tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20524889
Lý luận phê bình văn học
08.07.2009
Hoài Anh
Xác và Hồn của tiểu thuyết (2)

Tiểu thuyết của ông có thể được coi là đời sống của tác giả thử những vai diễn đeo mặt nạ ở đó những tình huống ngẫu nhiên diễn biến không ngừng, nhưng bên dưới dòng chy liên tục của những biến cố đó là hai bờ cố định của con tim nhân loại. Một nhà văn chuyên viết tiểu thuyết lịch sử khi làm giám định cuốn truyện ngắn lịch sử của tôi gởi nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã phê vào bản thảo những lời chế giễu cay độc, tôi không buồn mà lại rất biết ơn anh đã chỉ ra những khuyết điểm để sau này tôi sửa lại bản thảo. Nhà văn Vũ Bão cùng cơ quan với tôi đã trả lại tôi một truyện ngắn không đăng với lời nói đùa: “Trả lại để sau in vào Toàn tập Hoài Anh!”. Nhà văn Nguyễn Khắc Phục bạn tôi, nói thực lòng: “Hoài Anh viết không ra tiểu thuyết, nhưng chỉ Hoài Anh mới viết được như thế”. Tôi cho rằng viết tiểu thuyết cũng như tiểu thuyết lịch sử vốn không có cách cục cố định. Rionoxưkê Akutugaoa nói: “Bất cứ qui tắc nào về việc viết văn xuôi cũng không phải là qui tắc vàng (tuyệt đối)”. Tôi rất tâm đắc với những lời của Pierre Gamarra: “Các nhà văn có cách nhìn cuộc sống thường khi độc đáo, cho phép họ nắm bắt những dáng vẻ chủ yếu: họ nói ra những điều mà các nhà sử học thường không nói, nghĩa là những sự việc khó nhận biết, nhất thời, những giây phút của cuộc đời chỉ thoáng hiện rồi mất tăm luôn, song lại làm nên da thịt của lịch sử”.


Milan Kundera cho rằng: “Tiểu thuyết không phải là một lời tự thú của tác giả mà là một cuộc thăm dò đời sống con người”. Pierre Louis Rey viết: “Tiểu thuyết lịch sử ưu tiên khẳng định tính chất hư cấu của cốt truyện, nhưng tạo cho nó một cái vẻ giống như thật (Vraisemblance) bởi kết cấu (không gian và thời gian) và bởi những động lực sâu xa của hành động. Bảo đảm cho độc giả rằng mọi sự đều có thể diễn ra như vậy (tiểu thuyết lịch sử) còn giúp họ hiểu tốt hơn những nguyên nhân và những hậu quả của những gì đã diễn ra trong quá khứ. Vì vậy tiểu thuyết lịch sử phải chăng là chân thật hơn lịch sử”. Maurice Nadeau viết: “Tiểu thuyết phải được xây dựng trên một sự hiểu biết (le savoir) một kinh nghiệm, một sự trầm tư mặc tưởng (la pensée) và tất cả các thứ này đều biến thành một cái nhìn chung toàn bộ mà chỉ một sự hiểu biết thôi, chỉ một kinh nghiệm trần trụi thôi hay một sự trầm tư không nền tảng thôi thì lúc nào cũng thất bại cả”. John Gardner viết: “Lĩnh vực mang đến cảm giác quan trọng nhất là tiểu thuyết. Trong một cuốn tiểu thuyết bạn sáng tạo ra cả một thế giới trọn vẹn, và giải quyết đủ mọi giá trị theo một cách mà bạn không thể làm thế trong một truyện ngắn. Vấn đề là vì những cuốn tiểu thuyết trình bày cả một thế giới trọn vẹn, nên bạn không thể viết chúng suốt ngày suốt tháng được. Sau khi hoàn thành một cuốn tiểu thuyết phải mất một đôi năm để thu nhận cho đủ chất liệu sống, đủ suy tư về mọi điều để mà còn có cái gì đó để nói, để mà còn có những câu hỏi mạch lạc rồi vượt qua”. Nhiều cuốn tiểu thuyết trong bộ sách này khi tái bản tôi phải sửa lại nhiều so với bản in lần đầu cho phù hợp với cách nghĩ cách viết của tôi hôm nay.


