đời đến mức nào, ở tầm cỡ nào, cũng không phải là điều đáng quan tâm nhiều. Có thể nó nói lên một suy ngẫm ít nhiều triết học, gắn liền với nhân sinh và lịch sử, cũng có thể nó gợi lên một điều chiêm nghiệm đời thường từ lâu vẫn nằm sâu ở đáy lòng ta. Ta lấy thí dụ hai truyện ngắn vào loại nổi tiếng gần đây của phương Tây.


Truyện Bàn tay trong túi áo của D. Vignal chỉ chiếm gần hai trang tạp chí khổ vừa và đề cập một sự việc diễn ra có lẽ không quá năm phút giữa hai nhân vật. Mở đầu là câu hỏi của một phụ nữ: “Anh có tiền không đấy?”. Và từ đó là cái khoảnh khắc sẽ choán toàn bộ truyện ngắn: nhân vật được hỏi thọc bàn tay vào túi áo. Tác giả mô tả khá tỉ mỉ hình thù tựa như luôn luôn biến đổi của năm ngón tay, của từng đốt ngón tay trong cái vỏ túi không có ánh sáng, sự va chạm với lần vải lót, với đường chỉ khâu, với những vật linh tinh chẳng biết ẩn náu ở đây từ bao giờ, và rồi các ngón tay va chạm lẫn nhau, rượt đuổi nhau, xoắn lấy nhau trong một cuộc truy tìm vô vọng. Người đọc hiểu sự mô tả năm ngón tay trong túi áo này cũng chính là sự mô tả tâm trạng của nhân vật trong cái giây phút căng thẳng và “trọng đại” đó, mà có lẽ ngay từ đầu đã biết rằng mình không thể đáp lại yêu cầu của người phụ nữ. Và tất cả nổ tung ra, đổ sập thực sự, với mấy câu đối thoại cụt lủn kết thúc truyện ngắn: “- Xin lỗi, cô cần bao nhiêu?” - “Hai mươi lăm xu” - “Ối, thế mà tôi chẳng có”.


Chúng tôi nghĩ rằng cái khoảnh khắc được mô tả một cách đặc biệt trên đây, để lại dấu ấn cho người đọc, hẳn cũng ít nhiều có ý nghĩa phổ biến: mấy người trong chúng ta đã không từng gặp ít nhất vài ba lần cái tình huống oái oăm đó trong đời?


Truyện ngắn Khi ba người là một người của nhà văn S. Corona đưa ra một nội dung thoạt xem tựa như có một quy mô rộng lớn hơn: đó là câu chuyện một người Italia đặt chân lên đất Ai Cập một lần với ba tư cách: nhà sử học, nhà thơ và người buôn lậu đồ cổ. Tác giả mô tả, tường thuật những buổi thuyết trình sôi nổi của ông ở giảng đường trường đại học Cairô, những giờ phút ông đứng trầm ngâm trước các Kim tự tháp thả hồn thơ theo gió sa mạc và những hình ảnh kỳ diệu của quá khứ, những đêm ông bí mật gặp gỡ với các tay buôn đồ cổ trùm khăn trắng trong một quán cà phê ngoại thành... Những sự việc đó, không phải không có va đập, khúc mắc, nhưng nói chung đều đi qua trót lọt và tựa như vẫn nằm trong cái mặt bằng chỉ lăn tăn đôi gợn sóng của câu chuyện. Truyện ngắn đang có nguy cơ trở thành một thứ truyện kể có chừng mực. Nhưng rồi xuất hiện cái khoảnh khắc, vừa bất ngờ vừa tất yếu, đúng cái thời điểm mà nhà sử học, thi nhân, buôn đồ cổ, tưởng đã êm thấm mọi chuyện và chỉ còn chờ chuyến máy bay trở về nước. Người ta tìm thấy ông trong phòng khách sạn, gục đầu chết xỉu trên mặt bàn, giữa một trang thơ viết dở thấm đẫm rượu Whisky, một cái bằng tiến sĩ danh dự vừa trao tặng của trường Đại học Tổng hợp lớn nhất Ai Cập, và một bức tượng nhỏ vô giá đã bị đánh cắp khỏi viện bảo tàng quốc gia cách đây hai năm. Tác giả kết luận: “Đó không phải là khoảnh khắc của định mệnh. Đó là khoảnh khắc của chân lý. Con người có thể khi là học giả, khi là nhà thơ, khi là nhà buôn lậu. Nhưng nếu để cho ba con người ấy gặp nhau vào một giây phút nhất định trong một con người, thì trái tim con người đó không thể nào chịu đựng nổi. Nó sẽ nổ tung và phá vỡ cái vỏ thể xác bấy lâu vẫn đội được nhiều cái lốt khác nhau”.


