tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20524899
Tiểu thuyết
06.07.2009
Hoài Anh
Đất Thang mộc II - Sứ mệnh phù Lê

XII


Trịnh Tùng thúc voi ngựa quân lính đánh phá cửa Cầu Giền. Quân Mạc tan vỡ, quân phục của Nguyễn Quyện không kịp dậy, chết hết ở ngoài Cầu Giền.


Quyện cùng kế muốn liều mạng trốn đi, nhưng tiến lui không có đường, trong ngoài đều là quân Lê mà cửa lũy lại bị lấp. Con của Quyện là Bảo trung, Nghĩa trạch và quân tinh binh thủ hạ cố sức đánh, đều chết ở trong quân.


Quyện trí cùng sức kém, chạy về bản dinh, bị quân Lê bắt được đem nộp tại cửa quân. Trịnh Tùng sai cởi trói, đãi theo lễ tân khác, tuyên dụ yên ủi, nói đến ân nghĩa của tiền vương nuôi dưỡng, không nỡ giết chết.


Quyện thẹn đỏ mặt, phục xuống và tự than rằng:


- Tướng thua trận không thể nói mạnh được. Trời đã bỏ họ Mạc thì người anh hùng cũng khó thi sức.


Trịnh Tùng khen câu nói ấy.


Sau đó các đạo quân nhất tề xốc tiến đến thành Đại La, chia binh đánh vào rất gấp. Tướng Mạc là thái phó Thường quốc công đem quân ra chống cự. Hai bên giao chiến một hồi lâu, sắp phá được thành. Quân Mạc thua to, chết tại trận nhiều không đếm xuể, số còn lại tán loạn chạy trốn. Thường quốc công cả kinh, vội giả làm một tên lính trà trộn trong đám loạn quân tìm đường thoát. Đang nghĩ cách ẩn náu, bỗng gặp quân tiên phong của bên Lê, Thường quốc liền bị bắt giữ. Quân Lê không biết mặt Thường quốc, bèn bảo nhau cắt mũi đem nộp để tính công. Thường quốc cắn răng chịu đau, rồi cứ thế nhằm về phía núi sâu mà chạy trốn. Chẳng may lại gặp Hoàng Đình Ái nhận được mặt, Thường quốc liền bị bắt sống đem về.


Ngày hôm ấy quân Mạc xác chết gối lên nhau, lấp đầy rãnh hồ, máu chảy như suối. Chém giặc cắt tai đến hơn 1.000 thủ cấp. Tướng Mạc chết mấy chục viên. Khí giới chất như núi. Cung điện nhà cửa ở Kinh thành không còn gì. Mạc Mậu Hợp run sợ, thu nhặt tàn quân giữ sông Cái để tự thủ. Trịnh Tùng đem quân đến bờ sông, gặp khi đã chiều tối. Tùng nói rằng: Binh pháp có nói “Giặc cùng chớ đuổi”. Bèn thu quân đóng dinh theo như bản đồ.


Trịnh Tùng hạ lệnh treo bảng chiêu an, cấm quân lính không được phá phách cướp bóc của cái, giết hại nhân dân, trong thành lại được giữ yên như cũ.


Trịnh Tùng thăng trướng tướng cầm quân các đạo đều tới dâng công. Hoàng Đình Ái dẫn tướng Mạc Thường quốc công về dâng nộp. Trịnh Tùng thấy Thường quốc bị cắt mũi lấy làm thương hại, bèn cởi trói đưa vào trong trướng, an ủi vỗ về, chẩn cấp cho rất hậu. Quân lính bên Mạc bị bắt đều được cấp cơm áo đều tha cho về. Trịnh Tùng đi tiễu trừ các nơi ở La Thành, đề phòng đồ đảng họ Mạc tụ tập lại.


Thường quốc ở lại trong quân nửa tháng rồi ốm chết. Trịnh Tùng rất thương xót, cấp tiền bạc gấm vóc điếu phúng, lại đưa người về quê làm lễ an táng.