Về vấn đề hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử, Hulio Cortasar đã viết: “Nhà lịch sử có trách nhiệm miêu tả và giải thích sự thực bao quanh anh ta, không được nói sai đi, không thể cho phép bất kỳ một huyền thoại nào. Anh ta cần phải chỉ ra sự thực này dưới bất kỳ loại áo khoác nào. Nhưng văn học lại khác hẳn, văn học là khả năng trình bày chính cái thực tại ấy, một thực tại được lũy thừa lên, nhân lên bởi tất cả những gì mà sự sáng tạo, nghệ thuật tổng hòa và những thủ pháp kỳ diệu của ngôn ngữ đem lại như các nhà toán học đã nói về số bình phương hay số lập phương. Chiến tranh và hòa bình là một cuốn tiểu thuyết miêu tả một chiến dịch quân sự. Có một ngài Napôlêông và một ngài Cutudốp đang đánh nhau ở trong cuốn tiểu thuyết này, nhưng điều đó đã được nhân lên, đã được luỹ thừa ba lên được tái hiện lại một ý nghĩa nào đó mà không làm mất cái sự thật sâu sắc của nó”.


Milan Kundera viết: “Tiểu thuyết gia không phải là thằng hầu của những sử gia. Anh không thể kể về hay bàn về lịch sử, nhưng khám phá ra những khía cạnh chưa biết tới của hiện hữu con người, những biến động lớn lao của lịch sử đối với anh ta giống như cái đèn rọi bất thình lình làm sáng tỏ những khía cạnh ẩn giấu và vạch trần chúng ra”.


Vì Walter Scott hoài cảm cái hệ thống xã hội đang dẫy chết hoặc đã chết nên ông đã chiếu vào những truyện ông viết về thời quá khứ một ánh sáng huy hoàng. Trực giác bén nhậy của ông về quá trình biến thiên lịch sử đẫ giúp ông chọn đúng những giai đoạn có đấu tranh kịch liệt giữa những lực lượng tôn giáo, chính trị hoặc loại này khác đang bành trướng. Ông lại cụ thể hóa những lực lượng đó vào những nhân vật điển hình như vua Charles the Bold hay Louis XI trong tiểu thuyết Quentin Durward hay Saladin và Richard The Lion Hearted trong tiểu thuyết The Talisman.


Triết gia người Hung Georges Lukacs viết: “Tiểu thuyết của Walter Scott thể hiện những khủng hoảng lớn của đời sống lịch sử... Các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử phải sinh động hơn các nhân vật lịch sử, vì các nhân vật của tiểu thuyết lịch sử được trao cho sự sống, còn các nhân vật lịch sử thì đã sống. Nhiệm vụ của nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử là phải tạo dựng được một cách phong phú các tác động tương hỗ, cụ thể khớp với hoàn cảnh lịch sử mô tả”.


Trong bộ tiểu thuyết lịch sử, tôi đã chọn những giai đoạn có đấu tranh kịch liệt giữa những lực lượng chính trị, như dân tộc Việt Nam với bọn phong kiến xâm lược Trung Quốc, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và tay sai của chúng, những giai đoạn có đấu tranh cũng như hòa hợp giữa những lực lượng và quan điểm tôn giáo như của Nho giáo, Phật giáo và tín ngưỡng bản địa, giữa tư tưởng pháp trị và tư tưởng nhân đạo v.v... thông qua những nhân vật lịch sử cụ thể.


Không tập trung vào miêu tả nhân vật chính, tôi cố gắng thể hiện mối quan hệ giữa các nhân vật chính phụ và không quên liên hệ với hiện tại theo cách viết của Umberto Eco.


