tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18982855
Lý luận phê bình văn học
15.07.2009
Hoài Anh
Xác và Hồn của tiểu thuyết (7)

Balzac nói: “Nhân vật tiểu thuyết là bất cứ kẻ nào ta gặp ngoài đường, nhưng là kẻ chịu đi tới tận cùng cuộc sống của mình”. “Kẻ gặp ngoài đường” tức là kẻ một kẻ giống với mọi người không có gì khác thường, một nhân vật rất “người”. “Một kẻ chịu đi tới cùng cuộc sống của mình” tức là một nhân vật chịu sự phân tích đến cùng cực sâu xa, bị tác giả đặt vào những hoàn cảnh làm cho phải phát huy hết bản sắc cá tính của mình.


Charles Plisnier thanh minh rằng, nhiều lúc ông không hề muốn nhúng tay vào máu, nhưng nhân vật của ông, họ cứ gây ra án mạng, không sao ngăn cản được. Không ngăn cản được bởi vì phải để cho họ hành động theo tâm lý độc ác của họ, theo phản ánh tâm lý tự nhiên của họ, nếu ngăn cản họ thì thành ra không thực nữa. Lev Tolstoð cũng có những lời phân bua như thế: “Các nhân vật nam nữ của tôi nhiều khi cũng làm những chuyện mà lẽ ra tôi không muốn làm; họ làm cái gì mà trong cuộc sống thực tế họ tất phải làm, cái gì vẫn xảy ra trong cuộc sống thực tế, chứ không phải cái gì tôi muốn.”


Có tác giả tuy có nhận thấy rằng nhân vật trong tiểu thuyết bị giản lược đi, không đúng với thực tế nữa, nhưng vẫn thích cái “dễ hiểu” của nhân vật tiểu thuyết hơn, chẳng hạn như André Maurois. Ông nói: “Người là những nhân vật rắc rối không tưởng tượng được. Khi ta đến với họ bằng cách tiếp xúc gần gũi, bằng cách chuyện trò với họ, hay là qua những thư từ ký ức của họ (như trong các quyển truyện ký), ta thấy họ có nhiều mặt vô cùng, và ta chỉ cố gắng vô ích nếu muốn tìm tòi một hình ảnh chân xác. Trái lại, nhân vật tiểu thuyết được tạo ra do tác giả; tạo ra bởi bàn tay người, nhân vật tiểu thuyết chỉ chứa đựng những gì con người hiểu được. Những nhân vật ấy mang lại cho độc giả hình ảnh một tâm hồn có thể là quá giản lược nhưng ít ra cũng dễ hiểu”.


Nhưng còn những tác gia khác như André Gide, ngay từ khoảng trước1920 trong các cuốn Sotie đã phản đối những nhân vật tiểu thuyết với những diễn biến tâm lý dễ hiểu, có đầu có đuôi, hợp lý, được phân tích, mô tả từng chi tiết.


André Gide trong Bọn làm bạc giả, viết: “Sự chỉ trích nhằm vào điểm nhà văn nhằm vào tâm trí nhân vật, và giật dây cho nhân vật hành động, thái độ của nhà văn như thế là thái độ không thành thực. Trong một vũ trụ trở thành tương đối không có cái gì chắc chắn, không một hệ thống phối trí nào đứng vững được, người nào khư khư ôm lấy những nguyên tắc ngàn xưa sẽ hóa ra người giả dối, người có thái độ gàn dở, cằn cỗi; sở thích của người đọc ngả về phía nhà văn tìm đường lối xử kỷ tiếp vật ngay trong đời sống, trong cảm hứng, ngẫu nhiên và phiêu lưu. Sở dĩ nhiều nhà văn như muốn đả phá luân lý, kỷ cương hình thành là bởi họ không thể cho rằng luân lý ấy có thể có giá trị phổ quát trong một thế giới mà không có cái gì phổ quát cả. Nhân vật được nhà văn yêu mến là nhân vật tìm đường xử thế và chân lý của mình chứ không phải nhân vật đã có sẵn cả rồi, nhà văn chỉ việc lấy làm khoan khoái mà mô tả mẫu người từ đầu chí cuối xử sự thật đúng như họ tiên liệu… Nhà văn muốn làm cho người đọc khâm phục họ tiên đoán không sai, nhưng tôi chỉ thấy như vậy là vá víu, giả tạo”. Cùng một quan điểm, trong Tuyên ngôn của chủ nghĩa siêu thực, André Breton viết: “Tác giả nhằm vào tính tình của nhân vật và khi đã xác định tính tình ấy, rồi họ theo dõi nhân vật qua các hoạt động ngoài đời. Dầu sao thì phản ứng và hoạt động của nhân vật cũng được dự tính trước, nhân vật không được đi sai đường, làm rắc rối cho tác giả, tuy rằng nhân vật làm ra vẻ hành động trái với sự tính toán của tác giả. Sóng đời có thể làm như dồn họ đi, dìm họ xuống, tung họ lên, nhưng thực ra họ vẫn là mẫu người mà tác giả đã tạo ra họ. Đó chỉ là một ván cờ xuông, tôi không buồn ngó tới”. Salvador Dali cũng nói: “Nhóm siêu thực mà nhập tâm được quan điểm “tự động” của họ, thì họ thanh toán mọi khả năng cấu tạo tính nết của một nhân vật”.