Sa vào tay quân Lê, Nguyễn Quyện vô cùng đau khổ, y không ngỡ mình tài năng lớn lao như vậy, tính toán kỹ lưỡng như vậy mà vẫn không làm sao xoay chuyển nổi thời thê.s hay trong đó có bí mật của cơ trời mà y không làm sao hiểu nổi. Nhưng nếu y còn sống, y nhất định không để cho kẻ thù thành công một cách dễ dàng. Không được ăn thì đạp đổ, y nhất định phải phá cho tan nát rồi muốn ra sao thì ra. Nếu để cho kẻ thù ăn trên ngồi trốc hưởng vinh hoa phú quý, y dù chết cũng không nhắm được mắt.


Lợi dụng việc Trịnh Tùng khoan hồng, cho y đi theo quân để giúp mưu, y dự định sẽ ngầm giúp dỡ Mạc mà chơi xỏ Lê một vố. Nếu Mạc mà còn tồn tại thì sau đây chưa biết mèo nào sẽ cắn mỉu nào. Bởi vậy đến khi Trịnh Tùng mời y vào hỏi ý kiến xem sắp tới nên xử trí như thế nào, y liền thưa:


- Bẩm tiết chế, tôi đội ơn người tha tội lẽ đâu không tìm cách để báo đáp. Cứ theo nu ý thì hiện nay quân Mạc vẫn còn đông, nếu ta kéo vào đóng trong kinh thành, e Mạc ẽ đem quân đến vây, như vậy sẽ lâm vào thế bị động. Chi bằng ta cho san phẳng lũy đất ngoài cửa thành Đại La, đẵn cây cối, lấp hào hố, như vậy dù Mạc có kéo quân về cũng không có chỗ hiểm để đóng giữ. Thế tất Mạc sẽ không tranh giành thành Thăng Long với ta, trong khi đó tiết chế đem quân đi đánh các nơi khác ở miền Tây nam, miền Tây nam đã yên rồi thì lúc ấy ta tiến về đóng ở Thăng Long cũng không khó khăn gì.


Trịnh Tùng tin lời Quyện là thực bụng, liền hạ lệnh cho các quân san phẳng lũy đất ngoài cửa thành Đại La, dài đến vài mươi trượng, đẵn hết bụi rậm gai góc, cày lấp hào hố, hết thảy thành đất băng, không mấy ngày là xong.


Bấy giờ quân Lê lừng lẫy, từ sông Nhị về đông, dân chúng hễ nghe tin là theo. Mậu Hợp từ đấy sợ hãi, không dám dòm ngó đến phía tây sông Nhị nữa.


Trịnh Tùng họp các tướng lại bàn bạc. Tùng nói:


- Ta đã tiến quân đến Thăng Long khiến Mậu Hợp phải bỏ chạy về phía đông sông Nhị. Sắp tới đây ta nên tiến đánh đâu trước các tướng ai có kế sách gì cứ việc trình bày cho mọi người cùng nghe.


Hoàng Đình Ái nói:


- Bẩm tiết chế, tôi thấy ta cứ nên đem đại binh đuổi theo Mậu Hợp, nếu bắt được y rồi thì rắn mất đầu, khắp nơi đều phải hàng phục.


Trịnh Đỗ nói:


- Sách có chữ “Cầm tặc tiên cầm vương”([1]). Ta bắt được vua của chúng nó rồi thì chúng nói như rắn mất đầu, còn kẻ nào dám chống lại ta nữa.


Bỗng Lương Hữu Khánh tiến lên nói:


- Các ông mới biết một đường mà chưa biết hai đường Mạc Mậu Hợp chỉ là một tên hôn quân, không được quân Mạc sợ phục, nên dù có bắt được y chăng nữa cũng không phải là đã toàn thắng được quân Mạc. Hiện nay quân Mạc đóng ở miền Tây nam còn đông, nếu ta không thu phục được, sớm muộn chúng cũng sẽ tập trung kéo về đây quyết chiến với ta, ta có thắng được chúng cũng hao tổn xương máu. Chưa biết chừng chúng sẽ lập người khác làm vua thay Mậu Hợp để có kẻ cầm đầu đủ tài lực cũng nên. Như thế thì chiến cuộc sẽ kéo dài không biết đến bao giờ mới chấm dứt. Theo ý tôi thì nhân lúc chúng còn đang hoang mang, phân tán khắp nơi, ta chia quân đi đánh dẹp các huyện ở miền Tây nam. Khi miền Tây nam dẹp xong thì Mậu Hợp sẽ lâm vào cái thế cô lập, ta bắt lúc nào mà chẳng được.