Lukacs viết: “Sự thể hiện lịch sử không thể có được nếu không có mối liên hệ có ấn tượng gắn với hiện tại. Trong thực tế đối với nghệ thuật lịch sử có qui mô lớn thì mối liên hệ này không có được nhờ sự ám chỉ các sự kiện đương đại mà là sự đánh thức cái tiền sử của hiện tại”.


Bởi vậy tôi không áp dụng phương châm “bình cũ rượu mới” một cách thô thiển, mà cố gắng tái hiện các điều kiện lịch sử của quá khứ, qua đó ám thị hiện tại. Các chi tiết liên kết với nhau không do ngẫu nhiên mà có trình tự nội tại của nó, vì vậy phải vứt bỏ những chi tiết không ăn nhập với toàn cục. Lukacs đặt câu hỏi: “Có phải việc sao chép lại một cách tự nhiên ngôn ngữ tư duy và cảm xúc về đời sống quá khứ là trung thành với quá khứ? Tất nhiên là không”. Theo Lukacs: “Đối với kịch, chân lý lịch sử là chân lý bên trong của sự xung đột, còn đối với tiểu thuyết thì xung đột chỉ là bộ phận của toàn thể mà nó nhận thể hiện. Nếu tiểu thuyết lịch sử nêu lên cái tiền sử cụ thể của thời hiện tại như ở tiểu thuyết lịch sử cổ điển thì số phận nhân dân được miêu tả trong đó có mục đích tự thân về mặt nghệ thuật. Mối quan hệ sinh động với hiện tại thể hiện ngay chính trong sự vận động được mô tả của lịch sử và tự nó sẽ nói lên”.


Trong bộ tiểu thuyết lịch sử, tôi đã trình bày sự vận động của lịch sử từ thời kỳ nội thuộc đến thời kỳ tự chủ, thời kỳ phong kiến phân quyền đến thời kỳ phong kiến trung ương tập quyền, thời kỳ chống thực dân đế quốc xâm lược cho đến hiện tại, nhưng không bao giờ quên mô tả số phận của nhân dân từ thời Hai Bà Trưng, thời Phùng Hưng, Ngô Quyền, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Mạc, khởi nghĩa Lê Duy Mật, khởi nghĩa Tây Sơn, đầu đời Nguyễn, phong trào đấu tranh chống Pháp ở Nam Bộ, khởi nghĩa Nam Kỳ cho đến chiến thắng B52 ở Hà Nội.


Lukacs cũng thấy là không thể phục hồi lại hình thức tiểu thuyết lịch sử cổ điển với việc bắt chước máy móc nghệ thuật thể hiện vì sự khác biệt của những triển vọng lịch sử sẽ kéo theo sự khác biệt của các nguyên lý sáng tạo nghệ thuật, tiểu thuyết lịch sử thời hiện đại sẽ lý giải quá khứ khác với tiểu thuyết lịch sử cổ điển, thậm chí phát hiện ra những giá trị của lịch sử mà tiểu thuyết lịch sử cổ điển chưa có điều kiện nhìn thấy. Ông viết: “Triển vọng giải phóng của nhân dân sẽ làm thay đổi những khả năng của tiểu thuyết lịch sử trong tương lai”.


Khi viết bộ tiểu thuyết lịch sử, ngoài việc đọc lại thần phả gia phả, truyền thuyết, tư liệu văn hiến xưa, tôi còn tham khảo các công trình của các nhà Việt Nam học trên thế giới để tìm hiểu mối xung đột giữa văn hóa Hán và văn hóa Lạc Việt, tư tưởng Tam giáo đồng nguyên và sự kết hợp giữa những tinh hoa Nho Phật Lão với tín ngưỡng bản địa, những chi tiết về tính chất, tâm lý, nếp sống, nếp nghĩ, phong tục tập quán, nhu cầu vật chất, tâm linh của người Việt Nam từ đầu thế kỷ thứ nhất cho tới nay.