Có tác giả như Lui Pirandello, trong cuốn Một, không và trăm nghìn nhân vật, trình bày một nhân vật - Genge Mascarda - tự thấy mình mãi mãi thay đổi, hôm nay khác hôm qua, phút này khác phút trước, tưởng chừng mình không còn phải là một người mà là trăm nghìn người khác nhau, tưởng chừng mình chưa bao giờ là mình, là một kẻ có nét tâm lý nhất định cả.


Có tác giả như Claude Simon đã dựng lên một nhân vật không phải do những tài liệu nhận xét trực tiếp của người viết truyện, mà là do sự hồi tưởng của ba nhân vật khác, mỗi nhân vật đóng góp một phần. Vị đại úy trong truyện Con đường Flandres là một nhân vật “ma”, một nhân vật lần hồi chiêu hồn về, lần hồi xuất hiện từng phương diện qua ký ức của ba anh lính. Ta tự hỏi nếu trong đám ấy có thêm một anh lính thứ tư, thứ năm, thứ mười, v.v… thì hình ảnh của vị đại úy sẽ đến ra sao?


Không chỉ dừng lại ở địa hạt tâm lý, người ta tiến sâu vào cõi sinh hoạt thầm kín nhất của ý thức, vào tới tận tiềm thức, ở đó chưa kịp thành hình những tình cảm, ở đó chỉ bắt gặp những mớ xúc cảm lộn xộn, mâu thuẫn, ước muốn kỳ quặc, táo bạo,… Một nhân vật nọ của George Duhamel được ông chủ sở gọi đến, bỗng nhiên nảy ra cái ý muốn sờ thử vào vành tai ông ta. Trong quyển Nhà hành tinh của Nathalie Sarraute, một người đàn bà lấy làm tiếc vì anh thợ vụng đã gây nên mấy tì vết làm xấu cánh cửa đẹp. Bà ta nghĩ lui nghĩ tới mãi về cái vết ấy, bị ám ảnh mãi, và cuốn tiểu thuyết cứ ghi lại những ý nghĩ quanh quẩn lẩn thẩn đó hết trang này đến trang khác.


Trình bày như thế, cuộc sống đầy những nhám nhí, lố lăng vô lí (incongruite), và nhân vật không còn là nhân vật nữa.


Trong Buồn nôn, anh chàng Roquentin của Sartre có một lần nhìn vào gương và anh ta thấy con mắt thành ra một cái gì mềm nhùn nhũn, đục mờ, có vành đỏ loét, như thể là vẩy cá, thấy mồm, thấy trán đều quái gở, anh ta không thấy khuôn mặt nữa mà là những vật dị dạng, dễ sợ, gần như là thảo mộc, là san hô.


