tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20229777
Tiểu thuyết
18.07.2009
Hoài Anh
Mê Linh tụ nghĩa

Mấy năm sau ông gặp Lạc tướng Mê Linh, Hùng Định, biết Hùng Định là người nuôi chí lật đổ ách đô hộ, ông liền kết nghĩa anh em với Hùng Định, và hứa sau khi luyện xong võ công thượng thừa, sẽ góp sức với Hùng Định tổ chức cuộc khởi nghĩa. Mải lo việc lớn, ông không có thì giờ nghĩ ngợi đến chuyện riêng tư. Sau khi vợ ông gặp nạn qua đời, ông đã ngầm hứa với vong linh bà sẽ nuôi dạy hai đứa con thơ thành người. Giữ lời hứa, ông hết sức chăm sóc con tuy bề ngoài làm ra vẻ lạnh lùng nghiêm khắc để chúng biết sợ mà noi theo khuôn phép, nhưng trong thâm tâm ông thương yêu con vô cùng. Ông nhớ những lúc Giáng Vân còn nhỏ xíu, cứ thỏ thẻ hỏi mẹ đâu, nằng nặc đòi ông đi tìm mẹ về cho nó, không thấy mẹ, nó lăn ra quằn quại gào khóc dỗ thế nào cũng không níu, cho ăn gì không ăn, ông lại thấy quặn đau từng khúc ruột. Ông nhớ lúc Tĩnh Lịch mới lên năm tuổi, lẫm chẫm vào rừng chơi một mình, suýt nữa bị cọp vồ, ông cứu được nó đem về răn dạy cấm từ sau không được vào rừng một mình nữa, ông cầm roi đánh con mà mỗi nhát roi như có muối xát trong lòng ông. Đến nay con gái ông đã trốn nhà đi tư ước với kẻ khác không bẩm mệnh ông, con trai ông cũng trái lời ông kết duyên với em gái Đặng Hùng, kẻ đã phản bội con gái ông. Ông buộc lòng phải cấm Giáng Vân không cho nhìn mặt ông để nó biết phép, còn với Tích Lịch, ông đuổi ra khỏi động sau khi nguyền một câu ghê rợn: “Mày trái lời cha đi kết duyên với con gái tên phản bội ắt sau này sẽ chết chẳng toàn thây bởi mắc vòng oan nghiệt!”…


Bao năm trời có con trai con gái ríu rít quây quần chung quanh, ông cũng khuây khỏa nỗi nhớ thương người vợ hiền xấu số. Đến nay vắng chúng, ông cảm thấy cô đơn trống trải lạ lùng. Nhưng vẫn có bản lĩnh vững vàng, ông nhất quyết không chịu nhượng bộ. Ông đang được mọi người ngưỡng mộ, coi như là linh hồn của giống nòi Lạc Việt, nếu nay dung túng con gái làm điều trái với gia pháp mà không trừng trị, không những đã điếm nhục gia phong mà còn khiến cho dân chúng không còn tin tưởng vào sự công minh vô tư của ông nữa. Uy tín đã mất, ông còn mong gì được họ tôn sùng như người cầm đầu cuộc khởi nghĩa lật đổ ách đô hộ sau này…


Nghĩ như vậy ông đành dẹp bỏ tình riêng mà dồn sức nghĩ đến việc lớn. Ông biết rằng thủ lĩnh Bắc phái một tên đại ma đầu ở núi Hoa Sơn là chỗ dựa của đế chế Hán cũng như chính quyền đô hộ ở đây. Mấy năm trước đây, khi nghe tin y đã cướp được bí kíp “Cửu long huyền kinh” từ tay một thiền sư thuộc Tây phái ở Tây Tạng, giới võ lâm giang hồ đều rúng động vì họ lo sợ rằng y luyện được võ công theo bí kíp này sẽ trở nên thiên hạ vô địch không ai chế ngự nổi. Vì vậy họ hợp sức lại truy đuổi y đến cùng và khi tìm thấy chỗ trú của y, họ vây đánh y một trận kịch liệt buộc y phải giao lại cuốn kinh cho họ nếu không phải tiêu hủy tại chỗ. Bị hàng trăm cao thủ võ lâm tấn công cũng một lượt, y lượng sức biết nếu cứ liều lĩnh giao đấu thì khó lòng thoát khỏi cái chết, nên ước hẹn đến đúng ngày rằm tháng tám sắp tới sẽ tổ chức một cuộc luận kiếm ở Tản Viên Sơn, nếu ai võ công cao hơn cả thì người ấy được quyền làm chủ cuốn kinh, không ai được phép tranh giành.Nghe y hứa hẹn và thề thốt, quần hùng đều giải tán, chờ đợi.