Storm Jameson nhận định rằng: “Điểm quan tâm chính của tiểu thuyết là cho ta biết nhân vật sinh hoạt như thế nào trong thời của họ”. Trong cuốn Vua Corn và Hoàng hậu Mùa Xuân, nhà văn nữ Naomi Mitchison đã viết về dân Hy Lạp Scythian ở xứ Marob trên bờ phía bắc Hắc Hải trong thế kỷ 3 trước Công nguyên. Bà đã phải dựa vào một ít di tích những đồ vật mà dân tộc đó đã chế tạo ra và ngày nay được trưng bày ở vài viện bảo tàng, và vào cuốn Bát vàng của Frazer có giải thích các lễ nghi phù thủy và hội hè của dân tộc đó. Khi viết về thời Hai Bà Trưng, tôi đã nghiên cứu về những đồ vật được khai quật ở di chỉ


khảo cổ học Bắc Sơn, Đồng Đậu... và những sách về dân tộc học để mô tả cho đúng. Học tập Thomas Mann khi viết về lâu đài của Potiphar ở cổ thành Thèbes, để miêu tả những lâu đài, dãy phòng, đình tạ, hoa viên... thời Lý, Trần ở Thăng Long...


Khi viết về thời cận đại từ khởi nghĩa Tây Sơn đến nay tôi đã sử dụng nhiều tư liệu của Pháp, Mỹ... để soi sáng lại các sự kiện lịch sử của đất nước và áp dụng một số thủ pháp của tiểu thuyết phương Tây, như của tiểu thuyết tư liệu, cắt dán, lắp ghép, đồng hiện, kết hợp miêu tả với trữ tình ngoại đề, chính luận, thủ pháp của sân khấu, điện ảnh, hội hoạ trình diễn, âm nhạc đa hệ..., nhưng cố sao không để mất tính chất dân tộc của tiểu thuyết là trung thành với nghệ thuật kể chuyện, không nặng về phân tích tâm lý. Con người Việt Nam thời trước còn là con người chức năng, chứ chưa phải là những cá nhân đơn lẻ như con người trong xã hội tư sản phương Tây. Do đó tôi không áp dụng những thủ pháp đảo ngược thời gian, tạo mê cung, cấu trúc số học, bấp bênh, chưa hoàn tất, suy ngẫm về bản thân tiểu thuyết trong sự hình thành của nó... mặc dầu có thể là rất thú vị. Tôi không cốt làm cho lạ để nổi tiếng là hiện đại, mà chỉ mong sao đông đảo độc giả đọc sách của tôi, đọc xong có thể tuỳ tiện ném sách của tôi đi như lời của André Gide nói. Sở dĩ tiểu thuyết của Christian Jacq bán chạy như tôm tươi là bởi sức cuốn hút của tiểu thuyết lịch sử không chỉ ở quá khứ được khôi phục “như nguyên tác” dầy dặn sống động, cái được gọi là “không khí lịch sử” mà còn ở một chỗ không kém phần quan trọng. Đó là cái chỗ từ nơi dĩ vãng xa xôi ấy mà lại thấy ra, rõ ràng hơn, sâu sắc hơn những tình hình của hiện nay. Tôi mong độc giả lưu tâm trước hết đến những tư liệu ông cha ta đã trị nước an dân như thế nào để tới nay đất nước này vẫn còn tồn tại, mà tôi đã chuyển tải vào bộ tiểu thuyết.


Nhà văn Canada Robertson David nói: “Tôi khao khát trở thành tiểu thuyết gia theo cách mà Dickens đã trở thành - Trở thành tiểu thuyết gia nghĩa là người có thể hóa thân thành những con người khác nhau, dàn dựng khung cảnh đời, kiểm soát bao quát tất cả từ nhân vật đến thời gian và không gian sống. Không ai có thể có được một vinh hạnh như vậy”.


