tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682457
Lý luận phê bình văn học
16.07.2009
Hoài Anh
Xác và Hồn của tiểu thuyết (8)

Tại sao quen biết mà lại lạ? Quen biết vì đó là những hiện tượng thực tế, những sự vật và hiện tượng trong cuộc sống, nhưng lạ vì đã được thông qua sức tưởng tượng của nghệ sĩ để cải tạo chúng một cách sáng tạo và trình bày bản chất của chúng, tức là tìm ra cái chung trong đó qua hình thức cá biệt, qua hình tượng độc đáo do nghệ sĩ xây dựng nên. Như vậy nghệ sĩ thể hiện lý tưởng mỹ học, tư tưởng chủ đạo, và tình cảm của mình bằng hình tượng nghệ thuật. Mối tương quan biện chứng giữa cái phổ biến và cái cá biệt trong thực tế khách quan cũng là tiền đề hiện thực để trình bày bản chất của quá trình và các hiện tượng của đời sống bằng hình tượng nghệ thuật. Tóm lại điển hình hoá là một quá trình vừa khái quát hoá vừa cá tính hoá. Đó là sự khái quát truyền sự sống. Engels từng đòi hỏi: “phải xây dựng được những tính cách điển hình trong hnững hoàn cảnh điển hình” và trong thư gửi Lassalle, Engels đề ra yêu cầu về sự thống hợp hoàn mỹ tính chất sâu sắc về mặt tư tưởng, nội dung lịch sử có ý thức… với tính sinh động và tầm rộng lớn của hành động theo kiểu Shakespeare, quá trình điển hình hoá là việc xây dựng điển hình dựa trên cơ sở phân tích và tổng hợp rất nhiều hiện tượng của cuộc sống. Hình tượng điển hình dù có nguyên mẫu thực tế hay không bao giờ cũng là sự khái quát những thuộc tính bản chất của các hiện tượng trong cuộc sống bằng các hình thức thẩm mỹ cá biệt. Nhân vật Hoàng trong Đôi mắt của Nam Cao sở dĩ thành công vì tác giả đã xuất phát là nguyên mẫu là một nhà văn tiền chiến thuộc thành phần tiểu tư sản lạc hậu, ngoài ra nhà văn còn kết hợp với những nét quan sát được ở các nhà văn khác cùng loại. Tất cả được nhào nặn lại để sáng tạo nên nhân vật Hoàng, tuy có nét chung của những người tiểu tư sản lạc hậu là cầu an, dao động, coi thường quần chúng, thích giao du với các tầng lớp phong kiến, tư sản… nhưng cũng có những nét riêng như sùng bái cá nhân, quý bạn, thích đọc truyện Tàu. Những chi tiết như: Hoàng có lệ đêm nào cũng phải đọc vài trang trong truyện Tàu mới ngủ được, nhất là cái câu kết: “Tiên sư anh Tào Tháo” thật tài tình sống động, vẻ ra được tính cách nhân vật sở dĩ phải chửi vì yêu loại nhân vật gian hùng này quá. Chính do sự miêu tả một cách chân thật những chi tiết này mà hình tượng Hoàng có tính chất độc đáo rõ rệt. Tính chân thật, năng lực diễn tả chi tiết là những phương tiện quan trọng nhất để xây dựng hình tượng điển hình.


Theo nhà nghiên cứu văn học Xô viết Boris Suskov: “Ở các nhân vật bao giờ cũng được điển hình hoá đậm nét của Gorky, những bản năng, những quan điểm giai cấp và xã hội được biểu hiện rành rẽ lạ thường. Gorky trong khi miêu tả con người trong tính sung mãn và tính toàn vẹn các phẩm chất và đặc điểm cá nhân của họ, không bao giờ đem lược quy tính cách vào bản chất xã hội của nó, mặc dù ông miêu tả nội dung giai cấp của nó hết sức rõ ràng”, “chủ nghĩa lịch sử của Gorky không chỉ quy vào việc miêu tả được những điển hình, tính cách, những tương quan giữa các nhân vật phù hợp với chân lý khách quan của lịch sử đành rằng chỉ riêng điều này cũng là một thành tựu to lớn của nghệ thuật hiện thực chủ nghĩa. Là một nhà tư tưởng và một nghệ sĩ cách mạng, tư tưởng về sự phát triển là hữu cơ đối với ông. Gorky đã miêu tả cuộc sống và lịch sử trong sự vận động bất tuyệt (Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực).