Đúng đến kỳ luận kiếm ở Tản Viên Sơn, có mặt đông đủ cao thủ võ lâm khắp trong thiên hạ, sau những lần đấu loại cuối cùng chỉ còn bốn đại cao thủ thi tài với nhau. Hoàng Phong Lôi đã lần lượt đánh thắng thủ lĩnh Đông phái ở đảo Lưu cầu, Tây phái ở Tây Tạng và cuối cùng là Bách Diện Độc Ma thủ lĩnh Bắc phái ở Trung thổ. Bách Diện Độc Ma buộc lòng phải giữ chữ tín trước mặt quần hùng, kính cẩn trao cuốn Kinh lại cho Hoàng Phong Lôi chân nhân. Nhưng y vô cùng tiếc rẻ và căm hận thề nhất quyết phải tìm cách đoạt lại cuốn Kinh trước khi Phong Lôi luyện tập thành công theo bí kíp.


Nếu để cuốn Kinh trong tay Bách Diện Độc Ma, y luyện tập xong sẽ gây không biết bao nhiêu tai họa cho những người lương thiện chân chính, tạo nên một trường sát kiếp cho võ lâm giang hồ, không những thế y còn trở thành cánh tay đắc lực phò trợ cho Hán triều và chính quyền đô hộ ở xứ này đàn áp các cuộc nổi dậy của dân chúng, vì vậyPhong Lôi phải tìm cách giành lấy cuốn Kinh. Bởi không ham tên tuổi danh tiếng cũng không muốn áp đảo trấn phục người khác, nên có lần ông đã định tiêu hủy cuốn Kinh để vĩnh viễn sau này không còn gây nổi tai họa cho đời nếu lọt vào tay kẻ gian ác. Nhưng lại nghĩ bao nhiêu trí tuệ, sở đắc và kinh nghiệm của vị Cửu Long đaị sư tiền bối đã đúc kết trong cuốn sách này, ông không đang tâm hủy bỏ. Ông quyết định luyện tập theo cuốn Kinh, để khi thành công sẽ đủ tài trừng trị Bách Diện Độc Ma, chặn tay kẻ giúp sức cho bọn đô hộ đàn áp dân Việt.


Việc luyện công cần hết sức bí mật không để cho kẻ thù hay biết nên ông mượn cớ con trai con gái trái mệnh đuổi chúng ra khỏi động lại làm ra vẻ giận dữ đuổi hết đệ tử không dạy nữa, đóng cửa động một mình luyện tập ở bên trong. Cũng vì thế nên mặc dầu vẫn còn thương xót các con, ông vẫn phải giữ vẻ mặt lạnh lùng khắc nghiệt thẳng tay cấm cửa chúng, cốt để việc luyện võ của ông không bị ai quấy rầy, vì ông biết rằng nếu không tập trung hết thời gian, sức lực và tinh thần thì không thể khám phá ra ý nghĩa cao thâm của những khẩu quyết và đồ giải ghi trong Kinh.


Phong Lôi giở cuốn Kinh ra xem thấy mở đầu có lời tựa nói về nguồn gốc môn võ Cửu Long đại lược như sau: Thời xưa người ta di chuyển từ nước này qua nước khác, đi bằng chân hoặc bằng ngựa, trải qua núi thẳm rừng sâu gặp nhiều trở ngại bởi thú dữ cường sơn. Người có nhiệm vụ phải vượt biển băng non nếu không có bản lãnh võ thuật cao cường thì làm sao bảo vệ bản thân mà đạt thành lý tưởng.


Cho nên đạo Phật thiền lâm ở Tây Tạng muốn truyền ra nước ngoài, phải phối hợp với nhiều vị cao sư thành thạo về môn võ thuật sẵn có từ trước của địa phương tên là Cửu Long. Từ lâu đời môn võ này đã được nhân dân bản xứ ưa chuộng luyện tập, nhất là các Thiền sư là những cao thủ.


Trước khi đem đạo Phật truyền bá khắp thiên hạ, việc đầu tiên của Phật Gia là làm một cuộc đại hội thượng đỉnh các Thiền sư. Sau nhiều tháng bàn luận các Thiền sư đồng ý với nhau là phải kiện toàn cho các Sư đồ về hai mặt: Đạo hạnh và võ thuật trước khi họ lãnh trọng nhiệm qua thiên sơn vạn hải.