Không phải viết tiểu thuyết lịch sử nhà văn khó thâm nhập vào hoàn cảnh thời đại xảy ra câu chuyện mô tả trong tác phẩm. Nhà văn Ai Cập Macmud Tayamur nói: “Tiểu thuyết trong bất cứ trường hợp nào, đó là tiểu thuyết của người sáng tạo ra nó, không phụ thuộc vào việc chính bản thân nhà văn có trải qua những gì đã được mô tả trong đó hay không và những biến cố xảy ra trong đó có xảy ra với nhà văn hay không, hoặc là nhà văn có đem vào trong tác phẩm những gì xảy ra dưới mắt ông hay không, hoặc là tất cả những gì được mô tả trong đó chỉ là kết quả của trí tưởng tượng kỳ ảo... Bởi vì các yếu tố tự sự, bất chấp các nguồn khác nhau của chúng vẫn cứ lạnh lùng, cứng đờ, không linh hồn, không vận động cho đến khi nào sức mạnh cảm hứng diệu kỳ lan tỏa khắp cơ thể chúng!


Chính vì vậy mà cốt truyện của nhà văn khác nhau có thể giống nhau nhưng một tiểu thuyết này vẫn khác với một tiểu thuyết kia ở ngôn ngữ nghệ thuật và kết cấu tinh vi, ở những giây phút cảm hứng mà tác giả đem vào đó trong khi khắc hoạ cái hình tượng trong tiểu thuyết của mình.


Và vì vậy mà tác phẩm đã được sáng tạo không phải bởi một ai khác. Đó chính là tài năng tuyệt vời”. Hemingway nói: “Nếu bạn diễn tả một nhân vật thì nhân vật đó sẽ phẳng lì như một tấm hình chụp. Theo tôi như thế là thất bại, nhưng nếu bạn biết “lôi” nhân vật đó từ trong trí tưởng tượng của bạn thì nhân vật đó sẽ có đủ mọi chiều “chìm, nổi, sâu, nông”.


Chính vì viết bằng bản năng và trí tưởng tượng nên khi viết Lời Thề Lửa tôi không đọc Cần vương của Phan Trần Chúc; khi viết Mê Linh tụ nghĩa, tôi không đọc Tiếng trống Mê Linh của An Cương, khi viết Như Nguyệt tôi không đọc Nguyên Phi Ỷ Lan của Nguyễn Anh; khi viết Tấm long bào tôi không đọc Hoàng hậu hai triều của Hoàng Công Khanh; khi viết Chim gọi nắng tôi không đọc sách viết về Minh Khai của Nguyệt Tú, Lê Minh v.v... để khỏi bị ảnh hưởng làm chập mạch văn khi đang viết.


Tôi lo rằng khi tôi đọc một cuốn tiểu thuyết khác viết cùng về nhân vật lịch sử mà tôi miêu tả, cái hồn của tôi sẽ nhập vào cái xác của người khác từ đó xảy ra chuyện “hồn Trương Ba, da hàng thịt”.


Điều cuối cùng mà tôi muốn nói là tôi không viết loại tiểu thuyết gia đình mà viết loại tiểu thuyết lấy dân tộc làm đề tài. Lịch sử văn minh nhân loại hiện đại 1900-2000 của Lorraine Glennon viết: “Phong trào yêu nước sau thế chiến II làm bùng lên ngọn lửa tranh đấu giành độc lập, nhất là sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam. Chinue Achebe bày tỏ: “Đột nhiên chúng tôi thấy cần phải kể câu chuyện”. Tan ra từng mảnh xuất bản năm 1958. Achebe chia câu chuyện ra nhiều phần, phần đầu khắc hoạ cuộc sống ở Nigeria từ giữa thế kỷ 10 về sau. Tan ra từng mảnh kiểm điểm những thảm kịch của một thổ dân Igbo tên Okonkuwo cùng dân làng bị người Anh phân biệt đối xử. “Những kẻ da trắng đã dùng dao chẻ sự đoàn kết của chúng tôi thế là chúng tôi tan tác”. Một nhà phê bình đã nhận xét lời than vãn đó như sau: “Chẳng có nhà nhân chủng học người Âu nào tả nổi sự hỗn độn của bộ lạc Igbo cặn kẽ hơn, cùng với những chi tiết thủ tục rắc rối trong đời sống thị tộc”. Cuốn sách ghi lại những tâm lý, triết lý, lịch sử của một vùng đất... mà được coi như sử liệu Quốc tế về Phi châu đen”.