 Cuối cùng nhân vật ngay cả tên họ cũng biến mất. Nhân vật trong tiểu thuyết Finnegan thức dậy của Jame Joyce là gia đình của lão chủ quán Dublin tên là H.C Earwiicker, tức là H.C.E có thể hiểu là Here Comes Everyman (Mọi người tới đây)… Vì thế các nhân vật hai vợ chồng chủ quán và hai con trai hiện ra cùng một lúc dưới nhiều dạng vẻ khác nhau, bộ mặt và tên tuởi khác nhau, khi là người này, khi là người khác…


Trong tiểu thuyết Giữa sự sống và cái chết của Nathalie Sarraute, chẳng còn một nhân vật nào được tác giả đặt tên cho nữa. N. Sarraute báo trước với mọi người: “Bạn đọc nào cứ theo thói quen tìm các nhân vật khắp nơi, cứ mất thời giờ cố công ra sức sắp xếp các biến động, các tình huống hợp thành nội dung chính của cuốn sách này, sẽ nhận ra rằng mọi cố gắng của mình… đã đến chỗ dựng nên một nhân vật tạo bởi những mảnh tạp nham khó lòng đứng vững”.


Nhân vật nhà văn trong Giữa sự sống và cái chết dường như còn táo bạo hơn cả N. Sarraute trên hướng tiến tới một loại tiểu thuyết “thuần túy”, “trừu tượng”. Sau bao nhiêu lần viết rồi lại xé anh ta nhận ra rằng tiểu thuyết không đi theo còn đường xây dựng các nhân vật. “Thôi, chẳng có những Ballut, Chenut, Dulud, Tarral, Magnien hoặc gì gì khác nữa - anh nói - Người ta sẽ cóc cần đến chúng. Không cần đến cái gì cả”. Vậy tiểu thuyết còn lại cái gì? “Chỉ có những từ ngữ mà thôi, - anh tiếp - Những từ ngữ nảy ra từ bất cứ đâu, các bụi bặm vật vã trong không khí mà chúng ta hít thở, các vi trùng, vi rút,… ai ai cũng bị đe dọa. Các vị cũng như tôi, chẳng ai trong chúng ta có thể yên tâm là mình vô sự. Những từ ngữ tầm thường cũng chẳng phải là để nói các vị đâu. Các từ ngữ mà những người không quen biết trao đổi với nhau ở bàn bên cạnh trong tiệm ăn, đi trước mặt các vị ở ngoài phố,… ngồi gần các vị trong xe buýt,…”.


Từ ngữ và từ ngữ. Chúng là tất cả đối với anh ta. “các từ ngữ là những bậc chúa tể của anh. Kẻ thần dân hèn mọn của chúng cảm thấy quá vinh hạnh được nhường ngôi nhà của mình cho chúng. Chúng cứ tự nhiên như ở nhà mình, tất cả ở đây là của chúng, chúng là các chủ nhân duy nhất”.


Tiếp theo trào lưu “Tiểu thuyết Mới” là phong trào lại quay về phương pháp tự sự (re-narrativation) và phương pháp hư cấu (re-fictionnalisation) nhân danh yêu cầu phải tạo ra “lạc thú khi đọc văn”; nhưng bay giờ cách hư cấu công nhiên tuyên cáo là văn bản thuần túy nhằm kêu gọi độc giả tự khẳng định bản sắc cảm xúc của mình cũng như tác động và năng lực bản thân của độc giả để giữ  một độ giãn cách về cự ly và khách quan hóa, nhất là phải dựa váo tính chất liên văn bản (intertextualité) có thể phát triển tới mức “phỏng tác”. Chẳng hạn các tiểu thuyết của Michel Tournier (Chàng Thứ Sáu hay cõi u minh của Thái Bình dương thực chất là viết lại tác phẩm Robinson Crusoe. Le Medianoche amoureux vận dụng tất cả mọi thủ pháp tự sự), của Italo Calvino (Nếu đêm đông có một lữ khách), trong đó bản thân chủ đề là mối liên hệ tác giả – độc giả – hư cấu), của Umberto Eco (Tên củahoa hồng), Con lắc Foucault) và toàn bộ văn nghiệp của J. L. Borges là những ví dụ hoàn chỉnh của văn chương hậu hiện đại, trong đó văn bản chẳng qua chỉ là danh mục các ký hiệu mà chính nó cũng sản sinh ra các ký hiệu.


Chúng ta không cần đi quá xa mà hãy trở về với định nghĩa của Biélinski: “Nhân vật điển hình là một người lạ - quen biết”.