Trong ba năm, các thần tăng đắc đạo đã sáng tạo được 18 bài quyền, và sau 13 năm chuyên tâm sửa chữa, lại thêm thời gian là ba năm nữa khi nhận thấy không còn gì khuyết điểm các tăng mới lựa tên 18 vị Phật La Hán để đặt cho 18 bài võ.


Xong đâu đó các cao tăng mới tuyển chọn 12 vị Thiền sư có đạo hạnh, học thức uyên thâm nhất truyền cho 18 bài võ gọi Thập Bát La Hán Quyền, khởi đi từ dễ đến khó. Đến một ngày các Thiền sư tài ba này quán triệt Thập Bát La Hán mới được lệnh mỗi người một con đường đến các nước trong thiên hạ để truyền bá đạo pháp. Các vị Thiền sư đã qua 18 bài võ bước qua được mọi trở ngại: thú dữ, cường khấu..


Mười năm sau, thập nhị Sư đồ qua các xứ Tây Trúc, Trung Hoa, Lưu Cầu, Triều Tiên, Miến Điện, Chà Bà, Kim Lân, Tây Đô quốc, Mông Cổ, sa mạc Bắc phương, Hồi một, Ba Tư... trở về báo cáo kết quả với vị Đạt Ma phương trượng, và những kinh nghiệm chiến đấu vượt qua nguy hiểm dọc đường. Đại hội đã ủy thác cho ta đúc kết lại tất cả những kiến thức võ học vào một cuốn sách lấy tên là “Cửu Long huyền kinh” vừa để tỏ ý không quên gốc, vừa để phát triển thêm võ thuật này đạt trình độ cao thâm. Được đại sư phương trượng tin cậy và các đồng đạo khuyến khích, ta không nể tài sơ trí thiển đã biên soạn cuốn Kinh này để giúp cho đồng môn nắm được yếu quyết và tinh hoa của võ thuật, để luyện tập thành công làm việc cứu nhân độ thế, theo đức từ bi hỉ xả của Phật tổ. Dưới bài tựa co hàng chữ: TÂY TẠNG CỬU LONG THIỀN SƯ đề.


Đọc xong bài tựa, Phong Lôi nhớ ra trước đây sư phụ của ông đã nói theo lời các vị tổ sư truyền lại thì cuốn “Cửu Long huyền kinh” truyền sang Trung thổ đã bị đốt cháy theo lệnh đốt sách của Tần Thủy Hoàng. Nhắc đến chuyện ấy các vị đều tỏ ý tiếc rẻ vì cuốn Kinh không những đã chứa đựng những điểm căn cơ về võ học mà còn ghi chép những tuyệt kỹ công phu về võ thuật. Từ khi cuốn Kinh thất truyền, đã nhiều người ra sức tìm kiếm nhưng vẫn không ra. Thế mà ngày nay mình gặp kỳ duyên lại có trong tay Kinh vô cùng quý báu này.


Bắt đầu ông đưa vào những câu khẩu quyết trong Kinh để luyện nội công. Qua một tuần, nội lực ông tăng tiến trông thấy, khi xuất chưởng dường như có một luồng kình lực âm thầm đẩy song chưởng tới trước mà không phải khó nhọc gì.


Nhưng đến phần khai thông các đường kinh mạch, cũng như giải khai và phong bế huyệt đạo thì trong Kinh chỉ có những hình vẽ và dấu hiệu bí mật còn tuyệt không có một chữ nào.


Ông đang mải tìm hiểu ý nghĩa những hình vẽ thì bỗng nghe thấy một hơi thở nhẹ nhàng phát ra từ một góc động. Thính giác hết sức tinh nhậy đã giúp ông phát hiện ra hơi thở của kẻ lạ mặt ẩn nấp quanh đây.


Ông vội dấu cuốn Kinh vào trong người rồi rút thanh bảo kiếm chạy ra phía ngoài lùng bắt kẻ gian tế.