Ở nước ta thời trước cách mạng, cuộc sống quẩn quanh tù đọng, nên đã có những tiểu thuyết, những truyện ngắn đủ khả năng khép lại cả một đời người. Nhưng từ Cách mạng tháng Tám đến nay, cuộc sống đổi mới từng ngày, con người cũng đổi mới theo và có những bước đột biến vụt lớn hẳn lên, trưởng thành và chín chắn cả về cách nhìn, cách nghĩ. Cùng một đề tài “con trâu” nhưng từ bác xã Chính của Trần Tiêu, cả đời mơ ước có một con trâu mà đến lúc nhắm mắt vẫn chưa thực hiện được, cho đến ông Học của Nguyễn Văn Bổng đề xuất ra biện pháp vừa chiến đấu chống Pháp giữ làng vừa đào hầm bảo vệ trâu để tiếp tục sản xuất là cả một bước tiến trong tư tưởng, tình cảm người nông dân Việt Nam ở giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ. Nhưng đến “con trâu bạc” của Chu Văn thì lại phản ánh cuộc đấu tránh tư tưởng phức tạp của người nông dân trong bước đầu đi vào con đường tập thể xã hội chủ nghĩa. Phải nói rằng chúng ta có thể có nhiều thành công trong cụm đề tài cách mạng dân tộc dân chủ, nhưng đến đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự chuyển biến về tâm lý và tư tưởng của nhân vật trong nhiều tác phẩm còn gượng gạo, chưa thể hiện được quá trình đấu tranh gay go, quyết liệt để đi tới nhận thức chân lý của cách mạng. Đâu phải một con người sống bừa bãi vạ vật không có lý tưởng, sau khi giác ngộ, đi lên công trường, nông trường rồi là mọi việc xuôi chảy không còn chuyện gì xảy ra. Cũng như đâu phải một nông dân nặng đầu óc tư hữu sau khi nghe giải thích hoặc nhớ lại một vài kỉ niệm thời kháng chiến là chuyển biến xin vào hợp tác xã nông nghiệp, rồi sau đó cái gì cũng thuận buồm xuôi gió không có vấn đề gì nữa. Lối dựng nhân vật một chiều như thế khiến người ta liên tưởng tới đến những hình vẽ bằng bìa cứng trong phim hoạt hình khi chưa có sự tham gia của hoạ sĩ vẽ động.


Nhiều nhân vật mới chỉ được quan sát trên bình diện chính trị mà không được quan sát trên bình diện luân lý - xã hội hoặc bình diện triết lý lịch sử., để qua đó soi sáng những khía cạnh tinh thần, đạo đức của nhân vật, lý giải một cách có nghệ thuật quá trình hình thành tính cách mới xã hội chủ nghĩa trong con người thời đại chúng ta.


Nếu như đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực phê phán là chủ yếu tìm hiểu hậu quả tâm lý, đạo đức của tình trạng không bình thường trong quan hệ xã hội và phân tích ảnh hưởng của chúng với tâm hồn con người, thì với phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa, sự phân tích tâm lý rất cần thiết để bổ sung đào sâu thêm về sự phân tích xã hội và bản thân nó cũng trở thành công cụ nghiên cứu xã hội. Điều đó đã được bắt nguồn từ lớp Tolstoð mà “sự sáng suốt tinh tường về mặt tâm lý kết hợp với sự hiểu biết chính xác những động cơ hành vi con người, liên hệ hữu cơ của thế giới bên trong các nhân vật với môi trường xã hội đã cho phép nhà văn xem xét và miêu tả những quá trình diễn ra trong bản thân cuộc sống (Boris Suskov, sách đã dẫn).


Con người không chỉ là sản phẩm của tự nhiên mà là sự thống nhất các yếu tố đạo đức, tâm lý, sinh lý, nếu chỉ trình bày trên mặt cắt xã hội tức là phá hoại tính toàn vẹn của nó. Marx và Engels viết: “Nếu như tính cách của con người được sáng tạo bởi hoàn cảnh vậy thì phải làm cho hoàn cảnh mang tính chất người”. Chúng ta tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội đồng thời cũng phải xây dựng một nếp đạo đức xã hội chủ nghĩa trong đó lợi ích riêng tư của từng người trùng hợp với lọi ích chung của mọi người. Vì vậy không thể không chú ý chăm sóc nhân vật về mặt phẩm chất và lý tưởng đạo đức.