Thiết tưởng chúng ta không cần bàn thêm về ý nghĩa của cái khoảnh khắc cuối cùng trong truyện ngắn trên. Ở một chừng mực nào đó nó đặt vấn đề, không phải chỉ với từng con người riêng lẻ, mà với tất cả cơ thể xã hội loài người.


Một điều đáng lưu ý khác: cũng theo nhiều nhà truyện ngắn phương Tây, truyện ngắn còn đặt ra một yêu cầu tưởng chừng như nghịch lý so với cái yêu cầu về “khoảnh khắc lóe sáng” trên đây. Đó là với một số trang số chữ có vẻ ngặt nghèo, người ta phải đem lại một cái gì đó thật sâu sắc, thật cốt lõi, phải nắm bắt được cái phần thiết yếu vẫn nằm ẩn trong tâm hồn và cuộc sống muôn mặt của con người. Không có điều này thì dù cho truyện ngắn có điểm lại số phận của hàng trăm con người rốt cục vẫn là bỏ qua cả chừng ấy số phận. Cũng chính D. Boulanger từng nói: “Nhà viết truyện ngắn phải thấy được tượng nữ thần Venus ở tận cùng một tảng đá hoa cương. Anh ta đánh vỡ cả khối đá, và xuyên qua trăm ngàn mảnh vụn, động đến được tấm thân tuyệt mỹ”, hoặc ông so sánh: “Nếu tiểu thuyết là cả tòa nhà thờ, thì truyện ngắn là phòng xưng tội”. Những buổi cầu kinh, những bản thánh ca, những bài giảng đạo có thể nhập vào một con chiên, nhưng cái phần sâu sắc nhất của sự thấm nhuần giáo lý lại là những lời xưng tội.


Đọc một số truyện ngắn gần đây của các nhà văn phương Tây, ta có thể thấy đó là một khuynh hướng nỗ lực trong tư duy sáng tạo - dù không phải tất cả đều như vậy.


Truyện ngắn Truyền hình màu của P. Fournel ngắn thôi nhưng đã được tác giả đào sâu đến cái lõi “đáng sợ” của nó. Sự việc chỉ thế này: trong làn sóng công nghệ hiện đại tràn đến một cái làng hẻo lánh nọ, Claudine là một nữ chủ nhân gia đình đầu tiên mua một chiếc ti vi màu, và từ đấy cô ta nhất nhất làm mọi chuyện giống như những gì mà cô đã xem được trên màn ảnh: bộ váy gấp, cái môi quệt son, đôi lông mày kẻ, những câu nói, điệu cười cho đến cách uốn éo cái bụng to béo. Cả làng, trong cái đà đua đòi không cần suy nghĩ, cũng theo Claudine mua ti vi màu. Duy nhất có một người không làm như thế, chỉ vì vốn ganh ghét với Claudine, và muốn lúc nào cũng trái ngược với cô ta, đó là Odette. Động cơ thái độ của Odette có thể là sự đố kỵ nhưng ý nghĩ của chị lại bỗng đặt ra một vấn đề rất cơ bản, rất lớn.


“Làm sao nhỉ? Nếu điều đó cứ tiếp tục thì cả cái làng này sắp biến thành mụ Claudine to béo, và rồi cả tổng, cả quận, cả toàn bộ đất nước và những nước khác nữa... Một người đàn ông duy nhất sẽ đi đến nhiệm sở để nói chuyện với một mụ Claudine duy nhất... Cả thế giới sẽ lắng nghe như Claudine, cười như Claudine, nghĩ như Claudine, ăn như Claudine vào cùng một giờ, cùng một khoảnh khắc...”.