Nhưng trong động đá thâm u khắp bốn phía tịnh không có một dấu vết. Có lẽ kẻ gian nghe thấy tiếng động đã chạy lẹ rồi. Ông lại phi thân ra ngoài cửa động cũng không thấy gì. Ông thầm nhủ có lẽ kẻ thù đấn đây rình mò để toan cướp cuốn Kinh. Mình phải hết sức thận trọng mới bảo vệ được cuốn Kinh khỏi lọt vào tay chúng. Việc luyện công cũng như nơi tập đã bị lộ rồi, may mà ông chưa luyện đến phần khai thông kinh mạch và huyệt đạo, chứ nếu trong khi đang vận công, điều tức chân khí các huyệt đạo mở ra chưa kịp phong bế lại thì chỉ cần một kẻ võ công tầm thường cũng đủ sức đánh ngã ông.


Nghĩ nát óc ông cũng không đoán ra kẻ gian là ai, thuộc môn phái nào. Không biết mục đích nó đến đây chỉ là cướp đọat cuốn Kinh hay còn định ám hại ông. Kẻ mà dám to gan trêu vào tay ông thì bản lĩnh ắt khôngphải tầm thường không biết đó có phải là Bách Diện Độc Ma không hay một cao thủ võ lâm khác.


Trước khi vào động trong còn phải qua một khoảng vườn rộng, ông đã dùng từng hòn đá, từng gốc cây đặt theo đúng phương vị của Bát môn kỳ trận, nếu kẻ nào chưa biết qua phép kỳ trận thì không thể tìm thấy cửa Sinh để vào bên trong, mà sẽ đi vào Tử sa xuống cạm bẫy bố trí ngầm dưới đất hay cứ đi quanh quẩn trong vườn như kẻ mất hồn mê mẩn dễ bị ông bắt sống. Phép phá trận này ông chỉ dạy cho hai con và ba cao đồ: Nguyễn Trát, Triệu Tam Chinh, Đặng Hùng cùng tên tiểu đồng hầu cận. Kẻ gian là ai mà lại biết được bí pháp này? Hay tiểu đồng đã phán bội ông đi trước dẫn đường cho kẻ lạ theo xông vào trận?


Ông đi tìm tiểu đồng thì thấy nó đang nằm ngủ ngon lành trên thạch sàng. Gọi nó tỉnh dậy, nó hốt hoảng ngồi lên đôi mắt ngái ngủ chứng tỏ nó đã ngủ say từ rất lâu chứ không phải mới đặt mình giả vờ ngủ. Thấy vậy ông không nói gì, chỉ bảo nó cứ ngủ tiếp cho đẫy giấc.


Đêm đó ông trằn trọc không sao nhắm mắt được. Ông thoáng có ý nghĩ hay là gọi các con về giúp ông canh phòng bảo vệ động. Nhưng rồi ông lại gạt bỏ ngay ý nghĩ đó. Việc luyện công phải giữ tuyệt đối bí mật, ngay cả con cái trong nhà cũng không thể cho biết được.


Trong một lần Quỳnh Hương, em gái Đặng Hùng lên động thăm anh, Tích Lịch vừa gặp gỡ đã đem lòng quyến luyến. Nhan sắc nàng đã xinh đẹp kiều mỵ lại có đôi mắt đen láy đầy sức quyến rũ khiến chàng không sao làm ngơ cho được. Tích Lịch từ nhỏ đã sống với người cha nghiêm khắc trong động, chưa gần gũi nữ nhân bao giờ, đến nay mới gặp được một cô gái xinh tươi mơn mởn, chàng sao có thể cầm nổi lòng xuân. Về phần Quỳnh Hương cũng mồ côi cha mẹ từ nhỏ, thiếu thốn tình cảm ruột thịt, nay gặp một thanh niên khôi ngô tuấn tú, vóc dáng vạm vỡ lại giỏi võ nghệ, trách sao nàng chẳng đem lòng yêu mến. Nhưng hai người chỉ đầu mày cuối mắt với nhau mà chưa dám ngỏ nỗi lòng vì sợ nghiêm lệnh của Hoàng chân nhân. Thời kỳ đó, Giáng Vân đang yêu Đặng Hùng say đắm nên nàng cũng muốn cho anh mình kết duyên với em gái Đặng Hùng để cho thân lại thêm thân. Ngược lại Đặng Hùng có vẻ như không tán thành mối tình này, cho nên luôn răn đe em không nên làm điều trái lễ giáo cốt để chiều lòng sư phụ mình.