Trịnh Tùng khen phải, y theo đó mà tiến hành.


Tháng ba năm ấy, Trịnh Tùng tiến quân đến huyện Chương Đức đóng dinh ở Do Lễ, sai làm cầu phao cho quân qua sông. Lại chia quân đi đánh dẹp các huyện Thanh Trì, Thượng Phúc, Phú Xuyên, Trịnh Tùng thì tự đốc quân đánh dẹp các huyện Từ Liem, Đan Phượng, sau đến các huyện Phúc Lộc, Tiên Phong, đánh dẹp các huyện Ma Nghĩa, Yên Sơn, Thạch Thất rồi về. Tháng ấy, Trịnh Tùng bàn đem quân về theo đường Úng Thiên, Thiên Quan, đến cửa khuyết dâng toàn công thắng trận.


Mạc Mậu Hợp ngày càng buông tuồn du đãng tửu sắc bừa bãi.


Bấy giờ vợ Sơn quận công Bùi Văn Khuê là Nguyễn Thị Niên có chị ruột là hậu của Mậu Hợp, thường ra ào trong cung, Mậu Hợp thấy có sắc đẹp, trong lòng thích lắm, mới ngầm mư giết Văn Khuê để cướp lấy vợ.


Văn Khuê biết thế mới đem quân bản bộ tự về huyện Gia Viễn phủ Trường Yên, đóng quân ở đấy không ra nữa. Mậu Hợp cho gọi hai ba lần không được, bèn sai tướng đem quân đến nơi hỏi tội.


Tháng mười năm Nhâm Thìn([2]), Bùi Văn Khuê một mặt gọi quân để chống quân Mạc, một mặt sai con là Bùi Văn Nguyên chạy đến hành dinh Thanh Hoa, bẩm với tiết chế xin theo mệnh đầu hàng, quỳ xuống khóc rằng:


- Cha thân là Bùi Văn Khuê bị họ Mạc ngầm sai quân bức hại, sai thần thay mặt đến mạo tội xin theo về triều đình, đem thân hàng phục để tìm lấy đường sống, nguyện ghi xương khắc cốt không bao giờ dám quên ơn. May đội đức lớn xét rõ lòng thành thì xin sai một lữ đến cứu thân hèn mọn. Nếu oai trời rủ đến đây, thì cha thần xin làm kẻ dẫn đường, muôn chết cũng không dám từ, để báo đáp chút công.


Trịnh Tùng nghe nói cười rằng:


- Văn Khuê về hàng, đó là trời cho ta được chóng thành công, đất đai của bản triều có thể chỉ ngày mà khôi phục.


Trịnh Tùng cùng các tướng bàn việc tiến quân, dâng biểu tâu lên vua biết. Sai Hoàng Đình Ái thống lĩnh tướng sĩ các dinh cơ đi trước cứu Văn Khuê.


Khi quân đến Bái Đính huyện Gia Viễn, Văn Khuê thấy có quân đến cứu, bèn đem con em và quân bản bộ 3.000 người ra đón tiếp, lạy rạp ở trước quân. Đình Ái lại sai Văn Khuê đem quân bản bộ giữ bến đò Đàm Giang.


Họ Mạc biết Văn Khuê đã đầu hàng, lại có đại binh đến cứu, lui về giữ sông Thiên Phái.


Ngày 18, Trịnh Tùng đốc đại binh ra phủ Trường Yên, Văn Khuê đem quân đến chào, khóc và lạy ở dưới cờ. Trịnh Tùng khen thưởng và yên ủi, cho tước là Mỹ quận công, sai đem quân ngựa thuyền ghe bản bộ làm tiền bộ, chống nhau với quân Mạc.


Họ Mạc sai tướng người tôn thất là Nghĩa quốc công tiết chế quân Nam đạo hẹn ngày tiến đánh. Khi quân đến bến đò Đàm Xá thì Trịnh Tùng sai tả hữu nhuệ cơ phục quân ở ven sông để bắn giết. Lại sai các quân làm cầu phao để qua đò sông Đàm, nhưng bị sóng gió phá gẫy, hai ngày chưa xong. Vì thế mới hạ lệnh cho ba quân tranh thủ qua sông Hoàng Xá đến núi Kiềm Cổ ở sông Yên Quyết mà đóng dinh.