Nhiều tác giả chỉ sao chép thực tế mà ít khi sử dụng phương pháp phóng đại, đó là bản chất của điển hình hoá. Theo Gorky: “Nghệ thuật tự đặt ra cho mình nhiệm vụ phóng đại cái tốt khiến cái tốt càng tốt hơn, phóng đại cái xấu, cái thù địch với con người, cái huỷ hoại con người khiến cho cái xấu ấy gây ra sự ghê tởm, gây ra ý chí thủ tiêu mọi cái xấu trong cuộc sống, do chủ nghĩa thị dân tầm thường ti tiện đẻ ra”.


Ở một chỗ khác, ông còn khẳng định thêm: “nền nghệ thuật chân chính bao giờ cũng có ít nhiều phóng đại” và “trong nghệ thuật ngôn ngữ, quyền được phóng đại biểu hiện dưới hình thức điển hình hoá”.


Đành rằng trong thực tế cuộc sống quả nhiên có loại nhân vật trong sáng, giản dị như kiểu Đại đội trưởng Huỳnh Ý Tiên trong Người cầm súng của Lê Lựu chẳng hạn nhưng từ đó mà tác giả nào cũng dựng nhân vật chính của mình với tính cách giản đơn không phức tạp thì lại thành ra một công thức mới. Có cái đẹp trong sự giản dị nhưng cũng có cái đẹp thoát lên từ cuộc đấu tranh đầy dằn vặt với bản thân để vứt bỏ nếp cũ. Có khi đó tác giả chưa tinh, chưa nhìn thấy những mặt phong phú trong một tính cách bề ngoài tưởng chừng bình thường đơn giản đấy thôi. Trong nhân vật Tsapaev của Furmanov, bên cạnh tài năng lỗi lạc và tình đồng chí, tình giai cấp nồng nàn, tác giả đã miêu tả những nhược điểm, khuyết điểm kỳ khôi hoặc thậm chí nguy hại như muốn chỉ định một gã lang băm làm phụ tá y sỹ hoặc như nổi nóng cãi cọ với đồng chí chính uỷ. Rất có thể tác giả dã phần nào cường điệu nhưng người ta vẫn thấy thực vì sự phóng đại này chỉ nhằm làm nổi rõ tính trung thực, quả cảm của nhân vật mà không bóp méo nhân vật đó. Lev Tolstoð cũng viết: “cần phải cường điệu một tác phẩm nghệ thuật để nó có sức thấm sâu. Cường điệu chính là làm cho nó (hình tượng - HA) được hoàn thiện về mặt nghệ thuật, như thế nó sẽ trở nên hấp dẫn và sẽ thành công bằng sự tái hiện”.


Sự cường điệu về mặt thẩm mỹ là một đặc tính phổ biến của nghệ thuật. Nhưng nên nhớ rằng điển hình hoá, cường điệu hình tượng không thể nào thực hiện được nếu không có tưởng tượng, không có hư cấu. Tưởng tượng không chỉ là chất men của sáng tạo mà còn là một yếu tố cần thiết của quá trình phản ánh nói chung. Lênin nói: “Trong mỗi khái niệm đều có đôi phần tưởng tượng”.


Trong tác phẩm đầu tiên, có tác giả may mắn gặp được mẫu người thật quá hay, hội đủ điều kiện trở thành nhân vật điển hình, nên đã có những thành công vượt bậc. Nhưng nếu tác giả đó không có sức tưởng tượng, hư cấu mạnh mẽ, phong phú thì rất khó khăn cho những tác phẩm về sau khi không gặp được chất liệu lý tưởng đó. Câu chuyện trong Cựu sấm truyền về anh chàng nhân đi tìm con lừa cho bố mà bất ngờ tìm thấy một vương quốc, không phải là chuyện thường xảy ra trong cuộc đời. Do đó không thể giải quyết điển hình hoá một cách đơn giản theo lối lâm sàng với những nguyên mẫu chộp được “tại trận”, mà cần có vốn sống tích luỹ lâu dài. Điển hình hoá có tính chất phổ biến. Nó bao gồm toàn bộ sự sáng tác của nhà văn từ việc nghiên cứu cuộc sống mà chưa có một cấu tưởng nghệ thuật rõ rệt, sự ấp ủ một tác phẩm cụ thể cho đến việc cấu thành tác phẩm ấy bằng chất liệu. Cả trực quan sinh động lẫn công việc khái quát nghệ thuật của nghệ sĩ đều có tính độc đáo. Cũng vì thế nên Gorky đã nhấn mạnh: “Nghệ thuật là nghệ thuật điển hình hoá”.