Đến khi Đặng Hùng đã trở lại quê nhà, Tích Lịch kiêm cớ đến thăm, chàng và Quỳnh Hương có dịp tự do gặp nhau thì tình cảm giữa hai người càng trở nên mật thiết và gắn bó. Lúc này Đặng Hùng lại cố vun vào mối tình của hai người muốn mượn chuyện đó để chuộc bớt cái lỗi đã phụ bạc Giáng Vân. Nhưng Phong Lôi vì giận Đặng Hùng đã đối xử tệ bạc với con gái ông, nên nhất quyết không cho con trai kết duyên với em gái kẻ phản bội. Tích Lịch đã hết lời cầu khẩn cha cho mình cùng Quỳnh Hương nên duyên chồng vợ nhưng ông một mực khước từ. Ông còn đe dọa rằng nếu Tích Lịch không tuân lời ông mà cứ kết duyên với em gái Đặng Hùng, ông sẽ từ không nhận là con nữa. Tích Lịch thương nhớ Quỳnh Hương không sao chịu nổi đã trốn khỏi động về Câm Giang chung sống với Quỳnh Hương, định làm sự đã rồi, đợi ngày một ngày hai khi cha bớt giận sẽ về tạ tội sau. Đặng Hùng cũng bằng lòng cho em gái mình kết duyên với Tích Lịch và cho chàng trú ngụ trong nhà mình. Cả Diệu Tiên cũng rất quý mến Quỳnh Hương và Tích Lịch nên vợ chồng chàng ở Phạm gia trang cũng tạm được yên ổn.


III


Ngôi nhà sàn ở xóm nội nhà thuộc Kẻ Lói(1), một đầu gác lên sườn đồi, đầu kia trên cọc ngoãm. Khung nhà bằng tre gỗ bương vầu, mái lợp lá cọ. Mái cong hình thuyền và sàn thấp. Dưới mái gối sát sàn nhà, thang lên nhà đặt ở mặt trước tức mặt có chiều dài của sàn nhà. Dưới gầm sàn dùng làm chuông trâu bò lợn gà đặt đuống giã gạo. Cạnh nhà ở có nhà kho, đó cũng là nhà sàn, thấp, tròn, mái hình mui thuyền.


Giữa nhà là chiếc sập bằng gỗ mun của Lạc tướng Hùng Định ngồi. Trước mặt ông có điếu, hộp thuốc, cơi trầu và ống nhỏ bằng đồng thau. Trên án đặt một chiếc bình gốm hình con rùa, có dáng dẹt, tròn, miệng tròn nhỏ, cổ ngắn và xiên ve một phía ở rìa cạnh. Mặt lưng hơi khum lên, nơi giao tiếp giữa mặt lưng va đáy lồi nhọn thành đường gò, có tai với lỗ xâu dây. Mặt lưng có văn khắc vạch thành những đường ngắn song song, phối hợp với những đường nét uốn lượn thành đồ án cân đối theo với miệng bình. Ngoài cùng có vành đai hình móng ngựa. Tiếp đến là đồ án giống hình thước thợ và dưới chân hình là đường văn uốn vòng ở hai đầu đối xứng. Bụng phình ra, trên có đồ án hoa văn khuông nhạc hình chữ S, phía trên và dưới dải hoa văn hình chữ S có những dải hoa văn làn sóng gợn nhẹ. Đáy tròn và có chân đế thành phẳng. Trong bình cắm hoa.


Đằng sau án đặt hai chiếc thạp bằng đồng thau, đựng đồ vật.


Hùng Định ngồi tay tựa lên gối mây, uống trà xanh đựng trong chiếc bát gốm màu xám có chân đế hình ống cao, giống hình cốc uống rượu có chân. Miệng loe, thành miệng bề ngang, thân thu hẹp dần về phía dưới, đáy tròn hơi lồi. Dưới đáy có chân đế cao hình ống trụ tròn, trên rộng, dưới hẹp. Dưới chân trụ có đế tròn, bè rộng.


Ô gian bên vọng lại tiếng khung cửi kêu lách cách của bà Trần Thị Đoan, vợ ông. Tuy là mệnh phụ, nhưng bà Đoan vẫn tự tay trồng dâu, nuôi tằm, ướm tơ, kéo kén, dệt vải như một phụ nữ lao động bình thường. Nghề tằm tang, gọi cái kén dày là kén chắc, kén mỏng là kén nhì, khi sinh hai con gái, bà lấy luôn hai tiếng đó mà đặt làm tên con.


(còn tiếp)


Nguồn: Mê Linh tụ nghĩa. Quyển 1 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2006.







(1) Nay là làng Hạ Lôi, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
xem thêm »