Tướng Nam đạo của Mạc là Nghĩa quốc công đóng quân ở sông Thiên Phát, giữ bến đò Đoan Vĩ, bắt binh dân các huyện Đại Yên, Ý Yên đắp lũy đất ở bên sông để chống cự, thả chông tre hai bên bờ sông đề phòng giữ quân Lê qua sông.


Trịnh Tùng sai Bùi Văn Khuê ngầm kéo thuyền ra cửa sông để đánh ở thượng lưu, sai tả hữu nhuệ cơ đến bắn ở ven sông để đánh ở hạ lưu, sai voi ngựa quân lính qua sông để đánh mạnh vào trung lưu, mà thu lấy thuyền của giặc ở trong sông.


Nghĩa quốc công của Mạc trở tay không kịp, bỏ thuyền trốn, quân lính ta vỡ. Quân Lê thu được 70 thuyền chiến và khí giới nhiều không sao kể xiết.


Nghĩa quốc công thu tàn quân về Kinh giữ bãi Tự nhiên. Quân Lê làm cầu phao qua sông, đóng dinh ở huyện Ý Yên, sau tiến quân đến huyện Bình Lục, đóng quân ở Tắc Kiều. Tướng Mạc là Trần Bách Niên đem quân đầu hàng, cho tước là Định quận công.


Bấy giờ các tướng Nam đạo của Mạc đầu hàng đến hơn 10 người. Tùng hạ lệnh cho quân không được xâm phạm mảy may, các xóm ngõ ở dân gian không có việc không tự tiện vào, ai trái thì trị theo quân pháp. Từ đấy cả xs Sơn Nam dân đều ở yên như cũ, đem giỏ cơm bầu nước đến đón quân nhà Lê, trai gái trẻ già ai cũng ngưỡng mộ ơn đức.


Ngày mồn 4 tháng mười một, Trịnh Tùng tiến quân đến bĩ Tinh thần huyện Thanh Oai đóng dinh.


Tùng hiểu dụ rằng:


- Nhân dân các xứ Tây nam đều là dân của triều ta, mắc phải chính sách tàn ngược của họ Mạc. Từ nay về sau ta cho bọn các ngươi đều đổi mới, đổi bỏ tệ trước. Bọn các ngươi cứ yên ổn làm ăn, không nên sợ hãi. Quân đi có kỷ luật, một lòng thương dân.


Nhân dân hết sức vui mừng, những người khỏe mạnh có người xin theo quân, người già yếu đều ca hát nhảy múa đầy đường.


Ngày 14, quân ra cửa sông Hát, do đường thủy bộ đều tiến. Tướng Mạc Ngọc Liễn dàn thuyền để chống, cắm cọc gỗ ở cửa sông Hát, đắp lũy đất trên bờ sông để cho vững chãi hiểm yếu. Quân Lê tiến đánh phá được. Ngọc Liễn bỏ thuyền lên bộ chạy về dưới núi Tam Đảo, tướng sĩ đều tự bỏ thuyền lên bờ. Quân Lê qua sông, lấy được thuyền ghe khí giới không sao kể xiết. Thừa thắng đuổi dài đến cửa Nam Thành Thăng Long, đóng quan ở bến Sa Thảo, lấy được thuyền lớn thuyền nhỏ đến hàng nghìn chiếc.


Đêm ấy Mạc Mậu Hợp trốn về huyện Kim Thành trấn Hải Dương. Tổng tộc họ Mạc đều trốn, các tướng đầu hàng nối gót nhau ở cửa quân.


Trịnh Tùng truyền lênh cho các dinh đóng quan ở bến Sa Thảo, cấm ngăn quân lính không cho cướp bóc để dân được yên nghiệp. Về phía bắc sông Nhị, dân các phủ huyện Thuận An, Tam Đới, Thượng Hồng đều xin đầu hàng, Trịnh Tùng hạ lệnh vỗ yên. Đảng cướp ở Thái Nguyên là Liêm quận công cũng đem đồ đảng bản bộ 5.000 nười về hàng.