ĐI TÌM “NGƯỜI LẠ QUEN BIẾT”


Chúng ta đều thấy rõ vai trò quan trọng của việc xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết, truyện ngắn. Bởi vì đề tài, chủ đề, cốt truyện … còn có thể sử dụng những môtip lặp đi lặp lại nhưng nhân vật trong tác phẩm này cần phải có những nét riêng biệt so với nhân vật trong tác phẩm khác, hoặc từng nhân vật trong cùng một tác phẩm cũng phải khác nhau. Môtíp “con người tiểu tư sản” “sống mòn” được sử dụng trong nhiều tác phẩm của Nguyên Hồng, Nam Cao trước Cách mạng, nhưng nhân vật trong những tập truyện Cuộc sống, Miếng bánh, Hơi thở tàn, Ngọn lửa của Nguyên Hồng không giống như nhân vật trong Sống mòn, Nửa đêm của Nam Cao. Môtíp “con người bị bóc lột dưới xã hội cũ vươn mình” được sử dụng trong nhiều tác phẩm của Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng,… nhưng A Phủ trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài khác với anh Lục trong Truyện anh Lục của Nguyễn Huy Tưởng. Môtíp “con người miền Nam đi từ đấu tranh tự phát đến tự giác” được sử dụng trong nhiều tác phẩm của Nguyễn Thi, Anh Đức, Phan Tứ… nhưng chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, khác với chị Sứ trong Hòn Đất của Anh Đức và cô Mẫn trong Mẫn và tôi của Phan Tứ. Môtíp “tình cảm đồng chí đồng đội đã góp phần cổ động viên thúc đẩy con người quyết tâm chiến đấu” được sử dụng trong những truyện ngắn Thư nhà của Hồ Phương, Gặp gỡ của Bùi Hiển, Mầm sống của Triệu Bôn… Nhưng nhân vật trong những truyện này lại có những nét riêng. Cùng viết về những biến đổi của nông thôn trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng nhân vật của Vũ Thị Thường, Vũ Tú Nam, Chu Văn, Nguyễn Địch Dũng, Nguyễn Kiên… đều có những nét khác nhau, dù rằng về cốt truyện của nhiều truyện ngắn tương đối gần gũi. Do đó có thể thấy, việc tìm lại một cốt truyện nhiều khi không mang lại tác dụng quyết định cho việc thành công của một tác phẩm. Bởi vì những mô-típ cốt truyện thường ít thay đổi và bất kỳ người nào từng trải cuộc sống đều có thể kể được một câu chuyện có những tình tiết sống, ly kỳ, hấp dẫn nhưng không phải bất kỳ ai cũng có thể xây dựng được một nhân vật sống có tính cách rõ nét. Mối quan hệ khăng khít giữa nhân vật với cốt truyện được Henry James tóm tắt như sau: “Nhân vật là gì nếu không do biến cố, tình tiết tạo thành? Biến cố tình tiết là gì nếu không do nhân vật biểu trưng”.


Thường thường đọc một tác phẩm, có thể lâu ngày người ta quên đi cốt truyện, nhưng nhân vật đậm nét thì người đọc lại nhớ lâu vì đã để lại ấn tượng mạnh mẽ, sâu xa cho họ. Có người nói: “nhà tiểu thuyết suy nghĩ bằng nhân vật” quả cũng không ngoa.