Trong thực tiễn văn học đã có những tác phẩm thành công nhờ ở chỗ nhà văn có phong cách, phương pháp điển hình hoá rõ rệt. Như trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, với phương pháp cường điệu mang tính chất hài hước, châm biếm, tác giả dựng nên một mô hình và đời sống thực tại những năm 1930 - 1939, nhưng mô hình này với nguyên tác (tức là khách thể tương ứng được tái hiện trong mô hình) không đặt ra vấn đề giống nhau ở cấp vật thể - cảm giác, tức là sự giống nhau bên ngoài mà ở sự tương đồng về cấu trúc (liên hệ cốt yếu giữa các yếu tố) và cơ chế với những quá trình phản ánh. Do đó chúng ta thấy những nhân vật như Xuân Tóc Đỏ, bà Phó Đoan, ông Tuyp-phờ-nờ, cụ cố Hồng,… tuy được vẽ bằng những nét biếm hoạ nhưng vẫn rất thật vì tác giả đã nắm bắt được cái thần của nhân vật. Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao cũng là một mô hình về tương quan thực tại giữa một là Bá Kiến tượng trưng cho giai cấp địa chủ phong kiến và một bên là Chí Phèo, tiêu biểu cho lớp cố nông lưu manh hoá, qua đó phơi bày những cấu trúc và cơ chế của thực tại nông thôn dưới chế độ thực dân phong kiến. Do thế giới quan hạn hẹp nên sự phản ánh ấy còn có phần phiến diện, lệch lạc nhưng không phải vì thế mà chúng ta phủ nhận cả phương pháp điển hình hoá nêu trên vì nó đã gắn liền với một thời đại lịch sử nhất định, đêm trước của Cách mạng, cũng là thời kỳ của chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học. Từ sau Cách mạng tháng Tám, những tác phẩm của ta đã đáp ứng yêu cầu của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, nhưng vẫn rồn tại những phương pháp và phong cách điển hình hoá khác nhau.


Trong việc nâng cao chất lượng tác phẩm văn xuôi, một yêu cầu quan trong cần đặt ra là cần tăng thêm mật độ số nhân vật điển hình có sức sống trong văn học. Nếu như ngạn ngữ phương Tây có câu: “Anh hãy nói anh chơi với ai tôi sẽ nói anh là ai” thì chúng ta cũng có thể nói: “Anh dựng được nhân vật điển hình đến mức nào, tôi sẽ nói anh là nhà văn cỡ nào”. Chỉ bằng con đường xây dựng những tính cách điển hình để phản ánh những điển hình xã hội thực tế thông qua nghệ thuật, chúng ta mới thực hiện đúng yêu cầu của Gorky: “Văn học là nhân học”.


 


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh. NXB Văn học, 4-2007.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cảm nhận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thảo luận về tiểu thuyết Đám cưới không có giấy giá thú - Nhiều tác giả 22.06.2017
Hổ Thần và những điều thú vị khi đọc truyện ngắn dã sử - Triệu Xuân 31.05.2017
Truyện Dị sử của Ngọc Toàn - Triệu Xuân 31.05.2017
Từ cảm thức hiện sinh nghĩ về quan niệm sáng tác của Bích Ngân trong “Thế giới xô lệch” - Trần Hoài Anh 24.05.2017
Nhân vật chấn thương trong “Thế giới xô lệch” của Bích Ngân - Đoàn Thị Ngọc 23.05.2017
Văn hóa lâm nguy - Pierre Bourdieu 21.05.2017
Puskin và Gogol - hai kiểu sáng tác trong văn học Nga - Đào Tuấn Ảnh 15.05.2017
Người con gái viên Đại úy - Lê Thời Tân 15.05.2017
Người viết tiểu thuyết lịch sử, anh là ai? - Hà Phạm Phú 15.05.2017
xem thêm »