Ngày 25, Trịnh Tùng tiến quân đến xứ Hải Dương, đánh dẹp bè lũ họ Mạc. Hạ lệnh cho quân phàm đi qua đâu không được cướp bóc lương dân, hiếp dâm đàn bà con gái. Quân đều theo lệnh, nhân dân vui mừng mở cửa đón tiếp.


Khi đến huyện Phù Dung, đóng quân ở Liễu Kinh, sai Tả thủy dinh là Thái quận công Nguyễn Thất Lý, đốc bọn Tiền thủy dinh Định quận công Trần Bách Niên, Tả thủy quân dinh Mỹ quận công Bùi Văn Khuê và Đường quận công, Trực quận công cùng với các cơ Nội thủy 300 chiến thuyền đánh phá huyện Kim Thành.


Họ Mạc bỏ thuyền chạy trốn, quân trước quân sau không tiếp được nhau, bỏ hết cả thuyền ghe. Quân Lê thu được vàng bạc của cải không biết bao nhiêu mà kể. Dân Hải Dương tán loạn chạy trốn. Quân Lê bắt được thái hậu mẹ Mậu Hợp đem về. Đến bến Bồ Đề, thái hậu họ Mạc vì lo sợ mà chết.


 Mậu Hợp lập con là Toàn làm vương, sai coi sóc việc nước. Đổi niên hiệu là Vũ an năm đầu, rồi tự làm tướng đốc quân chống lại quân Lê.


Ngày mồng 3, Trịnh Tùng chia quân đánh phá tan bọn Mạc Kính Chỉ ở xã Tân Mỹ huyện Thanh Hà. Chém được đầu giặc và thu được 50 chiến thuyền cùng vô số ngựa và khí giới. Các phủ Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn, nhà cửa cung thất bị thiêu hủy gần hết.


Bấy giờ dư đảng của Mạc Mậu Hợp là Phổ quận công, Thùy quận công, Miện quận công, Lũng quận công, Nghĩa quận công và bọn Lại bộ thượng thư Phúc quận công Đỗ Uông, Lễ bộ thượng thư Hùng khê hầu Nhữ Tông, Công bộ thượng thư Đồng Hãng, Lại bộ tả thị lang Vĩnh sơn hầu Ngô Vĩ, Hộ bộ tả nhị lang Ngô Tạo, Đông các học sĩ Ngô Cung, Tự khanh Nguyễn Cận, Sơn nam thừa chính sứ Đàm Văn Tiết, Hải dương thừa chính sứ Phạm Như Dao, đều đến của quân hàng phục.


Trịnh Tùng sai tiến quân đến xã Tranh Giang huyện Vĩnh Lại đóng dinh vài ngày rồi về kinh.


Vốn quen lựa gió phất cờ nên khi thấy tình hình quân Mạc có vẻ nguy ngập, Đỗ Uông đã giấu hết số đinh điền trong nước vào một nơi kín đáo, chờ cơ hội đem nộp cho nhà Lê để lấy công. Đến nay, Đỗ uông mang tất cả sổ sách đến nộp, Trịnh Tùng mừng rỡ bèn xin vua phong cho Uông chức Hộ bộ thượng thư, tước Thông quận công.


Nghe tin này, Lương Hữu Khánh có ý không bằng lòng, nói riêng với Phùng Khắc Khoan:


-          Tôi theo Lê mấy chục năm trời trải bao công lao trận mạc, bày mưu lập kế mới được giữ chức Bình bộ thượng thư. Còn anh đến giờ mới lên đến chức Công bộ tả thị lang. Vậy mà Đỗ Uông là kẻ hàng thần chưa chi đã được cất nhắc lên hàng thượng thư ngang hàng với tôi, anh nghĩ xem như thế có công bằng hay không?


(còn tiếp)


Nguồn: Đất Thang mộc II – Sứ mệnh phù Lê. Tuyển tập Truyện Lịch sử của Hoài Anh, Quyển 7. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


 







([1]) Bắt giặc trước hãy bắt vua của chúng.




([2]) Năm 1592.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
xem thêm »