Nhà văn nữ Amy Tan sinh ra tại California hai năm rưỡi sau cha mẹ cô di dân từ Trung Hoa sang. Trong cuốn truyện Câu lạc bộ Joy Luck, Amy Tan viết về những người mẹ Trung Hoa chơi mạt chược. “Mẹ tôi biết chơi môn này từ khi làm bạn với cha tôi ở Quế Lâm, trước khi lính Nhật đến và đó là câu chuyện về Quế Lâm và mạt chược đọng lại trong tôi của nước Trung Hoa xa xôi, từ mẹ truyền sang con gái”. Hoàn toàn Mỹ hóa, Tan về thăm đất nước của cha mẹ, phát biểu: “Tôi vừa đặt chân xuống đất Trung Hoa là lại trở thành người Trung Hoa ngay”.


Bản tính dân tộc là cái gì mạnh và bền hơn người ta tưởng. Tôi muốn đi sâu vào ý thức dân tộc trước khi để cho ý thức đó hội nhập với nhân loại. Sartre nói: “Không có một bản tính nhân loại ở trên con người nhưng con người chỉ có một cuộc sống riêng biệt đã định sẵn trong một thời gian cũng định sẵn”. Nhân vật trong từng cuốn tiểu thuyết của tôi chỉ sống trong thời đại đã định sẵn cho nó. Một triết gia đã nói: “Bất cứ lời nói nào của con người về lịch sử thì đồng thời cũng con người cũng nói luôn về chính mình”. Cũng là phụ nữ nhưng Trưng Trắc, Dương Vân Nga, Ỷ Lan, Nguyễn Thị Tồn cho đến Nguyễn Thị Minh Khai... khác nhau rất xa trong khi đó lịch sử duy nhất của dân tộc lại mỗi ngày một lớn dần. Một dân tộc nếu khước từ bài học lịch sử là một dân tộc từ chối sự khôn lớn trưởng thành được tích luỹ theo thời gian để chọn lấy cuộc hiện tồn non nớt và mất gốc. Dân tộc đó có thể mãi mãi chỉ là một đứa trẻ. Hegel nói: “Chỉ có những xã hội biết xây dựng một khoa học về số phận của mình mới có giá trị lịch sử thật sự”. Ông lại nói: “Yếu tố đầu tiên của ý thức lịch sử không phải là hoài niệm nhưng là sự tiên báo mong chờ hứa hẹn”. Đó cũng là ý đồ, mục đích của tôi khi viết bộ tiểu thuyết lịch sử 16 cuốn được Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2006.


(còn tiếp)


Nguồn: Xác và Hồn của tiểu thuyết. Biên khảo, lý luận phê bình của Hoài Anh. NXB Văn học, 4-2007.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 20.09.2017
Thanh Tùng – Xanh mãi Thời hoa đỏ - Trần Mạnh Hảo 18.09.2017
Tiểu thuyết Thủy Hử theo quan điểm một học giả phương Tây - Bill Jenner 18.09.2017
Lời cảnh cáo các nhà học phiệt - Đoàn Lê Giang 08.09.2017
Dấu ấn Chủ nghĩa nhân văn của Erasmus trong tiểu thuyết Don Quixote - Linh Lan 08.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (tiếp và hết) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Về Nho giáo và khoa học (1) - Nguyễn Thọ Đức 01.09.2017
Lại bàn về Nguyễn Khắc Viện và sách “Việt Nam một thiên lịch sử” - Nguyễn Khắc Phê 31.08.2017
Thế giới phi lý trong tiểu thuyết đô thị miền nam 1954-1975 - Nguyễn Thị Việt Nga 27.08.2017
Thơ Phùng Cung – Lời cuối của quê - Thu Tứ 27.08.2017
xem thêm »