Thế đấy, trong các ý nghĩ tưởng chừng nhỏ mọn kiểu “đàn bà” của nhân vật diễn đạt bằng một ngôn ngữ gần gũi, tác giả phát hiện ra một vấn đề nhân văn ở tầm thời đại: sự phát triển khoa học kỹ thuật và sự hình thành nhân cách con người.


Gắn liền với các đặc điểm trên đây là một đặc điểm vốn đã trở thành một yêu cầu quen thuộc của bất cứ người viết văn nào: tiết kiệm lời. Chưa bao giờ các nhà văn phương Tây viết truyện ngắn lại nói nhiều đến cái cố gắng ít nói đến thế. Về mặt này, họ cũng nghĩ rằng truyện ngắn phải nghiêm khắc hơn tiểu thuyết, và ở một mức độ nào đó, truyện ngắn gần với thơ, kể cả thơ tượng trưng. Nói một cách khác, nhà văn phải sử dụng ngôn ngữ nổi (tức viết thành chữ) sao cho thể hiện được những điều ẩn ngầm dưới ngôn ngữ đó. Thậm chí có người đã nói đến “sự im lặng” của nhà văn nhưng là sự “im lặng đầy quyền lực” hay “sự im lặng của ánh sáng”. Theo cách diễn đạt của nhà văn A. Terrasse thì truyện ngắn tựa như một văn bản “kết hợp với một sự im lặng quái lạ, cái im lặng đã tạo ra chính văn bản đó, và gợi lên rằng điều chủ yếu nhất vẫn luôn luôn ở giữa lời nói và sự im lặng, treo lơ lửng...”.


Hãy lấy thí dụ tập truyện ngắn mới đây của E. Vila-Matas được nhà phê bình P. Gamarra xếp vào loại “ít lời” trên. Với cái tên Những vụ tự tử làm mẫu, cuốn sách đưa ra hàng chục truyện ngắn mang nội dung những câu chuyện trinh thám. Những con người khác nhau tự tử vì những lý do trực tiếp khác nhau: kinh doanh đổ vỡ, bị lừa đảo, chán hết mọi trò trác táng, tai họa bất ngờ, đau khổ tình yêu... Nhưng tác giả không dài lời ghi lại chi tiết của những hành vi tự sát, sự bàn tán của người xung quanh, sự tranh cãi của các thám tử hay cuộc truy lùng thủ phạm. Không có câu chuyện nào ở đây diễn ra và kết thúc chiều theo sự tò mò bình thường của người đọc. Vậy mà, gập cuốn sách lại, người đọc cứ bị ám ảnh bởi nỗi buồn triền miên, bao trùm và sâu sắc của các nhân vật, mà hầu hết là những người nghèo khổ, bé nhỏ, bị cuộc đời hắt hủi. Những nhân vật này không một lần nói thành lời nỗi buồn chán của mình, nhưng tất cả chặng đường đời bước đi trong im lặng của họ, một đôi thoáng nhìn, một đôi cử chỉ, sự chối bỏ, quên lãng hiện tại và tưởng nhớ quá khứ, đã làm cho người đọc cảm nhận thấm thía tất cả sự buồn chán của nhân vật, cho đến trang cuối cùng của truyện ngắn cuối cùng, một người ngoài cuộc đã nói thay bằng lời cái thực trạng suy sụp tâm thần đó:


“Có biết bao nhiêu nơi trên thế giới trong lúc này đang che giấu những thiên tài bí mật đó, mà tư tưởng của họ chẳng bao giờ đến được tai công chúng rộng rãi. Tưởng như thế giới này được tạo nên là dành cho những kẻ sinh ra để chinh phục nó, chứ không phải cho những kẻ thích sống mà không ai biết đến mình, thích sống trong sự vô danh hoàn toàn”.