Khi nói đến một nhà văn, người ta có thể không nhớ tên tác phẩm nhưng nhớ ngay tới tên nhân vật điển hình mà nhà văn đó xây dựng nên. Nhiều khi tên nhân vật biến thành “hoán dụ” tên nhà văn, như khi nói Xuân Tóc Đỏ người ta nghĩ ngay tới Vũ Trọng Phụng, chị Dậu người ta nghĩ ngay đến Ngô Tất Tố, v.v… Hình như giữa nhà văn với nhân vật có duyên, “một sợi dây buộc ai dằng cho ra”. Nhân vật điển hình của tác phẩm lớn có một sức sống mãnh liệt và lâu bền ở khắp mọi nơi trên thế giới, qua tất cả các thời đại. Trong cuộc phiêu lưu qua không gian và thời gian ấy nhân vật có một số phận riêng ly kỳ, đặc biệt, nhiều lúc tưởng chừng vượt ra ngoài quyền hạn của người cha đẻ tinh thần ra nó. Orestes, Medea, Antigone từ thế giới cổ đại Hy Lạp của Aeschylus, Euripide… tái sinh ở thế kỷ 20 trong kịch hiện sinh của Anouich, Sartre. Don Juan của Molière khác với Don Juan của Byron, Jeanne d’Arc của Schiller khác với Jeanne d’Arc của Bernard Shaw, Faust của Goethe khác với Faustus của của Thomas Mann… Những nhân vật đó đã bao lần đầu thai vào trong tác phẩm ở nhiều thời đại, nhằm lý giải những vấn đề mà thời đại nó đặt ra. Ở Tây Ban Nha có nhiều kỹ nghệ phẩm lấy mẫu từ nhân vật Don Quixote của Cervantes, ở Pháp người ta dựng tượng nhân vật d’Artagnan của Dumas, ở Mỹ, người ta dựng tượng Tom Sawyer và Huckleberry Finn của Mark Twain… Nhân vật ra đời không những làm tăng thên dân số của một dân tộc mà còn trở thành tiêu biểu cho một phần nhân loại, là biểu tượng cho một tính cách nào đó của con người như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Thúc Sinh,… đã từ trang Kiều bước vào cuộc đời, vừa là mô hình mang tính chất loại hình học, vừa là mô hình mang tính chất hình thái học của tính cách, tâm lý con người. Những nhân vật như A.Q của Lỗ Tấn, Chí Phèo của Nam Cao vừa là hoán dụ một loại người nào đó trong xã hội vừa là điển hình cho một cách sống ở đời.


Nền văn học của chúng ta trong mấy chục năm qua đã xây dựng được nhiều nhân vật điển hình khá nổi bật như Hoàng trong Đôi mắt của Nam Cao, Xoan trong Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Núp trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, chị Hoàng trong Gặp gỡ cuối năm của Nguyễn Khải, chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, chị Sứ trong Hòn Đất của Anh Đức, Lữ trong Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, v.v. là những hình tượng có sức sống, có chiều sâu nhất định và tạo nên sức thuyết phụ đối với người đọc. Nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều nhân vật chỉ là tiêu biểu cho một giới nào đó mà chưa có cái riêng, trộn không lẫn được, cái con người này theo yêu cầu của Hegel, nhiều khi nhân vật có cuộc đời mà chưa có tính cách, có hành động mà thiếu diễn biến tâm lý. Tác giả mới chỉ miêu tả nhân vật làm cái gì chứ chưa miêu tả nhân vật làm như thế nào? Có lúc tác giả miêu tả một số nét cá tính nào đó để bù đắp vào chỗ thiếu sót của việc khắc hoạ tính cách một cách sinh động và tinh tế. Những nét cá tính ấy sở dĩ dễ miêu tả hơn vì nó tĩnh chứ không động như tính cách của con người bị tác động bởi những hoàn cảnh cụ thể. Chẳng hạn như nhân vật nhút nhát, sợ sệt hay vui tính nghịch ngợm,… những nét cá tính này nhiều khi lại bị cường điệu thành giả tạo hay lạc lõng. Do đó con vật trở thành con rối dưới sợi dây điều khiển của tác giả chứ không phải là một người lạ quen biết, bạn đường suốt đời của chúng ta như cách nói của Bielinski.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh. NXB Văn học, 4-2007.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 26.04.2017
Nhân tính và nhân phẩm trong tập truyện Ký thác của Bình Nguyên Lộc - Vinh Lan 25.04.2017
Lời trong đời sống và trong thơ - Voloshinov 22.04.2017
Nỗi đau trong văn chương - Trần Đình Sử 22.04.2017
Hai cách đọc bài thơ Khiển hoài của Đỗ Mục - Hà Văn Thùy 21.04.2017
Đồng thuận xã hội - Một số vấn đề lý luận - Chu Văn Tuân 18.04.2017
Nguyễn Đăng Na và những thành tựu nghiên cứu văn học trung đại - Trần Đình Sử 05.04.2017
Những giới hạn của lý thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam - Trương Đăng Dung 31.03.2017
Miên man với Sông cái mỉm cười - Trần Vân Hạc 23.03.2017
Biểu tượng người nam và người nữ trong thơ tình Việt Nam - một cái nhìn khái quát - Trần Nho Thìn 18.03.2017
xem thêm »