Chúng ta có thể kết thúc bài này bằng lời của một nhà phê bình văn học kiêm xã hội học Pháp, trong khi nói không úp mở cái thực trạng một xã hội giàu có mà hỗn loạn, vẫn tỏ ra tin tưởng vai trò và tương lai của truyện ngắn:


“Thời đại chúng ta..., ý thức về sự thiêng liêng đang nhường chỗ cho sự bất kính, bàn ăn gia đình nhường chỗ cho quầy hàng “phục vụ tự do”, cử chỉ âu yếm được thay thế bằng hành động ức hiếp, hy vọng ở tương lai chỉ còn là sự chờ đợi một vụ bùng nổ... Chính trong lúc đó, truyện ngắn càng ngày càng có sức nặng, nó khai thác tận cùng từng khoảnh khắc, thỏa mãn với từng khoảnh khắc và tự xác định như vũ khí hay nơi ẩn náu của những người bi quan. Phải chăng đó cũng là đạo đức?”.


Theo tôi, chúng ta cần tôn trọng đặc điểm thể loại của truyện ngắn, nhưng mỗi người khi viết, phải tùy tài liệu mình có (câu chuyện có trước hay nhân vật có trước) ý đồ mình muốn thể hiện (xung đột xã hội hay tình cảm, tâm tư con người), ngôn ngữ mình sử dụng (đời thường, hay văn chương, có tu từ), và cái “tạng” của mình (hiện thực nghiêm nhặt, tỉnh táo hay nghiêng về trữ tình, huyền thoại), mà lựa chọn cách viết thích hợp nhất. Nhưng nếu dựa trên tình hình đất nước ta hôm nay, muốn truyện ngắn trở thành công cụ góp phần đấu tranh đổi mới xã hội, phù hợp với tâm lý thưởng ngoạn của dân tộc và nhịp điệu thời đại thông tin, thì truyện ngắn của chúng ta cần phải cô đọng, có chủ đề rõ ràng (không xuất phát từ ý niệm mà thông qua hình tượng để tạo nên tư tưởng), không nhất thiết phải có một cốt truyện thật chặt chẽ nhưng cần có một sự kiện trung tâm, đặt ra những vấn đề thiết cốt đối với cuộc sống, đi vào những biến chuyển về tính cách, tâm lý con người trong giai đoạn hiện nay; qua đó, chống những hiện tượng tiêu cực, gian dối; xây dựng nếp làm ăn có tổ chức, có năng suất và hiệu quả cao, xây dựng con người mới có tư tưởng, tình cảm và phẩm chất tốt đẹp. Trong cuộc sống sôi động và phức tạp do hoàn cảnh chấp nhận nền kinh tế thị trường, người viết truyện ngắn có thể phát hiện ra được những vấn đề mới, những tính cách mới, những nét tâm lý mới... chưa từng được thể hiện trong văn học trước đó. Truyện ngắn là một thể loại dân chủ bậc nhất, ít bị ràng buộc bởi các quy phạm, sẽ tìm cách nhập vào mọi hình thức thể tài, chọn cho mình mọi dung lượng, mọi phong cách... để làm tròn nhiệm vụ trinh sát và xung kích của văn học.


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh. NXB Văn học, 4-2007.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tào Tùng: Nhất tướng công thành vạn cốt khô - Hà Phạm Phú 25.07.2017
Nhà thơ thiên tài Joseph Brodsky: những cái may trong cái rủi - Keith Gessen 20.07.2017
Joseph Brosky: Về thơ & đời - Joseph Brodsky 20.07.2017
Kinh Thánh: Tác phẩm văn hóa vô giá của nhân loại - Nguyễn Hải Hoành 16.07.2017
Thế giới xô lệch – Đọc tiểu thuyết đương đại tiếng Việt bằng triết học nhận thức - Lê Thanh Hải 13.07.2017
Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Văn Cao - Hà Thị Hoài Phương 09.07.2017
Đôi lời về Vecte và nỗi đau của chàng - Quang Chiến 07.07.2017
Huyền thoại Faust - Triệu Thanh Đàm 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (3) - Phan Quang 07.07.2017
Thời gian không đổi sắc màu (2) - Phan Quang 07.07.2017
xem thêm »